Thơ chữ Hán của Nguyễn Khuyến chính là một chùm thơ hay đặc sắc của nhà thơ này. Nó cũng làm nên tên tuổi của một nhà thơ và ghi lại được dấu ấn trong lòng người yêu thơ. được đánh giá là một nhà thơ gần gũi với nhân dân. Chính vì vậy những sáng tác thơ chữ Hán của Nguyễn Khuyến cũng sinh ra để nói lên những nguyện vọng của người dân.

Điệu quyên

吊鵑
惆悵東皇去未歸,
悲啼夜夜血沾衣。
此心已不問生死,
當日何修論是非。
苦節暗宜鶄衛石,
青風長對首陽葦。
啍聲驚起為君泣,
墻外紛紛蜂蝶飛。

Điệu quyên
Trù trướng đông hoàng khứ vị quy,
Bi đề dạ dạ huyết triêm y.
Thử tâm dĩ bất vấn sinh tử,
Đương nhật hà tu luận thị phi.
Khổ tiết ám nghi Tinh Vệ thạch,
Thanh phong trường đối Thú Dương vi.
Thôn thanh kinh khởi vị quân khấp,
Tường ngoại phân phân phong điệp phi.

Dịch nghĩa
Bùi ngùi về nỗi chúa xuân đi chưa về
Đêm đêm kêu gào thảm thiết máu chảy đầm áo
Lòng này đã không kể gì đến chuyện sống chết
Thì còn cần gì bàn đến lẽ phải trái lúc bầy giờ?
Tiết tháo bền bỉ tưởng chừng như viên đá của chim Tinh Vệ
Phong cách thanh cao sánh mãi với rau vi ở núi Thú Dương
Giật mình tỉnh dậy vì ngươi mà khóc nghẹn ngào
Đã thấy ở ngoài tường ong bướm dang bay rối rả

Độc dịch

讀易
冬日爭如夏日長,
南風還有北風涼。
自為可口鴟嗔鳳,
不盡機心雀捕螳。
海宇若開新世界,
民風應入古鴻荒。
清晨獨起觀周易,
消息盈虛未易詳。

Độc dịch
Đông nhật tranh như hạ nhật trường,
Nam phong hoàn hữu bắc phong lương.
Tự vi khả khẩu, si sân phượng,
Bất tận cơ tâm, tước bộ đường.
Hải vũ nhược khai tân thế giới,
Dân phong ưng nhập cổ hồng hoang.
Thanh thần độc khởi quan Chu Dịch,
Tiêu tức doanh hư vị dị tường.

Dịch nghĩa
Ngày mùa đông tranh dài bằng ngày mùa hè?
Gió nồm qua rồi lại đến gió bấc lạnh.
Cú gầm ghè phượng hoàng, tự cho là mình có miếng ngon,
Sẻ bắt bọ ngựa, cơ mưu ở đời không lường hết được.
Vũ trụ hình như mở ra một thế giới mới,
Dân phong tựa như trở lại đời hồng hoang.
Sáng sớm dậy, một mình xem kinh Chu Dịch,
Cái lẽ đầy, vơi, suy, thịnh, chưa dễ hiểu được.

Độc Kiếm Nam thi tập

讀劍南詩集
詩集行吟酒罋邊,
不勝嘆獎是翁賢。
高吟大醉三千首,
斷簡殘編五百年。
老病不為當世用,
文章猶有後人傳。
紹興卿相今何在,
月下沉吟一愴然。

Độc Kiếm Nam thi tập
Thi tập hành ngâm tửu úng biên,
Bất thanh thán tưởng thị ông hiền.
Cao ngâm đại tuý tam thiên thủ,
Đoạn giản tàn biên ngũ bách niên.
Lão bệnh bất vi đương thế dụng,
Văn chương do hữu hậu nhân truyền.
Thiệu Hưng khanh tướng kim hà tại,
Nguyệt hạ trầm ngâm nhất sảng nhiên.

Dịch nghĩa
Giở tập thơ ra đọc bên vò rượu
Không ngớt khen ngợi ông này tài giỏi
Ngâm tràn say khướt mà thành được ba nghìn bài
Tờ đứt quyển nát còn mãi đến năm trăm năm
Thân già yếu không được dùng ở thời bấy giờ
Nhưng văn chương của ông vẫn được người sau truyền tụng
Không biết khanh tướng đời Thiệu Hưng nay ở đâu
Ngồi trầm ngâm dưới bóng trăng chỉ ngậm ngùi thương xót.

