Tuyển tập thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến hay đặc sắc phần 10



Thơ chữ Hán của Nguyễn Khuyến được đánh giá rất cao. Và đó cũng chính là lý do giúp ông có được vị trí cao trong lòng người hâm mộ. Đọc các bài thơ này ta cảm nhận dược sự tinh tế, bình dị với nhiều màu sắc khác nhau. Và cũng chính cái trật tự của Nho gia đã ăn sâu vào trong các sáng tác của ông. Đó cũng chính là cách thể hiện tình cảm và góc nhìn nhận của một nhân cách lớn.

Tự thuật kỳ 2

自述其二
吾年五十輒懸車,
國五元更歲五除。
雨後扶筇看老菊,
病中伏枕聽兒書。
筮初不用再三瀆,
事十何須八九如。
醉到復吟吟復醉,
偷閒吾亦愛吾廬。

Tự thuật kỳ 2
Ngô niên ngũ thập triếp huyền xa,
Quốc ngũ nguyên canh tuế ngũ trừ.
Vũ hậu phù cùng khan lão cúc,
Bệnh trung phục chẩm thính nhi thư.
Phệ sơ bất dụng tái tam độc,
Sự thập hà tu bát cửu như.
Tuý đáo phục ngâm ngâm phục tuý,
Thâu nhàn ngô diệc ái ngô lư.

Tức mục

即目
萬慮都歸劇醉中,
蘧然不覺引東風。
小園栽樹三分綠,
淺水浮雲太平空。
多病已應歸孟浩,
一時安敢附梁公。
鬅鬙白髮當何事,
也是生涯倚瘦筇。

Tức mục
Vạn lự đô quy kịch tuý trung,
Cừ nhiên bất giác dẫn đông phong.
Tiểu viên tài thụ tam phân lục,
Thiển thuỷ tuỳ viên thái bình không.
Đa bệnh dĩ ưng quy Mạnh Hạo,
Nhất thời an cảm phụ Lương Công.
Bằng tăng bạch phát đương hà sự,
Dã thị sinh nhai ỷ sấu cùng.

Dịch nghĩa
Muôn mối lo đều thu về trong cuộc say khướt
Chợt tỉnh dậy không ngờ có gió xuân đưa đến
Cây trong ở vườn nhỏ ba phần xanh biếc
Mây nổi trên nước cạn quá nửa tan đi
Nhiều bệnh nên lui về như Mạnh Hạo
Được một thời đâu đã dám nhận là dòng dõi của Lương Công
Tóc bạc bù xù biết làm việc gì
Cuộc sống chỉ còn việc chống chiếc gậy khẳng khiu

Tức sự

即事
獨坐北窗上,
日雨何淒淒。
寒多新穀晚,
雲重遠山低。
浸潤牆生耳,
瀠于酒到臍。
不知春色淡,
一鳥掠山西。

Tức sự
Độc toạ bắc song thượng,
Nhật vũ hà thê thê.
Hàn đa tân cốc vãn,
Vân trọng viễn sơn đê.
Tẩm nhuận tường sinh nhĩ,
Oanh vu tửu đáo tề.
Bất tri xuân sắc đạm,
Nhất điểu lược sơn tê (tây).

Dịch nghĩa
Ngồi một mình ở cửa sổ phía bắc,
Ngày nào cũng mưa, lạnh lẽo làm sao.
Rét nhiều nên lúa mới chín muộn,
Mây dầy núi xa như thấp xuống.
Nước mưa ngấm lâu, bức tường đã mọc tai,
Rượu uống vào quanh co xuống đến tận rốn.
Không biết màu xuân đã nhạt,
Một con chim bay vượt qua phía tây núi.

Tửu


天生飲食世皆然,
儀狄應為一小天。
堯舜以前無酒誥,
商周之後有賓筵。
若教麴蘗非佳品,
何以文章更別傳。
吾道至今蕭索葚,
攜壺獨此醉中仙。

Tửu
Thiên sinh ẩm thực thế giai nhiên,
Nghi Địch ưng vi nhất tiểu thiên.
Nghiêu Thuấn dĩ tiền vô Tửu cáo,
Thương Chu chi hậu hữu Tân diên.
Nhược giao khúc bách phi giai phẩm,
Hà dĩ văn chương cánh biệt truyền.
Ngô đạo chí kim tiêu tác thậm,
Huề hồ độc thử tuý trung tiên.

