Trương Hán Siêu chưa rõ năm sinh, mất năm 1354 tự là Thăng Phủ, và là người huyện Yên Ninh, lộ Trường Yên. Ông là môn khách của Trần Quốc Tuấn và từng giữ nhiều chức quan trọng trong triều đình. Sau đó ông xin về quê cáo bệnh nhưng chưa đến kinh đô đã chết. Với học vấn uyên thâm Trương Hán Siêu đã viết một số bài thơ hay đặc sắc để đời. Hãy cùng tìm hiểu bạn nhé!

Bạch Đằng giang phú

白藤江賦

客有:
掛汗漫之風帆,
拾浩蕩之海月。
朝嘎舷兮沅湘,
暮幽探兮禹穴。
九江五湖,
三吳百粵。
人跡所至,
靡不經閱。
胸吞雲夢者數百而,
四方壯志猶闕如也。
乃舉楫兮中流,
縱子長之遠遊。
涉大灘口,
溯東潮頭。
抵白藤江,
是泛是浮。
接鯨波於無際,
蘸繇尾之相繆。
水天一色,
風景三秋。
渚获岸蘆,
瑟瑟颼颼。
折戟沉江,
枯骨盈丘。
慘然不樂,
佇立凝眸。
念豪傑之已往,
嘆蹤跡之空留。
江邊父老,
謂我何求。
或扶黎杖,
或棹孤舟。
揖余而言曰:
此重興二聖擒烏馬兒之戰地,
與昔時吳氏破劉弘操之故洲也。
當期:
舳艫千里,
旌旗旖旎。
貔貅六軍,
兵刃蜂起。
雌雄未決,
南北對壘。
日月昏兮無光,
天地凜兮將毀。
彼:
必烈之勢強,
劉龔之計詭。
自謂投鞭,
可掃南紀。
既而:
皇天助順,
凶徒披靡。
孟德赤壁之師談笑飛灰,
符堅合淝之陣須臾送死。
至今江流,
終不雪恥。
再造之功,
千古稱美。
雖然:
自有宇宙,
故有江山。
信天塹之設險,
賴人傑以奠安。
孟津之會鷹揚箬呂,
濰水之戰國士如韓。
惟此江之大捷,
猶大王之賊閒。
英風可想,
口碑不刊。
懷古人兮隕涕,
臨江流兮厚顏。
行且歌曰:
大江兮滾滾,
洪濤巨浪兮朝宗無盡。
仁人兮聞名,
匪人兮俱泯。
客從而賡歌曰:
二聖兮並明,
就此江兮洗甲兵。
胡塵不敢動兮,千古昇平。
信知:不在關河之險兮,
惟在懿德之莫京。

Bạch Đằng giang phú

Khách hữu:
Quải hạn mạn chi phong phàm,
Thập hạo đãng chi hải nguyệt.
Triêu dát huyền hề Nguyên, Tương,
Mộ u thám hề Vũ huyệt.
Cửu Giang, Ngũ Hồ,
Tam Ngô, Bách Việt.
Nhân tích sở chí,
Mị bất kinh duyệt.
Hung thôn Vân Mộng giả sổ bách nhi,
Tứ phương tráng chí do khuyết như dã.
Nãi cử tiếp hề trung lưu,
Túng Tử Trường chi viễn du.
Thiệp Đại Than khẩu,
Tố Đông Triều đầu.
Để Bạch Đằng giang,
Thị phiếm thị phù.
Tiếp kình ba ư vô tế,
Trám diêu vĩ chi tương mâu.
Thuỷ thiên nhất sắc,
Phong cảnh tam thu.
Chử địch ngạn lô,
Sắt sắt sâu sâu.
Chiết kích trầm giang,
Khô cốt doanh khâu.
Thảm nhiên bất lạc,
Trữ lập ngưng mâu.
Niệm hào kiệt chi dĩ vãng,
Thán tung tích chi không lưu.
Giang biên phụ lão,
Vị ngã hà cầu.
Hoặc phù lê trượng,
Hoặc trạo cô châu.
Ấp dư nhi ngôn viết:
“Thử Trùng Hưng nhị thánh cầm Ô Mã Nhi chi chiến địa,
Dữ tích thời Ngô thị phá Lưu Hoằng Thao chi cố châu dã.”
Đương kỳ:
Trục lô thiên lý,
Tinh kỳ ỷ nỉ.
Tỳ hưu lục quân,
Binh nhẫn phong khỉ.
Thư hùng vị quyết,
Nam Bắc đối luỹ.
Nhật nguyệt hôn hề vô quang,
Thiên địa lẫm hề tương huỷ.
Bỉ:
Tất Liệt chi thế cường,
Lưu Cung chi kế quỷ.
Tự vị đầu tiên,
Khả tảo Nam kỷ.
Ký nhi:
Hoàng thiên trợ thuận,
Hung đồ phi mỵ.
Mạnh Đức Xích Bích chi sư đàm tiếu phi hôi,
Bồ Kiên Hợp Phì chi trận tu du tống tử.
Chí kim giang lưu,
Chung bất tuyết sỉ.
Tái bạo chi công,
Thiên cổ xưng mỹ.
Tuy nhiên:
Tự hữu vũ trụ,
Cố hữu giang san.
Tín thiên tạm chi thiết hiểm,
Lại nhân kiệt dĩ điện an.
Mạnh Tân chi hội ưng dương nhược Lã,
Duy Thuỷ chi chiến quốc sĩ như Hàn.
Duy thử giang chi đại tiệp,
Do đại vương chi tặc nhàn.
Anh phong khả tưởng,
Khẩu bi bất san.
Hoài cổ nhân hề vẫn thế,
Lâm giang lưu hề hậu nhan.
Hành thả ca viết:
“Đại giang hề cổn cổn,
Hồng đào cự lãng hề triều tông vô tận.
Nhân nhân hề văn danh,
Phỉ nhân hề câu dẫn.”
Khách tòng nhi canh ca viết:
“Nhị thánh hề tịnh minh,
Tựu thử giang hề tẩy giáp binh.
Hồ trần bất cảm động hề, thiên cổ thăng bình.
Tín tri: bất tại quan hà chi hiểm hề,
Duy tại ý đức chi mạc kinh.”