Độc La Ngạn Đỗ đình nguyên từ Bắc phiên thư

讀羅岸杜庭元辭北幡書
讀過君書萬頃凌,
不知何以使人憎?
妍媸臧否非吾定,
憂樂榮枯自古曾。
尚有人心犀一點,
可無世局淚三昇。
病夫淺見只如此,
未果東溟有大鵬。

Độc La Ngạn Đỗ đình nguyên từ Bắc phiên thư
Độc quá quân thư vạn khoảnh lăng,
Bất tri hà dĩ sử nhân tăng?
Nghiên, xuy, tang, bĩ, phi ngô định,
Ưu, lạc, vinh, khô, tự cổ tằng.
Thượng hữu nhân tâm tê nhất điểm,
Khả vô thế cục lệ tam thăng.
Bệnh phu thiển kiến chỉ như thử,
Vị quả Đông minh hữu đại bằng.

Dịch nghĩa
Đọc xong bức thư của bác, lòng như có muôn vạn đợt sóng cuộn,
Chẳng biết tại sao lại khiến cho người ta ghét.
Tốt, xấu, hay, dở, chẳng phải do ta định,
Lo, vui, tươi, khô, từ xưa đã từng như thế.
Lòng người còn có một điểm thông suốt như sừng con tê,
Há không nhỏ ba thưng nước mắt đối với thế cuộc.
Ý kiến nông cạn của kẻ ốm yếu này chỉ như thế,
Chưa hẳn là biển Đông có chim đại bằng.

Độc thán

獨嘆
十年回首獨愁予,
世事人情漸不如。
同類相爭竹縛竹,
利心無厭魚吞魚。
可憐今日誰為梗,
所以前人欲廢書。
寄語城門相識者,
風塵滿路未歸歟。

Độc thán
Thập niên hồi thủ độc sầu dư,
Thế sự nhân tình tiệm bất như.
Đồng loại tương tranh trúc phược trúc,
Lợi tâm vô yếm ngư thôn ngư.
Khả liên kim nhật thuỳ vi ngạnh,
Sở dĩ tiền nhân dục phế thư.
Ký ngữ thành môn tương thức giả,
Phong trần mãn lộ vị quy dư.

Đối trướng phát khách

對帳發客
生熟文字格,
新春又發客。
一元至十元,
多少價平糴。
有客來買之,
只已乾榔百。
我文雖不佳,
豈不稱三陌。
客買價何廉,
不稱我不易。
持榔客且歸,
不售我不戚。
客去獨咨嗟,
文字何一厄。

Đối trướng phát khách
Sinh thục văn tự cách,
Tân xuân hựu phát khách.
Nhất nguyên chí thập nguyên,
Đa thiểu giá bình địch.
Hữu khách lai mãi chi,
Chỉ dĩ can lang bách.
Ngã văn tuy bất giai,
Khải bất xứng tam mạch.
Khách mãi giá hà liêm,
Bất xứng ngã bất dịch.
Trì lang khách thả quy,
Bất thụ ngã bất thích.
Khách khứ độc tư ta,
Văn tự nhất hà ách.

Dịch nghĩa
Một lối văn tự dở sống dở chín,
Mỗi lần năm mới đến lại đem ra bán.
Từ một đồng đến mười đồng,
Nhiều ít giá phải chăng.
Có khách đến mua câu đối,
Chỉ đưa một trăm miếng cau khô.
Văn của ta tuy chẳng hay,
Há lại không đáng ba tiền?
Khách mua sao trả rẻ thế?
Không đáng giá thì ta không bán.
Thôi khách hãy mang cau về,
Không bán được ta cũng không ngại.
Khách đi rồi ta than một mình:
“Văn chương chữ nghĩa mà cũng gặp vận ách đến thế!”