U sầu

Dục phế thi, thư học Lão, Trang
Tiền nhân y bát thượng nan vương
Bách niên chỉ thử vi tâm huyết
Nhất nhật an năng dịch thận trường
Phương kiến hoành diên đại khai tịch
Vị tri thiên địa bất hồng hoang
Dĩ tai ngô thả hành ngô tố
Tiêu tức doanh hu tử tế lường

Uý thạch lão ông

慰石老翁
案上書一卷,
筒上筆一把。
無絃琴一張,
無方藥一裹。
潤渴一瓶茶,
祛寒一爐火。
石盆一仙花,
土鉢一佛菓。
與我相為娛,
亦有石老者。
靜燥殊不同,
性情各相左。
石老無一好,
而我無不可。
我性懶好臥,
石老終日坐。
石老默不言,
而我好吟寫。
相俠無相猜,
神交信因果。
與化為往來,
安知子非我。

Uý thạch lão ông
Án thượng thư nhất quyển,
Đồng thượng bút nhất bả.
Vô huyền cầm nhất trương,
Vô phương dược nhất khoả.
Nhuận khát nhất bình trà,
Khư hàn nhất lô hoả.
Thạch bồn nhất tiên hoa,
Thổ bát nhất phật quả.
Dữ ngã tương vi ngu,
Diệc hữu thạch lão giả.
Tĩnh táo thù bất đồng,
Tính tình các tương tả.
Thạch lão vô nhất hiếu,
Nhi ngã vô bất khả.
Ngã tính lãn hiếu ngoạ,
Thạch lão chung nhật toạ.
Thạch lão mặc bất ngôn,
Nhi ngã hiếu ngâm tả.
Tương hiệp vô tương sai,
Thần giao tín nhân quả.
Dữ hoá vi vãng lai,
An tri tử phi ngã.

Dịch nghĩa
Trên bàn, một quyển sách,
Trong ống, một ngọn bút.
Một cây đàn không dây,
Một thang thuốc không đơn.
Giải khát, một bình trà,
Sưởi rét, một lò lửa.
Trong chậu đá, một nhành thuỷ tiên,
Trong bát sành, một quả phật thủ.
Cùng làm vui với ta,
Còn có cả ông lão đá.
Kẻ bình tĩnh, người nóng nảy không giống nhau,
Tính tình cũng trái ngược.
Lão đá chẳng thích gì,
Mà ta gì cũng thích.
Tính ta lười, thích nằm,
Mà lão đá thì ngồi suốt ngày.
Lão đá im lặng không nói,
Mà ta thì thích ngâm thơ và viết.
Thân thiết nhau, chẳng nghi ngờ nhau,
Bạn thần giao chắc có nhân quả.
Cùng đi lại trong cõi hoá,
Biết đâu ngươi không phải là ta

Ức gia nhi

憶家兒
東窗雨後覺微寒,
縱飲狂歌興未闌。
法密不聞蛙鼓禁,
賦煩猶幸醉鄉寬。
古今風會知胡底,
王伯功名若等閒。
屈指吾兒上京路,
今朝當是過橫山。

Ức gia nhi
Đông song vũ hậu giác vi hàn,
Túng ẩm cuồng ca hững vị lan.
Pháp mật bất văn oa cổ cấm,
Phú phiền do hạnh tuý hương khoan.
Cổ kim phong hội tri hồ để,
Vương bá công danh nhược đẳng nhàn.
Khuất chỉ ngô nhi thượng kinh lộ,
Kim triêu đương sự quá Hoành san.

