Thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến được đánh giá rất cao trong kho tàng các tác phẩm thơ ca của ông. Bộ phận thơ ca này đa phần được viết trong những năm tháng ông làm quan. Tuy nhiên thời kỳ Nguyễn Khuyến làm quan cũng chính là lúc nước mất nhà tan, cơ đồ của nhà Nguyễn gần như sụp đổ. Chính vì vậy bộ phận thơ ca này cũng được phần nào thể hiện thông qua các sáng tác của ông.

Ái quất

愛橘
愛菊與愛蓮,
古者愛非一。
余性素兼愛,
晚年獨愛橘。
愛為辛不烈,
愛為酸不栗。
愛為苦非膽,
愛為甘非蜜。
既可悅人口,
又可療人疾。
不與競芳菲,
不與爭薈鬱。
小園寔易安,
隆冬豈能屈。
君子哉若人,
碌碌少儔匹。

Ái quất
Ái cúc dữ ái liên,
Cổ giả ái phi nhất.
Dư tính tố kiêm ái,
Vãn niên độc ái quất.
Ái vị tân bất liệt,
Ái vị toan bất lật.
Ái vị khổ phi đảm,
Ái vị cam phi mật.
Ký khả duyệt nhân khẩu,
Hựu khả liệu nhân tật.
Bất dữ cạnh phương phi,
Bất dữ tranh oái uất.
Tiểu viên tẩm dị an,
Long đông khởi năng khuất.
Quân tử tai nhược nhân,
Lục lục thiểu trù thất.

Dịch nghĩa
Kẻ yêu cúc người yêu sen
Người xưa yêu mối người một thứ
Tình ta vốn yêu rộng
Đến tuổi già chỉ yêu quất thôi
Yêu vì cay mà cay không xé lưỡi
Yêu vì chua mà không chua ghê người
Yêu vì đắng mà không như mật đắng
Yêu ngọt mà không như mật ngọt
Đã làm cho người ngon miệng
Lại chữa cho người khỏi bệnh
Không đua thơm với ai
Không tranh tốt với ai
Chốn vườn nhỏ dễ yên thân
Mùa đông rét không khuất phục được
Quân tử thay gã này
Bọn tầm thường ít kẻ sánh kịp

Bài muộn kỳ 1

排悶其一
南山遠遠曉雷鳴,
似向人間訴不平。
一出電光天有瞬,
纔過風信竹無聲。
坌間鼠祖嗔濃淡,
野外鳩夫妒雨晴。
持酒隔籬對鄰叟,
何妨嘖嘖話桑耕。

Bài muộn kỳ 1
Nam sơn viễn viễn hiểu lôi minh,
Tự hướng nhân gian tố bất bình.
Nhất xuất điện quang thiên hữu thuấn,
Tài qua phong tín trúc vô thanh.
Bộn gian thử tổ sân nùng đạm,
Dã ngoại cưu phu đố vũ tình.
Trì tửu cách ly đối lân tẩu,
Hà phương sách sách thoại tang canh.

Bài muộn kỳ 2

排悶其二
五十衰翁白髮新,
不堪憂病且憂貧。
花軒月影知非客,
竹徑風聲疑有人。
一枕黃粱真亦夢,
千年去鶴我何身。
坐看即羨扇中老,
倚澍啣杯不計春。

Bài muộn kỳ 2
Ngũ thập suy ông bạch phát tân,
Bất kham ưu bệnh thả ưu bần.
Hoa hiên nguyệt ảnh tri phi khách,
Trúc kính phong thanh nghi hữu nhân.
Nhất chẩm hoàng lương chân diệc mộng,
Thiên niên khứ hạc ngã hà thân.
Toạ khan tức tiện phiến trung lão,
Ỷ chú hàm bôi bất kế xuân.

