Nguyễn Khuyến có các sáng tác thơ ca được đánh giá rất cao. Bên cạnh chùm thơ bằng chữ Hán ông còn có nhiều bài thơ Nôm hay và độc đáo. Năm 1871 ông đỗ Hội Nguyên và Đình Nguyên sau đó được gọi là Tam Nguyên Yên Đổ. Và ông dạy học và làm một số chức khác. Dưới đây là một số bài thơ chữ Nôm hay đặc sắc của Nguyễn Khuyến.

Kiều chơi tết thanh minh

Ví chẳng đua chơi hội đạp thanh,
Làm sao mang lấy nợ ba sinh.
Kẻ còn người khuất hai hàng lệ,
Trước lạ sau quen một chữ tình.
Nghĩ đến suối vàng thương phận đục,
Nỡ đem lá thắm phụ xuân xanh.
Trong khuôn tài sắc trời hay ghét,
Trăng gió xưa nay chẳng một mình.

Lấy Tây

Cái gái đời này, gái mới ngoan,
Quyết lòng ẩu chiến với Tây quan.
Ba vuông phất phới cờ bay dọc,
Một bức tung hoành váy xắn ngang.
Trời đất khéo thương chàng bạch quỷ,
Giang san riêng sướng ả hồng nhan.
Nghĩ càng thêm ngán trai thời loạn,
Cái gái đời này, gái mới ngoan!

Lên lão

Ông chẳng hay ông tuổi đã già,
Năm nay ông cũng lão đây mà.
Anh em, làng xóm xin mời cả,
Xôi bánh, trâu heo cũng gọi là.
Chú Đáo bên làng lên với tớ,
Ông Từ ngõ chợ lại cùng ta.
Bây giờ đến bậc ăn dưng nhỉ,
Có rượu thời ông chống gậy ra.

Lụt chèo thuyền đi chơi

Nhác mắt trông ra nước trắng bong,
Thuyền nan nhẹ nhẹ dạo chơi rong.
Tay chèo hứng gió chim bay mỏi,
Lưng mượn khung trăng cá vẫy vùng.
Bèo nổi lênh đênh đầu nội sạch,
Lúa chìm sâu thẳm cách đồng không.
Ai ơi lo nghĩ làm chi nhọc,
Quý Tị chơi tràn khỏi luống công.

Mắc tay Hoạn Thư [Hoạn Thư ghen]

Chị Hoạn ghen tuông cũng khác đời,
Cơ duyên lỏng lẻo buộc chân người.
Cánh buồm mặt bể vừa êm sóng,
Vó ký chân đèo bỗng đến nơi.
Con ở ngẩn ngơ nhìn mặt chủ,
Nhà thầy tưng hửng mất đồ chơi.
Ông trời rõ khéo chua cay nhỉ,
Một cuộc bày ra cũng nực cười.

Mậu Thân tự thọ [Cảm hứng; Đại thọ]

Năm nay tớ đã bảy mươi tư,
Rằng lão, rằng quan tớ cũng ừ.
Lúc hứng đánh thêm ba chén rượu,
Ngồi buồn ngâm láo mấy câu thơ.
Bạn già lớp trước nay còn mấy?
Chuyện cũ mười phần chín chẳng như.
Cũng muốn sống thêm dăm tuổi nữa,
Thử xem mãi mãi thế này ư?

Mẹ Mốc

So danh giá ai bằng mẹ Mốc,
Ngoài hình hài, gấm vóc, cũng thêm ra.
Tấm hồng nhan đem bôi lấm xoá nhoà,
Làm thế để cho qua mắt tục.
Ngoại mạo bất cầu như mỹ ngọc,
Tâm trung thường thủ tự kiên kim.
Nhớ chồng con muôn dặm xa tìm,
Giữ son sắt êm đềm một tiết.
Sạch như nước, trắng như ngà, trong như tuyết,
Mảnh gương trinh vằng vặc quyết không nhơ,
Đắp tai ngảnh mặt làm ngơ,
Rằng khôn cũng kệ, rằng khờ cũng thây.
Khôn em dễ bán dại này!

Mua quan tài

Ba vua bốn chúa bảy thằng con,
Thắm thoát xuân thu bảy chục tròn.
Ơn nước chưa đền danh cũng hổ,
Quan tài sẵn có chết thì chôn.
Giang hồ lang miếu trời đôi ngả,
Bị gậy cân đai đất một hòn.
Cũng muốn sống thêm mươi tuổi nữa,
Sợ ông Bành Tổ tống đồng môn.