Dịch nghĩa
Mưa ngớt ngồi cửa sổ phía đồng thấy lành lạnh
Uống bừa ngâm tràn hứng thú vẫn chưa cạn
Pháp luật tuy nghiêm mật vẫn chưa nghe nói cấm trống ếch
Thuế tuy nhiều thứ may còn khoan hoãn cho làng say
Xưa nay phong hội thay đổi mãi biết đến đâu là cùng?
Công danh dù làm đến bậc vương bá cũng chỉ là việc thường
Bẫm đốt tính đường con ta vào kinh
Sáng nay có lẽ đã qua đèo ngang rồi

Ức Long Đội sơn kỳ 1

憶龍隊山其一
二十年前訪上方,
此時景色未相忘。
半空靜梵搖星日,
歷代殘碑證海桑。
平野千村三面合,
空山萬佛一僧藏。
至今猶憶長江急,
日夜奔濤亦到洋。

Ức Long Đội sơn kỳ 1
Nhị thập niên tiền phỏng thượng phương,
Thử thời cảnh sắc vị tương vương.
Bán không tĩnh phạn dao tinh nhật,
Lịch đại tàn bi chứng hải tang.
Bình dã thiên thôn tam diện hợp,
Không sơn vạn Phật nhất tăng tàng.
Chí kim do ức trường giang cấp,
Nhật dạ bôn đào diệc đáo dương.

Dịch nghĩa
Trước đây hai mươi năm, đã từng lên thăm cảnh Phật,
Cảnh sắc lúc ấy nay vẫn chưa quên.
Chùa vắng ở lưng chừng trời, lấp lánh những vì tinh tú,
Bia tàn trải bao triều đại, làm chứng cho cuộc bể dâu.
Nghìn thôn nơi đồng bằng, ba mặt chầu lại,
Muôn vị Phật trên núi vắng, ẩn náu một nhà sư.
Đến nay lòng còn ngậm ngùi về sông dài chảy xiết,
Đêm ngày cuồn cuộn rồi cũng tuôn về bể.

Ức Long Đội sơn kỳ 2

憶龍隊山其二
近來衰病不參禪,
回憶前遊亦愴然。
古寺四鄰唯木石,
寒僧一榻共雲煙。
幾層竹影疑無路,
有客桑間立待船。
野老未知鐘響午,
放牛山麓臥松眠。

Ức Long Đội sơn kỳ 2
Cận lai suy bệnh bất tham thiền,
Hồi ức tiền du diệc sảng nhiên.
Cổ tự tứ lân duy mộc thạch,
Hàn tăng nhất tháp cộng vân yên.
Kỷ tằng trúc ảnh nghi vô lộ,
Hữu khách tang gian lập đãi thuyền.
Dã lão vị tri chung hưởng ngọ,
Phóng ngư sơn lộc ngoạ tùng miên.

Dịch nghĩa
Ít lâu nay đau yếu không lên thăm cảnh chùa,
Nhớ lại cuộc chơi trước, lòng cũng bùi ngùi.
Chùa cổ bốn bên chỉ có cây và đá,
Sư nghèo một giường cùng khói với mây.
Mấy tầng bóng tre, tưởng như không có lối đi,
Giữa bãi dâu, khách đứng đợi thuyền.
Ông già quê chưa biết chuông trưa đã đổ,
Thả trâu bên sườn non, nằm ngủ dưới gốc thông.

Ưu phụ từ

優婦詞
東鄰家有優人住,
夜半優人語優婦:
我亦時常做好官,
如何人皆不我懼?
優婦大怒罵其夫:
爾年既老何大愚。
幸哉昏暮人不識,
人或識之貽妾羞。
世間驚人但有二:
一能生人一能死。
爾既不能生子人,
如何人人皆懼爾。
且也爾家本貧寒,
朝夕排優求一餐。
排優君將且不懼,
何況爾為排優官。

Ưu phụ từ
Đông lân gia hữu ưu nhân trú,
Dạ bán ưu nhân ngữ ưu phụ:
“Ngã diệc thời thường tố hảo quan,
Như hà nhân giai bất ngã cụ?”
Ưu phụ đại nộ mạ kỳ phu:
“Nhĩ niên ký lão hà đại ngu!
Hạnh tai hôn mộ nhân bất thức,
Nhân hoặc thức chi di thiếp tu.
Thế gian kinh nhân đãn hữu nhị:
Nhất năng sinh nhân, nhất năng tử.
Nhĩ ký bất năng sinh tử nhân,
Như hà nhân nhân giai cụ nhĩ.
Thả dã nhĩ gia bản bần hàn,
Triêu tịch bài ưu cầu nhất xan.
Bài ưu quân tướng thả bất cụ,
Hà huống nhĩ vi bài ưu quan.”