Dịch nghĩa
Tuổi năm mươi đã già yếu tóc bắt đầu điểm bạc
Chỉ lo ốm lại lo nghèo khó lòng chịu nổi
Thấy bóng trăng ở giàn hoa biết rằng không phải khách
Nghe tiếng gió ở hàng tre ngờ là có người
Một giấc kê vàng sự thật cũng chẳng qua là mộng
Nghìn năm hoá hạc bay đi thân ta sẽ là thân nào?
Ngồi nhìn lại thích cái ông già vẽ ở trong quạt
Chỉ tựa cây nâng chén không tính bao nhiêu mùa xuân

Bệnh trung

病中
閒時吾自看今吾,
六十餘年一仗夫。
皮骨老來寒暑異,
衡茅病久性情孤。
那堪風雨心為轉,
曾睹江河勢漸趨。
歲月侵尋如昨夢,
醒時痕跡了然無。

Bệnh trung
Nhàn thời ngô tự khan kim ngô,
Lục thập dư niên nhất trượng phu.
Bì cốt lão lai hàn thử dị,
Hành mao bệnh cửu tính tình cô.
Na kham phong vũ tâm vi chuyển,
Tằng đổ giang hà thế tiệm xu.
Tuế nguyệt xâm tầm như tạc mộng,
Tỉnh thời ngân tích liễu nhiên vô.

Dịch nghĩa
Lúc rỗi ta nhìn lại cái thân ta ngày nay
Một đấng trượng phu ngoài sáu mươi tuổi
Xương da về già mỗi khi thời tiết thay đổi lại thấy khác
Ở nơi nhà tranh cổng chống, ốm lâu nên tính tình trở thành cô quạnh
Chịu sao nổi gió mưa dầu dãi, tâm bị sai khiến
Đã từng thấy sông nước có chiều hướng ngày một đổ xuôi
Năm tháng trôi qua chẳng khác gì giấc mộng đêm trước
Khi tỉnh dậy lâng lâng không có dấu vết gì

Bùi viên cựu trạch ca [Bùi viên ca]

裴園舊宅歌【裴園歌】
裴園吾舊宅,
四十年今日賦歸來。
松松菊菊梅梅,
飄然有丘壑林泉之逸趣。
彭澤素琴吟舊句,
溫公尊酒樂餘春。
東風回首淚沾巾,
渺茫際滄海桑田經幾度。
君莫嘆魯侯之不過,
鬅鬙白髮復何為?
歸去來兮胡不歸!

Bùi viên cựu trạch ca [Bùi viên ca] Bùi Viên ngô cựu trạch,
Tứ thập niên kim nhật phú quy lai.
Tùng tùng, cúc cúc, mai mai,
Phiêu nhiên hữu khâu, hác, lâm, tuyền chi dật thú.
Bành Trạch tế cầm ngâm cựu cú,
Ôn công tôn tửu lạc dư xuân.
Đông phong hồi thủ lệ triêm cân,
Diểu mang tế, thương hải tang điền kinh kỷ độ,
Quân mạc thán Lỗ hầu chi bất ngộ.
Bằng tăng bạch phát phục hà vi?
Quy khứ lai hề, hồ bất quy!

Dịch nghĩa
Vườn Bùi, nơi nhà cũ của ta.
Đã bốn mươi năm, ngày nay mới được trở về.
Tùng tùng, cúc cúc, mai mai,
Phơi phới có thú vui nhàn dật nơi núi, khe, rừng, suối.
Bành Trạch gảy cây đàn không dây, ngâm câu thơ cũ,
Ôn Công nâng chén rượn vui với ngày xuân còn lại.
Ngoảnh đầu nhìn gió đông, giọt lệ đầm khăn.
Trong khoảng mênh mông trải bao cuộc nương dâu bãi bể.
Anh đừng than không gặp được Lỗ hầu,
Tóc bạc bù xù còn biết làm gì được?
Đi về thôi, sao không về đi?

Bùi viên đối ẩm trích cú ca [Bùi viên đối ẩm ca; Tuý ông ca]

裴園對飲摘句哥【裴園對飲哥;醉翁歌】
醉翁之意不在酒,
而在乎山水之間。
山漠漠水潺潺,
吾與子之所共適。
古來聖賢皆寂寞,
惟有飲者留其名。
所以終日醉頹然臥前楹,
周伯仁渡江三日醒不為少。
莫叫莫叫,
何似當初莫笑。
酒酣拔劍斫地歌莫哀,
勸君更盡一杯。

Bùi viên đối ẩm trích cú ca [Bùi viên đối ẩm ca; Tuý ông ca] Tuý Ông chi ý bất tại tửu,
Nhi tại hồ sơn thuỷ chi gian.
Sơn mịch mịch thuỷ sàn sàn,
Ngô dữ tử chi sở cộng thích.
Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch,
Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh.
Sở dĩ chung nhật tuý đồi nhiên ngoạ tiền doanh,
Chu Bá Nhân độ giang tam nhật tỉnh bất vi thiểu.
Mạc khiếu, mạc khiếu,
Hà sự đương sơ mạc tiếu.
Tửu hàm bạt kiếm chước địa ca “Mạc ai,
Khuyến quân cánh tận nhất bôi.”

Dịch nghĩa
Ý ông say không ở rượu,
Mà ở trong chốn nước non.
Núi lặng lẽ, nước dạt dào,
Ta cùng ngươi cùng vui thích.
Thánh hiền từ xưa đều vắng lặng,
Chỉ có kẻ uống rượu là lưu lại tiếng tăm.
Cho nên suốt ngày say khướt, nằm lăn ở hiên ngoài,
Chu Bá Nhân qua sông chỉ có ba ngày tỉnh, ta không coi là ít.
Đừng kêu, đừng kêu!
Chi bằng trước kia đừng cười.
Rượu say, tuốt gươm chém đất hát: “Đừng buồn…!
Mời anh hãy uống thêm một chén nữa!”

Ca tịch

歌夕
清吟一曲幾回聞,
半入江流半入雲。
去晉已應憐靜節,
出胡誰復憶昭君。
玉關折柳難為調,
幽徑栽蘭知自芬。
嘆息佳人多不遇,
近燈對酌具慇勤。

Ca tịch
Thanh ngâm nhất khúc kỷ hồi văn,
Bán nhập giang lưu, bán nhập vân.
Khứ Tấn dĩ ưng liên Tĩnh Tiết,
Xuất Hồ thuỳ phục ức Chiêu Quân.
Ngọc Quan chiết liễu nan vi điệu,
U kính tài lan tri tự phân.
Thán tức giai nhân đa bất ngộ,
Cận đăng đối chước cụ ân cần.

Cảm sự

感事
風細塵污何處來,
日光駒影遰相催。
煙飛江上舟如電,
石落山間炮似雷。
世有詩書無所用,
天生水火各為材。
讀窮五大瀛寰記,
始信寒泉有劫灰。

Cảm sự
Phong tế trần ô hà xứ lai,
Nhật quang câu ảnh đệ tương thôi.
Yên phi giang thượng chu như điện,
Thạch lạc sơn gian pháo tự lôi.
Thế hữu thi thư vô sở dụng,
Thiên sinh thuỷ hoả các vi tài.
Độc cùng ngũ đại doanh hoàn ký,
Thuỷ tín hàn tuyền hữu kiếp hôi.

Dịch nghĩa
Cơn gió đã đem bụi nhơ từ đâu đến
Ánh mặt trời, bóng ngựa câu, cứ thi nhau chạy hoài
Khói tuôn trên mặt sông, thuyền nhanh như chớp
Đá lở bên sườn núi, tiếng súng nổ như sấm
Đời có thi thư, không dùng làm gì cả
Trời sinh ra nước, lửa đều được người ta sử dụng
Có đọc hết các sách trên thế giới nói về vũ trụ
Thì mới tin rằng ở dưới suối lạng cũng gặp vận kiếp hôi

Cảm tác

感作
墨綬銅章十二年,
此身日望聖朝憐。
病因多事且休矣,
腹有一餐猶果然。
去國豈無朋輩在,
歸家未必子孫賢。
曚曨把盞從今事,
祇恐遺洿到簡編!

Cảm tác
Mặc thụ đồng chương thập nhị niên,
Thử thân nhật vọng thánh triều liên.
Bệnh nhân đa sự thả hưu hĩ,
Phúc hữu nhất xan do quả nhiên.
Khứ quốc khởi vô bằng bối tại,
Quy gia vị tất tử tôn hiền.
Mông lung bả trản tòng kim sự,
Chỉ khủng di ô đáo giản biên!

Canh Dần thanh minh

庚寅清明
積雨連朝今始晴,
不知此日是清明。
陰雲淡淡未全散,
喬木欣欣初向榮。
人過伊川悲野祭,
客從東洛感山傾。
北窗許久凄涼甚,
潤筆含杯意未平。

Canh Dần thanh minh
Tích vũ liên triêu kim thuỷ thanh,
Bất tri thử nhật thị thanh minh.
Âm vân đạm đạm vị toàn tán,
Cao mộc hân hân sơ hướng vinh.
Nhân quá Y Xuyên bi dã tế,
Khách túng Đông Lạc cảm sơn khuynh.
Bắc song hứa cửu thê lương thậm,
Nhuận bút hàm bôi ý vị bình.

Dịch nghĩa
Mấy hôm mưa liền nay mới tạnh
Nào biết đã là ngày thanh minh rồi
Mây đen vẫn còn vẩn vơ chưa tan hết
Cây cao đã mơn mởn bắt đầu xanh tốt
Người đi qua Y Xuyên thấy đám tế ngoài đồng mà buồn rầu
Khách từ Đông Lạc nghe tiếng chuông kêu mà cảm việc núi đồng đổ
Bấy lâu nay ở trước cửa phía bắc thấy buồn bã tệ
Nhấm bút đề thơ ngậm chén uống rượu nhưng lòng vẫn chưa nguôi

Canh Tý xuân

Ngô niên lục thập lục chi niên,
Tuế nguyệt xâm tần tuyệt khả liên.
Sơ khoát xỉ nha như nhị giáp,
Bồng tùng mao phát diệc canh phiên.
Tam triêu tịch hậu tiểu tương khánh,
Vạn lục tùng trung hoa diệc nhiên.
Lão bệnh cận lai ngâm hứng thiểu,
Xuân hàn vô sự bão lô miên.

Cô ngư

沽魚
門外方塘一畝餘,
年年不畜自多魚。
富人主之十千利,
貧人沽之無一如。
米貴已難敷口食,
波深又值作霖初。
安知貧富非由命,
竭力當為莫恨渠。

Cô ngư
Môn ngoại phương đường nhất mẫu dư,
Niên niên bất súc tự đa ngư.
Phú nhân chủ chi thập thiên lợi,
Bần nhân cô chi vô nhất như.
Mễ quý dĩ nan phu khẩu thực,
Ba thâm hựu trị tác lâm sơ.
An tri bần phú phi do mệnh,
Kiệt lực đương vi mạc hận cừ.

Cơ thử

饑鼠
爾依我墻壁,
何來一寂寂。
偶值年凶荒,
爾曹互搏擊。
爾曹非不仁,
吾家真無積。
何獨爾為然,
妻子亦交謪。
有食誰不憐,
無食誰不責。
去日西鄰獲,
爾曹各他適。
釜庾及吾家,
吾背始帖席。

Cơ thử
Nhĩ y ngã tường bích,
Hà lai nhất tịch tịch.
Ngẫu trị niên hung hoang,
Nhĩ tào hỗ bác kích.
Nhĩ tào phi bất nhân,
Ngô gia chân vô tích.
Hà độc nhĩ vi nhiên,
Thê tử diệc giao trích.
Hữu thực thuỳ bất liên,
Vô thực thuỳ bất trách.
Khứ nhật tây lân hoạch,
Nhĩ tào các tha thích.
Phủ dữu cập ngô gia,
Ngô bối thuỷ thiếp tịch.

Dịch nghĩa
Chúng mày nương náu ở tường vách nhà ta
Xưa nay vẫn yên ổn
Gặp phải năm mất mùa
Chúng mày đánh nhau lục đục
Chúng mày cũng không phải là bất nhân
Nhà ta thực tình cũng không có gì dành dụm
Không những chúng mày như thế
Mà vợ con ta cũng cắn dứt
Có ăn thì ai chả gần gũi thân thiết
Không có ăn thì ai chả trách móc
Hôm qua nhà ông ở xóm tây đã gặt
Chúng mày hãy đi sang bên ấy
Khi nào nhà ta có vài thúng
Thì lưng ta mới được nằm yên trên manh chiếu

Dạ sơn miếu

夜山廟
爭戰何年局已殘,
樓臺空在半山間。
螺城興廢機前定,
龜爪存忘事不關。
梅驛客來飛雀狎,
松林雨過暮鴉寒。
霸王事業千秋後,
煙樹蒼茫一夜山。

Dạ sơn miếu
Tranh chiến hà niên cục dĩ tàn,
Lâu đài không tại bán sơn gian.
Loa thành hưng phế cơ tiền định,
Quy trảo tồn vong sự bất quan.
Mai dịch khách lai phi tước hiệp,
Tùng lâm vũ quá mộ nha hàn.
Bá vương sự nghiệp thiên thu hậu,
Yên thụ thương mang nhất Dạ san.

Dịch nghĩa
Cuộc chiến năm nào đã tàn lâu rồi
Lâu đài còn trơ lại trên lưng chừng núi
Sự hưng phế của Loa Thành do cơ định trước
Cái móng rùa còn hay mất chẳng liên quan gì
Khách qua trạm mai dịch đàn công bay
Mưa tạnh rừng thông tiếng quạ kêu lạnh
Sự nghiệp bá vương sau nghìn năm
Chỉ thấy trên núi Dại Sơn khói cây man mác

Di chúc văn

遺囑文
我年值八八,
我數逢九九。
嗟哉我德涼,
壽紀邁先考。
嗟哉我學淺,
魁然占龍首。
豈非先考齡,
留以錫爾父。
豈非先考名,
不做以留後。
平日無寸功,
俯仰已慚負。
足矣亦何求,
死葬勿淹久。
死幸得全歸,
葬幸得親附。
棺衾不可美,
只以斂足手。
具饌不可豊,
只以答奔走。
不可寫祝文,
不可為對句。
不可設銘旌,
不可題神主。
不可達門生,
不可訃僚友。
賓客不可招,
賵吊不可受。
此皆纍於生,
死者亦奚有。
惟以重吾過,
囂然眾多口。
惟於葬之日,
旗扁導前柩。
竽工八九人,
吹送列左右。
草草死葬完,
酹我以杯酒。
所得新敕憑,
封還納使府。
爰題某石碑,
皇阮故休叟。