Đông chí

冬至
雲走風飛霜滿天,
光陰從此入新年。
春回舊徑鳥知未,
樹破新牙花欲燃。
壓悶日將醇酒酌,
畏寒夜抱火爐眠。
近來懶向西園上,
強起扶筇看水仙。

Đông chí
Vân tẩu phong phi sương mãn thiên,
Quang âm tòng thử nhập tân niên.
Xuân hồi cựu kính điểu tri vị,
Thụ phá tân nha hoa dục nhiên.
Áp muộn nhật tương thuần tửu chước,
Uý hàn dạ bão hoả lô miên.
Cận lai lãn hướng tây viên thượng,
Cưỡng khởi phù cung khán thuỷ tiên.

Dịch nghĩa
Mây chạy gió bay sương toả đầy trời
Quang cảng từ đấy bước sang năm mới
Xuân về lối cũ chim đã biết chưa?
Cây nẩy mầm non hoa sẽ đỏ như lửa cháy
Nén buồn ngày đem rượu ngọt ra uống
Sợ lạnh ban đêm ôm lồng ấp mà nằm
Gần đây lười không ra thăm vườn tây
Nay gượng đứng dậy chống gậy ra đó mà xem hoa thuỷ tiên

Giả sơn ngâm

假山吟
海上假山何處來?
聞之出自烏柏臺。
山石少時翁所砌,
山木少時翁所栽。
至今山木甚苯䔿,
至今山石俱莓苔。
翁之年以九十二,
日與此山將徘徊。
一朝雲間乘鶴去,
此山委翳乎蒿萊。
子孫欲向富家賣,
富家不嗜真可哀。
我自病回有一海,
有海每恨無山排。
忽然此山望望至,
排之睨視無不佳。
休翁之失休翁得,
山海運會亦奇哉!

Giả sơn ngâm
Hải thượng giả sơn hà xứ lai?
Văn chi xuất tự Ô Bách đài.
Sơn thạch thiếu thời ông sở xế,
Sơn mộc thiếu thời ông sở tài.
Chí kim sơn mộc thậm bổn tỗn,
Chí kim sơn thạch câu môi đài.
Ông chi niên dĩ cửu thập nhị,
Nhật dữ thử sơn tương bồi hồi.
Nhất triêu vân gian thừa hạc khứ,
Thử sơn uỷ ế hồ cao lai.
Tử tôn dục hướng phú gia mại,
Phú gia bất thị chân khả ai.
Ngã tự bệnh hồi hữu nhất hải,
Hữu hải mỗi hận vô sơn bài.
Hốt nhiên thử sơn vọng vọng chí,
Bài chi nghễ thị vô bất giai.
Hưu ông chi thất, hưu ông đắc,
Sơn hải vận hội diệc kỳ tai!

Dịch nghĩa
Hòn non bộ ở trên bể từ đâu mà đến?
Nghe nói từ tay một vị Ngự sử làm ra.
Đá núi ấy là do ông xây đắp từ lúc trẻ tuổi,
Cây núi ấy cũng do ông trồng từ buổi thiếu thời.
Đến nay cây núi đã tốt um,
Đến nay đá núi đã rêu đầy.
Ông đã chín mươi hai tuổi,
Vẫn hàng ngày quanh quẩn với núi này.
Một buổi kia ông cưỡi hạc đi rồi,
Núi này bị vứt bỏ trong đám cỏ rậm.
Con cháu ông toan bán cho nhà giàu,
Nhà giàu không thích, thật đáng thương.
Ta từ khi ốm về nghỉ vẫn có một cái bể,
Có bể nhưng vẫn hận vì không có núi bày.
Bỗng đâu núi này lù lù đến,
Bày vào bể ngắm xem cái gì cũng xinh.
Một ông già về hưu mất, thì một ông già về hưu khác được,
Vận hội núi bể cũng lạ kỳ thay!

Giác tự thần chung

覺寺晨鐘
煙深露重樹無風,
何處禪關送曉鐘。
餘嚮遙傳雲棟外,
寒聲半滯雪花中。
戍樓刁鬥三更靜,
紫陌塵埃一點空。
這裡惺惺還問主,
難將底意話僧翁。

Giác tự thần chung
Yên thâm lộ trọng thụ vô phong,
Hà xứ thiền quan tống hiểu chung.
Dư hưởng dao truyền vân đống ngoại,
Hàn thanh bán trệ tuyết hoa trung.
Thú lâu điêu đẩu tam canh tĩnh,
Tử mạch trần ai nhất điểm không.
Giá lý tinh tinh hoàn vấn chủ,
Nan tương để ý thoại tăng ông.

Dịch nghĩa
Móc dày khói nặng hàng cây lặng như tờ
Chùa Giác đâu đây đưa hồi chuông sớm đến
Xa xa nghe tiếng vọng từ bên kia đỉnh nóc sát mây
Lạnh lẽo từng hồi một nửa đọng trong hoa tuyết
Trên chòi canh nửa đêm tiếng điêu đẩu đã im bặt
Nơi dặm tía không còn một hạt bụi bay
Đến đây lòng kính cẩn vẫn muốn hỏi ai là chủ
Niềm tâm sự khôn đem bày tỏ với sư ông

Giáp giang

甲江
甲江重來路,
斜陽一棹輕。
群鷗入夜黑,
遠岫半空青。
風急驚魚挺,
沙深滯客程。
旅懹無杳處,
盡日海濤聲。

Giáp giang
Giáp giang trùng lai lộ,
Tà dương nhất trạo khinh.
Quần âu nhập dạ hắc,
Viễn tụ bán không thanh.
Phong cấp kinh ngư đĩnh,
Sa thâm trệ khách trình.
Lữ hoài vô liểu xứ,
Tận nhật hải đào thanh.

Dịch nghĩa
Đường lại qua sông Ghép lần nữa
Một mái chèo bơi nhẹ dưới bóng tà dương
Càng về tối đàn âu trông thành đen
Những ngọn núi xa xanh ngắt nhô lên lưng trời
Gió giật, thuyền đánh cá khiếp sợ
Cát nhiều làm chậm trễ chuyến hành trình của ta
Điều làm cho khách xa nhà buồn nhất
Là suốt ngày nghe sóng bể gầm

Giáp Thân trung thu ngụ Hà Nội hữu cảm ký đồng niên cử nhân Ngô (Kim Cổ nhân)

甲申中秋寓河內有感寄同年舉人吳(金鼓人)
十年此地此中秋,
城郭依依景已殊。
白燭紅燈迷遠近,
素冠青蓋雜誰吾。
蘇江有恨濤聲急,
濃嶺無情夜月孤。
夜禁近聞嚴肅甚,
詩翁曾憶舊遊不?

Giáp Thân trung thu ngụ Hà Nội hữu cảm ký đồng niên cử nhân Ngô (Kim Cổ nhân)
Thập niên thử địa, thử trung thu,
Thành quách y y cảnh dĩ thù.
Bạch chúc hồng đăng mê viễn cận,
Tố quan thanh cái tạp thuỳ ngô.
Tô giang hữu hận đào thanh cấp,
Nùng lĩnh vô tình dạ nguyệt cô.
Dạ cấm cận văn nghiêm túc thậm,
Thi ông tằng ức cựu du phầu?

Dịch nghĩa
Mười năm về trước ta ở nơi đây, cũng tết trung thu này,
Thành quách còn y nguyên, nhưng cảnh đã khác.
Nến trắng, đèn đỏ, lấp loáng như gần như xa,
Mũ trắng, dù xanh, lẫn lộn ta với người.
Sông Tô như giận, tiếng sóng vỗ dồn dập,
Núi Nùng vô tình, mảnh trăng đêm lẻ loi.
Lệnh cấm đi đêm, gần đây nghe nói gắt gao lắm,
Nhà thơ có còn nhớ cuộc chơi trước kia không?

Giới viên

芥園
坐前一芥園,
灌溉苦朝夕。
一個黃荄肥,
花頭盡為白。
一個花頭黃,
根下卻無核。
彼此莫相違,
吾與子共適。

Giới viên
Toạ tiền nhất cải viên,
Quán khái khổ triêu tịch.
Nhất cá hoàng cai phì,
Hoa đầu tận vi bạch.
Nhất cá hoa đầu hoàng,
Căn hạ khước vô hạch.
Bỉ thử mạc tương vi,
Ngô dữ tử cộng thích.