Dịch nghĩa
Nhà láng giềng bên đông có anh phường chèo ở trọ,
Nửa đêm, anh ta bảo vợ rằng:
“Ta cũng thường hay làm quan to,
Tại sao người đời chẳng ai sợ ta?”
Vợ người phường chèo nổi giận mắng chồng:
“Anh già đời rồi mà sao ngu đến thế!
May mà đang đêm hôm không ai biết,
Nếu có người biết thì thiếp cũng xấu hổ lây.
Ở đời có hai hạng người khiến ai cũng sợ:
Một có thể cho người ta được sống, một có thể bắt người ta phải chết.
Anh đã không thể cho được người ta sống hoặc bắt người ta phải chết,
Thì việc gì mọi người phải sợ anh?
Vả nhà anh vốn đói rét,
Sớm chiều hát chèo kiếm bữa ăn!
Vua phường chèo người ta còn chẳng sợ,
Huống nữa là quan phường chèo như anh”.

Vãn đồng niên Vân Đình tiến sĩ Dương thượng thư

輓同年雲亭進士楊尚書
已矣楊大年,
雲樹心懸懸。
回憶登科後,
與君晨夕聯。
相敬且相愛,
遭逢如夙緣。
有時出京路,
空山聞落泉。
有時上高閣,
歌兒鳴素絃。
有時對君飲,
大白浮八延。
有時與論文,
東壁羅簡編。
厄運逢陽九,
斗升非貪天。
予老公亦老,
解組歸田圓。
往來不數得,
一遇三年前。
執手問衰健,
語言殊未愆。
公年少予歲,
予病疑公先。
忽聞公訃至,
驚起皇皇然。
予豈不厭世,
而公爭上仙。
有酒為誰買,
不買非無錢。
有詩為誰寫,
不寫為無箋。
陳蕃榻不下,
伯牙琴亦然。
公既棄予去,
予亦不公憐。
老人哭無淚,
河必強而漣。

Vãn đồng niên Vân Đình tiến sĩ Dương thượng thư
Dĩ hĩ Dương đại niên,
Vân thụ tâm huyền huyền.
Hồi ức đăng khoa hậu,
Dữ quân thần tịch liên.
Tương kính thả tương ái,
Tao phùng như túc duyên.
Hữu thời xuất kinh lộ,
Không san văn lạc tuyền.
Hữu thời thượng cao các,
Ca nhi minh tố huyền.
Hữu thời đối quân ẩm,
Đại bạch phù bát duyên.
Hữu thời dữ luận văn,
Đông bích la giản biên.
Ách vận phùng dương cửu,
Đấu thăng phi tham thiên.
Dư lão công diệc lão,
Giải tổ quy điền viên.
Vãng lai bất sổ đắc,
Nhất ngộ tam niên tiền.
Chấp thủ vấn suy kiện,
Ngữ ngôn thù vị khiên.
Công niên thiểu dư tuế,
Dư bệnh nghi công tiên.
Hốt văn công phó chí,
Kinh khởi hoàng hoàng nhiên.
Dư khởi bất yếm thế,
Nhi công tranh thượng tiên.
Hữu tửu vi thuỳ mãi,
Bất mãi phi vô tiền.
Hữu thi vi thuỳ tả,
Bất tả vi vô tiên.
Trần Phồn tháp bất hạ,
Bá Nha cầm diệc nhiên.
Công ký khí dư khứ,
Dư diệc bất công liên.
Lão nhân khốc vô lệ,
Hà tất cưỡng nhi liên.