Di chúc văn
Ngã niên trị bát bát,
Ngã số phùng cửu cửu.
Ta tai ngã đức lương,
Thọ kỷ mại tiên khảo.
Ta tai ngã học thiển,
Khôi nhiên chiêm long thủ.
Khởi phi tiên khảo linh,
Lưu dĩ tích nhĩ phụ.
Khởi phi tiên khảo danh,
Bất tố dĩ lưu hậu.
Bình nhật vô thốn công,
Phủ ngưỡng dĩ tàm phụ.
Túc hĩ diệc hà cầu,
Tử táng vật yêm cửu.
Tử hạnh đắc toàn quy,
Táng hạnh đắc thân phụ.
Quan khâm bất khả mỹ,
Chỉ dĩ liễm túc thủ.
Cụ soạn bất khả phong,
Chỉ dĩ đáp bôn tẩu.
Bất khả tả chúc văn,
Bất khả vi đối cú.
Bất khả thiết minh tinh,
Bất khả đề thần chủ.
Bất khả đạt môn sinh,
Bất khả phó liêu hữu.
Tân khách bất khả chiêu,
Phúng điếu bất khả thụ.
Thử giai luỵ ư sinh,
Tử giả diệc hề hữu.
Duy dĩ trọng ngô quá,
Hiêu nhiên chúng đa khẩu.
Duy ư táng chi nhật,
Kỳ thiên đạo tiền cữu.
Vu công bát cửu nhân,
Xuy tống liệt tả hữu.
Thảo thảo tử táng hoàn,
Lỗi ngã dĩ bôi tửu.
Sở đắc tân sắc bằng,
Phong hoàn nạp sứ phủ.
Viên đề mỗ thạch bi,
Hoàng nguyễn cố hưu tẩu.

Dịch nghĩa
Tuổi ta vừa tám mươi tám,
Số ta gặp vận dương cửu.
Than ôi đức ta kém!
Tuổi thọ lại hơn cha ta.
Than ôi, sức học ta nông cạn
Lại nghiễm nhiên chiếm đầu rồng.
Há chẳng phải tuổi của cha ta,
Lưu lại để cho ta sao?
Há chẳng phải danh của cha ta,
Không thành đạt thì để cho đời sau sao?
Suốt đời ta chẳng có chút công gì,
Cúi nhìn đất, ngửa nhìn trời đã lấy làm hổ thẹn.
Thế là đủ rồi, chẳng còn cầu gì,
Chết thì chôn đừng để lâu.
Chết may được toàn vẹn mà chết,
Chôn may được chôn gần mẹ cha.
Quan tài, khâm liệm, không nên đẹp,
Chỉ đủ gói kín chân tay thì thôi.
Cỗ bàn không nên làm to,
Chỉ để thết đãi người giúp việc.
Không được viết văn tế,
Không được làm câu đối,
Không được đặt minh tinh,
Không được đề thần chủ,
Không được đặt giấy báo cho học trò,
Không được cáo phó với bè bạn,
Không được mời khách khứa,
Không được nhận phúng viếng.
Những cái đó đều làm luỵ cho người sống,
Người chết cũng chẳng được gì.
Chỉ làm thêm nặng tội lỗi cho ta,
Ồn ào thêm nhiều miệng tiếng.
Duy có ngày cất đám,
Cờ biển rước đi trước quan tài.
Thợ kèn tám chín người,
Đi hai bên tả hữu thổi kèn đưa tiễn.
Chôn cất qua loa cho xong,
Rót xuống đất cho ta chén rượu.
Bằng sắc mới được ban,
Hãy gói lại đem nộp cho dinh quan Sứ.
Rồi đề bia đá ở mộ rằng:
“Ông già triều nhà Nguyễn về hưu đã lâu”.

Trên đây là các bài thơ chữ Hán của Nguyễn Khuyến hay nhất mà chúng tôi muốn chia sẻ và giới thiệu với bạn. Ảnh hưởng của Nho giáo, Nho học nên ông sử dụng chữ Hán vô cùng thành thạo. Ở đó ta sẽ cảm nhận được trí thức của nhà thơ. Đó là một tâm hồn thơ rộng mở, giàu cảm xúc trước cuộc sống và thiên nhiên. Đừng quên đón đọc các bài viết tiếp theo của chúng tôi để cùng cập nhật những bài thơ hay nhất bạn nhé!