Cố tích thần từ bi ký

古跡神祠碑記

石碑之立,以錄事跡,以徵功德云耳。

想初,天神王祠下,粵自雄王六世,朱鳶部雒將奉造乾巽向敬天臺,每歲初春,恭行奉天大禮。如有水旱災變,民間祈禱,輒靈應焉。逮夫先朝順天七年春,帝省覽山川,拜封當境城隍至明大王。厥後,歷代諸帝有修造。神祠,有封贈神敕。蕩蕩乎,巍巍乎,一等威靈矣。

仰今聖帝陛下,位儼九重,躬端萬化。為子孫長久之計,追思夙願,以顯神功。詔攽錢參百緡,特差修理。仰見工完,鳩集式示,規程此億萬年之功德也。有若是夫,且修文德以恢平治之功;以造神祠,以展敬誠之意。于以衍宗社無疆之福,乃編錄古今事跡詳勒于珉,以垂萬世。

謹拜手稽首而銘曰﹕
凜然靈廟,
赫赫天顏。
今來古往,
虎踞龍蟠。
精英萬紀,
輝耀兩間。
廟利假萃,
盥有孚觀。
積之歲久,
幾致苔蔓。
欽哉時命,
理作初完。
規模輪奐,
錦繡青丹。
維茲功德,
巋彼高山。
神之靈應,
國以尊安。
綿洪寶祚,
永奠石磐。
天地長久,
銘錄不刊。

時興隆二十年壬子冬十一月二十日

歷代加攽附記

順天七年春二月十五日,敕封當境城隍至明大王。
大定六年秋七月二十日,詔攽錢一百十五緡修造神祠。
天資嘉瑞四年三月十一日,敕封大王與列武廟國祭。
元豊二年十二月初八日,詔發錢五十緡,裝飭神祠。
興隆七年二月初六日,奉攽令例春祭錢,遞年參十貫,以申敬意。

敕當境城隍至明大王﹕精儲太一,德備陰陽。捍宦禦災,納民生於春壽;顯休錫福,奠國祚於泰磐。既多相佑之功,蓋舉褒揚之典。為功扶皇家長久,福護帝業綏休。陰助國王平定南陲,勦除逆命;擒獲逆俘名制至,收獲象馬器械銃磾。取勝萬全,奠安天下。收復山川一統,稔有靈應。可加封當境城隍至明大王,上列國祭及押衙公主陸妃娘同配祀。故敕。

興隆二十年六月十七日。
特差惠武王陳國瑱詔旨。
翰林學士張漢超奉編錄。

Cố tích thần từ bi ký

Thanh bi chi lập dĩ lục sự tích dĩ huy công đức vân nhĩ.

Tưởng sơ, thiên thần vương từ hạ Việt tự Hùng Vương lục thế Chu Diên bộ Lạc tướng phụng tạo (Càn Tốn hướng) Kính Thiên đài, mỗi tuế sơ xuân cung hành phụng thiên đại lễ. Như hữu thuỷ hãn hoả biến, dân gian kỳ đảo, triếp linh ứng yên. Phù tiên triều Thuận Thiên thất niên xuân, đế tỉnh lãm sơn xuyên, bái phong Đương cảnh thành hoàng Chí Minh đại vương. Quyết hậu, lịch đại chư đế hữu tu tạo thần từ, hữu phong tặng thần sắc. Đãng đãng hồ, nguy nguy hồ, nhất đẳng uy linh hĩ.

Ngưỡng kim thánh đế bệ hạ vị nghiễm cửu trùng cung đoan vạn hoá, vi tử tôn trường cửu chi kế, truy tư túc nguyện dĩ hiển thần công. Chiếu ban tiền tam bách mân đặc sai tu lý. Ký kiến công hoàn, cưu tập thức thị, quy trình thử ức vạn niên chi công đức dã. Hữu nhược thị phù, thả tu văn đức dĩ khôi bình trị chi công, hựu tạo thần từ dĩ triển kính thành chi ý. Vu dĩ diễn tông xã vô cương chi phúc, nãi biên lục cổ kim sự tích, tường lặc vu mân, dĩ thuỳ vạn thế.

Cẩn bái thủ khể thủ nhi minh viết:
Lẫm nhiên linh miếu,
Hách hách thiên nhan.
Kim lai cổ vãng,
Hổ cứ long bàn.
Tinh anh vạn kỷ,
Huy diệu lưỡng gian.
Miếu lợi cải cách,
Cái hiểu phù quan.
Tích chi tuế cửu,
Cổ chí đài man.
Khâm tai thời mệnh,
Lý tác sơ hoàn.
Quy mô luân hoán,
Cẩm tú thanh đan.
Duy tư công đức,
Quy bỉ cao san.
Thần chi linh ứng,
Quốc dĩ tôn an.
Miên hồng bảo tộ,
Vĩnh điện thạch bàn.
Thiên địa trường cửu,
Minh lục bất san.

Cúc hoa bách vịnh kỳ 1

菊花百詠其一
雨餘開圃移根種,
霜後巡籬摘蕊收。
莫道幽山閒懶散,
一年忙處是深秋。

Cúc hoa bách vịnh kỳ 1
Vũ dư khai phố di căn thực,
Sương hậu tuần ly trích nhị thu.
Mạc đạo u nhân nhàn lãn tán,
Nhất niên mang xứ thị thâm thu.

Dịch nghĩa
Mưa tạnh, mở cửa vườn đánh gốc trồng,
Sau khi sương xuống, dạo quanh giậu nhặt nhi hoa.
Chớ bảo người ở ẩn vốn lười nhác,
Lúc bận rộn nhất trong năm là cuối mùa thu.

Cúc hoa bách vịnh kỳ 2

菊花百詠其二
一秋多雨又多風,
豈意秋花尚滿叢。
應是天工憐冷落,
故留寒蕊伴衰翁。

Cúc hoa bách vịnh kỳ 2
Nhất thu đa vũ hựu đa phong,
Khởi ý thu hoa thượng mãn tùng.
Ưng thị thiên công liên lãnh lạc,
Cố lưu hàn nhị bạn suy ông.

Dịch nghĩa
Cả mùa thu nhiều mưa lại nhiều gió,
Đâu ngờ hoa thu vẫn đầy khóm.
Đúng là thợ trời thương kẻ quạnh hiu,
Nên dành lại loài hoa chịu được rét để làm bạn với ông già ốm yếu.

Cúc hoa bách vịnh kỳ 3

菊花百詠其三
重陽時節今朝是,
故國黃花開未開。
卻憶琴樽前日雅,
幾回搔首賦歸來。

Cúc hoa bách vịnh kỳ 3
Trùng dương thời tiết kim triêu thị,
Cố quốc hoàng hoa khai vị khai.
Khước ức cầm tôn tiền nhật nhã,
Kỷ hồi tao thủ phú quy lai.

Dịch nghĩa
Sáng nay là tiết trùng dương.
Không hiểu hoa vàng nơi quê cũ đã nở chưa?
Lại nhớ tới thú vui tao nhã uống rượu gảy đàn ngày trước,
Mấy lần gãi đầu làm bài thơ “quy lai”.

Cúc hoa bách vịnh kỳ 4

菊花百詠其四
去年今日有花多,
對客愁無酒可賒。
世事相違每如此,
今朝有酒卻無花。

Cúc hoa bách vịnh kỳ 4
Khứ niên kim nhật hữu hoa đa,
Ðối khách sầu vô tửu khả xa.
Thế sự tương vi mỗi như thử,
Kim triêu hữu tửu khước vô hoa.

Dịch nghĩa
Ngày nay năm ngoái hoa đang nở rộ,
Những buồn vì không có rượu để cùng khách thoả thuê.
Việc đời thường vẫn trái ngược nhau như thế,
Hôm nay có rượu lại không có hoa.

Trên đây là những bài thơ của Trương Hán Siêu hay đặc sắc mà chúng tôi đã chọn lọc và muốn giới thiệu với bạn. Thông qua bài viết này bạn sẽ hiểu thêm về phong cách sáng tác của nhà thơ này. Cũng như nắm được tư tưởng cốt lõi của ông thông qua cái nhìn thế sự ở đời. Đừng quên đón đọc những bài viết tiếp theo của chúng tôi để cùng cập nhật những bài thơ hay nhất bạn nhé!