Dịch nghĩa
Thôi thôi bác Dương đã mất rồi,
Mây chiều cây xuân, tình bạn bè nhớ nhau không dứt.
Nhớ lại sau khi thi đỗ,
Sớm tối luôn cùng nhau.
Kính trọng nhau, yêu mến nhau,
Cuộc gặp gỡ như có duyên trời định sẵn.
Có lúc cùng nhau trên con đường lên kinh đô,
Nghe tiếng suối đổ trong núi vắng.
Có lúc cùng nhau lên gác cao,
Nghe con hát gảy đàn.
Có lúc cùng nhau uống rượu,
Chén đại bạch tràn trề tám phương.
Có lúc cùng nhau bàn văn,
Phủ đông bích bày đầy sách vở.
Vận rủi ro gặp hội dương cửu,
Không tham thưng đấu lộc trời.
Tôi đã già, bác cũng đã già,
Cởi dây ấn về với vườn ruộng.
Không qua lại với nhau luôn được,
Lần gặp trước cách đã ba năm.
Cầm tay hỏi thăm khoẻ hay yếu,
Thấy bác nói năng vẫn chưa lẫn cẫn.
Bác ít tuổi hơn tôi,
Mà dường như tôi lại ốm trước bác.
Chợt nghe tin bác qua đời,
Tôi giật mình xiết bao kinh hoàng!
Tôi đâu phải không chán đời,
Mà bác vội tranh lên cõi tiên trước!
Có rượu, mua uống cùng ai?
Không mua, không phải vì không có tiền.
Có thơ, viết cho ai?
Không viết, không phải vì không có giấy
Giường Trần Phồn không hạ xuống,
Đàn Bá Nha cũng đem đốt.
Bác đã bỏ tôi mà đi,
Tôi cũng không thương bác nữa.
Người già khóc không ra nước mắt,
Can chi mà cố gượng cho giàn giụa.

Vãn thiếp Phạm thị

Ai ai nhĩ Phạm ky
Tòng ngã kim thất kỳ
Tu du khí ngã khứ
Kiết nhiên vô nhất di
Tuy nhiên hữu thành hiệu
Mang mang bất khả kỳ
Bằng viễn phương huyền thụ
Đương thì mạc chi tri
Hà dĩ nhất tử hậu
Bích thảo sinh tân tỳ
Thẩn nhĩ thị phụ nhân
Phủ nhương vô sở ti (tư)
Phấn thân hiệu cân quắc
Thức mục vô tu my
Thế đạo hữu như thử
Nhĩ tân lương bất khi
Khốc tử phi vi sinh
Khẳng khái hứng tửu chi
Phi phi thất tịch vũ
Hoà lệ vi tân thi

Văn


我醉方求睡,
聚蚊呼我起。
舉扇驅復來,
刺刺入人耳。
我肉爾何甘,
我肌爾何嗜。
我枕爾何仇,
我衾爾何忌。
爾我不相干,
相厄胡乃爾。

Văn
Ngã tuý phương cầu thuỵ,
Tụ văn hô ngã khởi.
Cử phiến khu phục lai,
Thích thích nhập nhân nhĩ.
Ngã nhục nhĩ hà cam,
Ngã cơ nhĩ hà thị.
Ngã chẩm nhĩ hà cừu,
Ngã khâm nhĩ hà kỵ.
Nhĩ ngã bất tương can,
Tương ách hồ nãi nhĩ.

Dịch nghĩa
Ta say đang buồn ngủ
Lũ muỗi gọi ta dậy
Ta giưo quạt xua đi rồi chúng lại đến
Cứ nhoi nhói vào tay người ta
“Sao mày thích thịt ta thế?
Sao mày ham da tao thế?
Sao mày thù gối ta thế?
Sao mày ghét chăn ta thế?
Mày với ta chẳng liên can gì với nhau
Sao mà bắt chẹt nhau như vậy?