Mục hạ vô nhân

Chúng anh đây mục hạ vô nhân
Nghe em nhan sắc lòng xuân anh não nùng.
Dù em má phấn chỉ hồng
Dửng dừng dưng anh chẳng thèm trông làm gì.
Lấy anh, anh cho đi trước để làm vì
Tay thì dắt díu tay thì quàng vai
Vén tay sờ chốn em ngồi,
Em thì chẳng thấy, anh thời thở than.
Bâng khuâng như mất lạng vàng,
Cái sênh, cái trống, cái đàn ai mang?
Ai ơi thương kẻ dở dang
Miệng ca tay gẩy khúc đàn tương tư.
Chẳng yêu chẳng nể chẳng vì
Cũng liều nhắm mắt bước đi cho đành.
Một duyên hai nợ ba tình
Chữ duyên chi vướng, mối tình ai mang?
Kẻo còn đi nhớ về thương.
Kẻo còn để mối tơ vương bên lòng.
Đôi ta chút nghĩa đèo bòng
Dẫu mòn con mắt, tấm lòng dám sai
Ngại ngùng những bước chông gai,
Trần gian nhỡn nhục nào ai biết gì.
Chữ tình là chữ chi chi,
Yêu nhau phải bảo đường đi lối về.
Đôi ta đã trót lời thề,
Gần xa dắt díu đi về có đôi.
Đến đâu người đứng ta ngồi
Khi đàn khi hát những người chung quanh.
Tới nơi những chốn thị thành
Đôi bên hàng phố đắp danh đón mời
Đố ai biết chốn chợ Trời,
Dẫu ta lên khoắng một người nàng Tiên.

Mừng anh vợ

Ấy năm sinh bác, cũng sinh tôi,
Số bác xem ra khác số tôi.
Cái nét hào hoa, tôi kém bác,
Con đường khoa hoạn, bác thua tôi.
Sự đời đã trải, tôi cùng bác,
Tuổi thọ còn dài, bác với tôi.
Tính tuổi xuân thu trăm lẻ chục,
Nửa phần về bác, nửa phần tôi.

Mừng đốc học Hà Nam [Di Hà Nội đốc học Liên Bạt Nguyễn Nhã Sĩ công]

Ông làm đốc học bấy lâu nay,
Gần đó mà tôi vẫn chửa hay.
Tóc bạc răng long chừng đã cụ,
Khăn thâm áo thụng cũng ra thầy.
Học trò kẻ chợ trầu dăm miếng,
Khảo khoá ngày xưa quyển một chầy.
Bổng lộc như ông không mấy nhỉ?
Ăn tiêu nhờ được chiếc lương Tây.

Mừng ông lão hàng thịt

Nay tiết mừng ông mới bảy mươi,
Cổ hy chưa dễ mấy lăm người.
Răng long nhưng hãy còn tinh mắt
Đầu bạc nhưng mà chửa tắc tai.
Bè bạn bày vai kèo chén Lý,
Cháu con dưới gối múa sân Lai.
Xưa nay vẫn giữ lòng chân thực
Chữ đức giả xương máu để đời.

Mừng ông nghè mới đỗ

Anh mừng cho chú đỗ ông nghè,
Chẳng đỗ thì trời cũng chẳng nghe.
Ân tứ dám đâu coi rẻ rúng,
Vinh quy ắt hẳn rước tùng xoè.
Rượu ngon ả nọ khôn đường tránh,
Hoãn đẹp nàng này khó nhẽ che.
Hiển quý đến nay đà mới rõ,
Rõ từ những lúc tổng chưa đe.

Ngán đời

Nghĩ đời mà cũng ngán cho đời
Câu cóp làm sao được với trời?
Chép miệng, lớn đầu to cái dại
Phờ râu, chịu đấm mất phần xôi
Được, thua, hơn, kém, lưng hồ rượu
Hay, dở, khen, chê, một trận cười
Dựa gối bên song toan hoá bướm
Gió thu lạnh lẽo, lá vông rơi

Nguyên đán ngẫu vịnh [Mừng con dựng được nhà; Tặng tử Hoan lạc thành tân gia; Ngẫu thành]

Nghĩ ta, ta cũng sướng ru mà,
Mừng thấy con ta dựng được nhà
Năm mới lệ thường thêm tuổi một,
Cỗ phe ngôi đã trốc bàn ba.
Rượu ngon đến bữa nghiêng bầu dốc,
Chữ “dại” đầu năm xổ túi ra.
Một khóm thuỷ tiên năm bảy cụm,
Xanh xanh như sắp thập thò hoa.

Nhân sinh thích chí

Nhân sinh ba vạn sáu nghìn ngày,
Thích chí cho nên lắm ngón hay;
Thơ Lý ngâm nga khi mở quyển,
Đàn Nha tình tính lúc lần dây.
Đem cờ vua Thích vui bè bạn,
Mượn chén ông Lưu học tỉnh say.
Bốn cảnh phong quang cùng tuế nguyệt,
Dưới đời tri kỷ mấy mươi tay?

Nhất vợ, nhì giời

Nghĩ truyện trần gian cũng nực cười!
Giời nào hơn vợ, vợ hơn giời?
Khôn đến mẹ mày là có một,
Khéo như con tạo cũng thời hai.
Giời dẫu yêu vì, nhưng có phận,
Vợ mà vụng dại, đếch ăn ai.
Cớ sao vợ lại hơn giời nhỉ?
Vợ chỉ hơn giời có cái trai!

Nước lụt Hà Nam

Nước lụt hỏi thăm bạn [Thăm bạn; Thăm quan Bùi Châu Cầu]

Quai Mễ Thanh Liêm đã lở rồi,
Vùng ta thôi cũng lụt mà thôi
Gạo dăm ba bát cơ còn kém,
Thuế một vài nguyên dáng vẫn đòi.
Tiếng sáo vo ve chiều nước vọng.
Chiếc thuyền len lỏi bóng trăng trôi.
Đi đâu cũng thấy người ta nói,
Mười chín năm nay lại cát bồi.

Ai lên nhắn hỏi bác Châu Cầu,
Lụt lội năm nay bác ở đâu?
Mấy ổ lợn con rày lớn, bé?
Vài gian nếp cái ngập nông, sâu?
Phân thua suy tính càng thêm thiệt,
Tuổi cả chơi bời hoạ sống lâu.
Em cũng chẳng no mà chẳng đói,
Thung thăng chiếc lá, rượu lưng bầu.

Ông phỗng đá bài 1

Ông đứng làm chi đó hỡi ông?
Trơ trơ như đá, vững như đồng.
Đêm ngày gìn giữ cho ai đó,
Non nước đầy vơi có biết không?

Ông phỗng đá bài 2 [Hỏi phỗng đá; Vịnh ông lão đá; Thạch lão nhân ca]

Mưỡu:
Người đâu tên họ là gì?
Khéo thay chích chích chi chi nực cười.
Vắt tay ngửa mặt lên trời,
Hẳn còn lo tính sự đời chi đây?

Hát nói:
Thấy phỗng đá lạ lùng muốn hỏi:
Cớ làm sao len lỏi đến chi đây?
Hay tưởng trông cây cỏ nước non này,
Chí cũng rắp dan tay vào hội lạc.
Thanh sơn tự tiếu đầu tương bạc,
Thương hải thuỳ tri ngã diệc âu.
Thôi cũng đừng chấp chuyện đâu đâu,
Túi vũ trụ mặc đàn sau gánh vác.
Duyên hội ngộ là duyên tuổi tác,
Chén chú, chén anh, chén tôi, chén bác.
Cuộc tỉnh say, say tỉnh một vài câu,
Nên chăng đá cũng gật đầu!

Phú đắc

Bà già đã bảy mươi tư,
Ngồi trong cửa sổ gửi thư lấy chồng.

Đã trót sinh ra kiếp má đào,
Bảy mươi tư tuổi có là bao ?
Xuân xanh xấp xỉ hàng răng rụng,
Ngày vắng ân cần mảnh giấy trao.
Chữ nhất nhi chung đành đã vậy,
Câu tam bất hiếu nữa làm sao ?
May mà chim được ông chồng trẻ,
Họa có sinh ra được chút nào ?

Phú ông đồ ngông

Bốn cóng kê giường;
Vài chồng cặp sách.
Cơm trắng canh ngon;
Ghế cao chiếu sạch.
Chữ thánh phù;
Câu thiên tích.
Chậu thau rửa mặt, tầm váo tầm vênh;
Điếu sứ long đờm, cóc ca cóc cách.
Thần Cầu Cậy xôi gà tuỳ thích, ông đã nên ông;
Bụt Nam Sơn oản tẻ chẳng từ, khách thời mặc khách.

Nguyên phù thầy đồ dã giả:
Râu ria nhẵn nhụi;
Mặt mũi ngông nghênh.
Văn pha “Nguyên mặc”;
Sách học “Quan hành”.
Chạy gạo chạy tiền, thất điên bát đảo;
Làm gà làm vịt, tứ đốm tam khoanh.
Số tử vi tuần triệt đương đầu, qua vòng vận hạn;
Đất văn học thần đồng phụ nhĩ, may bước công danh.

Nhiên nhi:
Mình lính tính quan;
Khôn nhà dại chợ.
Chơi đã hay ranh;
Cạnh còn mắc hớ.
Vài khoa thi hỏng xót ruột tiền cơm;
Mấy tháng công non, bấm gan thóc nợ.
Vách ông Khổng còn hòm khoa đẩu, mở một vài con;
Ngõ thầy Nhan treo túi đan biều, bảo dăm ba đứa.
Nón sơn úp ngực, đi liểu đi liều;
Bút thuỷ cài tai, sớn sơ sớn sở.
Nghĩ sểnh nhà ra thất nghiệp, cũng bật như cười;
E nằm mát ăn bát đầy, ai nuôi không hở?
Rằng:
Tôi nhà chủ, xin rước thầy ngồi.
Trầu nước đoạn, rượu chè rồi;
Bàn tiền đốn;
Tính cơm nuôi.
Chủ rằng đạo thánh là đạo rộng;
Thầy rằng tuỳ ông còn tuỳ tôi!
Mặt chữ điền vác hẳn lên trên, nết đâu có nết!
Chiếu hàm trượng vắt ngay ngồi giữa, ngôi đã nên ngôi.
Thầy đồ thầy lề;
Học trò học troẹt!
Nghịch như ma;
Đánh như két.
Bộ Sử đầu ;
Pho Dương tiết.
Mẹo hỏi lục kỳ;
Bài ra tam kiệt.
“Đô đô bình trượng ngã;
Thiết thiết phản nhân thiết.”
Chữ tứ thể lầm vài bốn lối, nét cứ như đanh;
Sách thập khoa quên đủ mười bài, văn trơ như thép.
Mô, tê, răng, rứa;
Giả, dã, chi, hồ.
Hoặc cầm roi nhi quát tháo;
Hoặc nghe sách nhi gật gù.
“Sừ tiên ban, sứ tiên cung”, bắt khoan bắt nhặt;
“Tiền diệc tặc, hậu diệc tặc”, tiếng nhỏ tiếng to.
Nước chè tầu uống một vài hơi, mặt cán tàn chi thẳng;
Thuốc lá tỉnh hút dăm ba điếu, đầu tán lọng chi rù.

Dĩ nhi:
Xem sách xem văn;
Chấm bài chấm đối.
Lên mặt thầy, sổ tựa băm bầu;
Bưng mắt chủ, khuyên như lòi tói.
Hạ bút xuống tô tô dạm dạm, mực trát đen sì;
Giở bài ra đọc đọc ngâm ngâm, son hoà đỏ chói.
Lương nguyệt đốn lại nài nhất đệ, bàn mỏng bàn dày;
Tiền hương khoa toan bổ đồng môn, thu chầy thu cối.

Dĩ nhi:
Khăn bỏ đầu rìu;
Quần xoay lá toạ.
Ôm bụng nằm mèo;
Nhe răng nói quạ.
Cầm quyển sách ngủ gà ngủ gật, đầu canh hai đã chực đi nằm;
Ra tiệc ngồi mắt trước mắt sau, cỗ bàn nhất lại toan đánh cả.
Cổ cò ngóng gái, “phụng thỉnh như lai”;
Tay vẹt vẽ bùa, “phó lô thiêu hoá”.
Cũng có lúc:
Việc làng việc họ;
Về cửa về nhà.
Bàn giang đởm;
Tính trù trà.
Thầy nài nẫm thêm dăm tiền nữa;
Chủ kèo cò đưa mấy đồng ra.
Ruột tượng thắt lưng, nguyên đồ khố rận;
Khăn tay giắt rốn, rặt giống cau già.
Cực nỗi người mặt nước chân mây, miếng cơm chểnh mảng;
Giở truyện chủ đầu cua tai muỗi, chén rượu khề khà.

Diệc hoặc:
Nhân khi nghỉ mát;
Nhẹ bước thanh nhàn.
Ả cuối ả đầu chi loại;
Tổ tôm tổ tép chi gian.
Bạch định, thập hồng, chèo đò Phó Duyệt;
Xuyên tâm, thượng mã, nổi trống Hà Nam.
Toét mắt được gì, đã lờ đờ như mất khố;
Cúi đầu về thẳng, diệc đủng đỉnh như tựu trường.
Đánh trống qua cửa nhà sấm;
Đem chuông đi đấm nước người.
Gắt như con khỉ;
Cười ngỡ đười ươi.
Rượu bứ cung thang, múa ba hoa chi mép;
Văn gàn bát sách, rung chữ ngũ chi đùi.

Tốt vậy thay!
Vị nghiễm hương sư;
Quyền long giáo dưỡng.
Dở lính dở quan;
Vừa thầy vừa tráng.
Ba chìm bảy nổi, ngông dại ngông càn;
Chín giận mười lành, nhớn nhơ nhớn nhác.
Chữ nghĩa sau;
Công nghĩa trước.
Há phải rằng là…;
Thôi thì bất nhược!

Gạt nước mắt khóc thầm cùng vũ trụ;
Trách trời xanh bạn với bút nghiên chi?
Hở hàm răng cười vụng với giang san;
Đem mặt trắng vẫy vùng son phấn nước!
Nỡ trừ công:
Nhất nhị như tam hề, thường tân nguyên đán;
Nhị tứ như bát hề, y phục công dung.
Thầy cậy khôn, một ly một tính;
Chủ sợ tốn, ba cọc ba đồng.
Võng đào khiêng chấm đất chi lưng, thực đài chửa chú?
Rượu cúc toét cù lì chi miệng, sao láo với ông?
Rõ ràng quốc sĩ;
Thực đấng anh hùng.
Phù khởi tích nhật chi đi dạy, học giả;
Diệc bất quá nhất anh đồ ngông, dã tai.

Viên tòng nhi ca chi viết:
Ê thầy đồ chi hữu tác hề.
Khướng chữ tốt nhi văn hay,
Truyện Thuý Kiều kỳ đọc ngược hề,
Kinh Tam tự kỳ biết ngay!
Thi nhân chính ư khuyên điểm hề,
Chấn thiên oai ư roi mây.
Ký lễ sinh chi phất nhược hề,
Thành kỳ mục chi nan tầy.
Hễ nhà chủ chi có nuôi hề
Tấc ngất ngưởng nhi vi thầy.
Hễ nhà chủ chi… đếch nuôi hề,
Rồi ông xem hộ chúng bay!…

Tặng bà Hậu Cẩm

Nghĩ xem đẹp nhất ở làng Và,
Tiếc gọi rằng già cũng chửa già
Làn sóng liếc ngang đôi mắt phượng
Tóc mây rủ xuống một đuôi gà.
Nói năng duyên dáng coi như thể…
Đi đứng khoan thai thế cũng là…
Nghe nói muốn thôi, thôi chửa được,
Được làm dơ dở đã thôi a?

Tặng cô đào Lựu

Ngày xưa Lựu muốn lấy ông,
Ông chê Lựu bé, Lưu không biết gì.
Bây giờ Lựu đã đến thời,
Ông muốn lấy Lựu, Lựu chê ông già
Ông già ông khác người ta,
Những cái nhi nhắt, ông ma bằng mười.

Trên đây là những bài thơ Nguyễn Khuyến viết bằng chữ Nôm rất hay và độc đáo. Qua các bài thơ này bạn sẽ hiểu thêm về phong cách sáng tác của nhà thơ này. Cũng như hiểu được tại sao ông lại là một nhà thơ nổi tiếng đến vậy. Đừng quên đón đọc các bài viết tiếp theo của chúng tôi để cùng cập nhật những bài thơ hay bạn nhé!