Dịch nghĩa
Trước chỗ ngồi trồng một vườn cải
Sớm hôm tưới tắm rất là khó nhọc
Một khóm thì củ vàng và mập mạp
Nhưng đầu hoa thì lại trắng phếch
Một khóm thì đầu hoa vàng
Nhưng dưới gốc lại không có củ
Hai bên không nên trái ý nhau
Ta cùng các ngươi đều được vừa ý

Hạ nhật

夏日
輕風嫩暑夏之初,
大醉狂吟獨有余。
巿婦承盤供熟荔,
佃翁發茍賣鮮魚。
宿醒乍起一聞雉,
舊句未忘頻撿書。
蓬蓽此間容老病,
棲棲塵路更何如?

Hạ nhật
Khinh phong nộn thử hạ chi sơ,
Đại tuý cuồng ngâm độc hữu dư.
Thị phụ thừa bàn cung thục lệ,
Điền ông phát cẩu mại tiên ngư.
Túc tinh sạ khởi nhất văn trĩ,
Cựu cú vị vong tần kiểm thư.
Bồng tất thử gian dung lão bệnh,
Thê thê trần lộ cánh hà như?

Hạ nhật hữu cảm

夏日有感
皇恩夤重感夤增,
許久南冠絕不能。
尚有人心犀一點,
可無世局淚三升。
始年志氣歸雙鬢,
末學文章入下層。
旅夢黃花白酒伴,
未應驚倦枕青燈。

Hạ nhật hữu cảm
Hoàng ân di trọng cảm di tăng,
Hứa cửu nam quan tuyệt bất năng.
Thượng hữu nhân tâm tê nhất điểm,
Khả vô thê cục lệ tam thăng.
Thuỷ niên chí khí quy song mấn,
Mạt học văn chương nhập hạ tằng.
Lữ mộng hoàng hoa bạch tửu bạn,
Vị ưng kinh quyện chẩm thanh đăng.

Dịch nghĩa
Ơn vua càng nặng thì cảm khích càng nhiều
Đã lâu nay đội mũ phương nam muốn dứt đi không được
Vì còn có một điểm lòng người như sừng tê thông suốt
Nên đối với thế cục không thể không ứa lệ đến ba thưng
Cái chí khí tuổi tre đã hao mòn đi cùng với hai mái tóc
Văn chương trong buổi học suy tàn đã rơi xuống bậc dưới
Giấc mộng hoa vàng nơi lữ thứ có rượu trắng gần gũi với mình
Chưa nên tỏ ra sợ sệt mệt mỏi gối đầu nằm trước ngọn đèn xanh

Hạ nhật hàn vũ

夏日寒雨
日落西風影未残,
雲陰何處鎖千山。
昨朝酷暑猶愁熱,
今夕凄風又怕寒。
新扇未知猶德色,
舊衾相對又慚顏。
由來箕畢人情異,
天道雖公處置難。

Hạ nhật hàn vũ
Nhật lạc tây phong ảnh vị tàn,
Vân âm hà xứ toả thiên san.
Tạc triêu khốc thử do sầu nhiệt,
Kim tịch thê phong hựu phạ hàn.
Tân phiến vị tri do đức sắc,
Cựu khâm tương đối hựu tàm nhan.
Do lai Cơ Tất nhân tình dị,
Thiên đạo tuy công xử trí nan.

Dịch nghĩa
Trước cửa sổ phía tây, mặt trời đã ngả nhưng bóng chưa tàn
Bóng mây từ nơi nào bỗng phủ kín ngàn núi
Hôm qua nắng dữ còn bực vì nóng
Chiều nay gió lạnh lại sợ rét rồi
Quạt mới chưa biết hãy còn lên mặt
Chăn cũ nhìn mình lại thấy thẹn thò
Xưa nay lòng người sở thích khác nhau như sao Cơ, sao Tất
Đạo trời dẫu công bằng cũng khó xử trí xong

Đọc thơ chữ Hán của Nguyễn Khuyến ta có thể cảm nhận được những sự rung động của con người trước cảnh quan thiên nhiên và những biến cố của lịch sử. Đó là những nỗi khổ cực của những con người lầm lũi. Chính vì vậy các sáng tác của ông rất dễ hiểu và gần gũi. Đừng quên đón đọc các bài viết tiếp theo của chúng tôi để cùng cập nhật những bài thơ hay độc đáo nhất bạn nhé!