Văn Tống quận công phó hữu cảm

聞宋郡公訃有感
器業誰如宋郡公,
衣冠此去更成空。
伊周管葛千秋後,
漢楚隨唐一夢中。
若使九京皆可作,
未知當世孰為雄。
可憐世態炎涼甚,
枯竹祠前幾鞠躬。

Văn Tống quận công phó hữu cảm
Khí nghiệp thuỳ như Tống quận công,
Y quan thử khứ cánh thành không.
Y Chu Quản Cát thiên thu hậu,
Hán Sở Tuỳ Đường nhất mộng trung.
Nhược sử cửu kinh giai khả tác,
Vị tri đương thế thục vi hùng.
Khả liên thế thái viêm lương thậm,
Khô trúc từ tiền kỷ cúc cung.

Dịch nghĩa
Tài năng sự nghiệp ai bằng Tống quận công
Áo mũ chuyến này thôi thế là hết chuyện
Ai là Y Chu Quản Cát còn có ngàn thu sau
Kìa Hán Sở Tuỳ Đường cũng thoáng qua như giấc mộng
Nếu người chín suối đều có thể sống lại
Thì chưa biết trong buổi này ai đã hơn ai!
Đáng thương thói đời nóng lạnh thay đổi chóng
Trước đền “tre khô” nay còn mấy kẻ khom lưng nữa

Vịnh cúc kỳ 1

詠菊其一
春前桃李漫紛紛,
垢葉蒼莖了不聞。
苦節若為安素分,
窮秋然後見清芬。
暗憐老圃應如是,
獨立西風孰與群。
高潔貞心非易得,
陶潛歸去始知君。

Vịnh cúc kỳ 1
Xuân tiền đào lý mạn phân phân,
Cấu diệp thương hành liễu bất văn.
Khổ tiết nhược vi an tố phận,
Cùng thu nhiên hậu kiến thanh phân.
Ám liên lão phố ưng như thị,
Độc lập tây phong thục dữ quần.
Cao khiết trinh tâm phi dị đắc,
Đào Tiềm quy khứ thuỷ tri quân.

Vịnh cúc kỳ 2

詠菊其二
百花開時尒未開,
百花落盡尒方來。
獨當寒歲誰為偶,
不落芳心真可哀。
籬畔參差半綠竹,
窗前嬝娜新紅梅。
啣杯坐看一微笑,
不負休翁昔日栽。

Vịnh cúc kỳ 2
Bách hoa khai thì nhĩ vị khai,
Bách hoa lạc tận nhĩ phương lai.
Độc đương hàn tuế thuỳ vi ngẫu,
Bất lạc phương tâm chân khả ai.
Ly bạn sâm si bán lục trúc,
Song tiền niệu na tân hồng mai.
Hàm bôi toạ khán nhất vi tiếu,
Bất phụ hưu ông tích nhật tài.

Vịnh mai

詠菊其二
百花開時尒未開,
百花落盡尒方來。
獨當寒歲誰為偶,
不落芳心真可哀。
籬畔參差半綠竹,
窗前嬝娜新紅梅。
啣杯坐看一微笑,
不負休翁昔日栽。

Vịnh cúc kỳ 2
Bách hoa khai thì nhĩ vị khai,
Bách hoa lạc tận nhĩ phương lai.
Độc đương hàn tuế thuỳ vi ngẫu,
Bất lạc phương tâm chân khả ai.
Ly bạn sâm si bán lục trúc,
Song tiền niệu na tân hồng mai.
Hàm bôi toạ khán nhất vi tiếu,
Bất phụ hưu ông tích nhật tài.

Tên đây là cá bài thơ chữ Hán của Nguyễn Khuyến hay mà chúng tôi muốn chia sẻ với bạn. Thông qua các bài thơ này bạn sẽ hiểu thêm về phong cách sáng tác của nhà thơ. Đặc biệt chính là giá trị nhân bản đã được thể hiện sâu sắc trong thơ của ông. Tất cả tạo thành một phong cách thơ rất độc đáo của Tam nguyên Yên Đỗ. Đừng quên đón đọc những bài viết tiếp theo của chúng tôi để cùng cập nhật những bài thơ hay nhất bạn nhé!

 

so1vn - Tags: