Truyên thơ Lục Vân Tiên (Nguyễn Đình Chiểu) hay đặc sắc phần 1



Truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu là một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất là ở khu vực miền Nam. Đây là một truyện thơ được sáng tác theo thể lục bát vào những năm cuối của thế kỷ 19. Và tập truyện thơ này đã được Trương Vĩnh Ký phiên âm chữ quốc ngữ và cho xuất bản lần đầu tiên vào năm 1989. Hãy cùng đọc các hồi đầu tiên của tập thơ này bạn nhé!

Hồi 01: Vân Tiên tạ thầy xin về đi thi

1. Trước đèn xem truyện Tây minh,
Gẫm cười hai chữ nhân tình éo le.
Hỡi ai lẳng lặng mà nghe,
Dữ răn việc trước, lành dè thân sau.
Trai thời trung hiếu làm đầu,
Gái thời tiết hạnh là câu trau mình.
Có người ở quận Đông Thanh,
Tu nhân tích đức, sớm sinh con hiền.
Đặt tên là Lục Vân Tiên,
Tuổi vừa hai tám, nghề chuyên học hành.

11. Theo thầy nấu sử xôi kinh,
Tháng ngày bao quản sân Trình lao đao.
Văn đà khởi phụng đằng giao
Võ thêm ba lược, sáu thao ai bì.
Xảy nghe mở hội khoa thi,
Vân Tiên vào tạ tôn sư xin về:
“Bấy lâu cửa thánh dựa kề,
“Đă tươi khí tượng lại xuê tinh thần.
“Nay đà gặp hội phong vân,
“Ai ai mà chẳng lập thân buổi này.

21. “Chí lăm bắn nhạn ven mây,
“Danh tôi đặng rạng, tiếng thầy bay xa.
“Làm trai trong cõi người ta,
“Trước lo báo bổ sau là hiển vang.”
Tôn sư bàn luận tai nàn,
Gẫm trong số hệ khoa tràng còn xa.
Mây trời chẳng dám nói ra,
Xui thầy thương tớ xót xa trong lòng.
Sau dầu tỏ nỗi đục trong,
Phải toan một phép để phňng hộ thân.

31. “Rày con xuống chốn phong trần,
“Thầy cho hai đạo phù thần đem theo.
“Chẳng may mà gặp lúc nghèo,
“Xuống sông cũng vững, lên đèo cũng an.”
Tôn sư trở lại hậu đàng,
Vân Tiên ngơ ngẩn lòng càng sanh nghi:
“Chẳng hay mình mắc việc chi,
“Tôn sư người dạy khoa kỳ còn xa?
“Hay là bối rối việc nhà?
“Hay là đức bạc hay là tài sơ?

41. “Bấy lâu lòng những ước mơ,
“Hội này chẳng gặp còn chờ hội nao?”
Nên hư chẳng biết làm sao,
Chi bằng hỏi lại lẽ nào cho minh.
Đặng cho rő nỗi sự tình,
Ngỏ sau ngàn dặm đăng trěnh mới an.
Tôn sư ngồi hãy thở than,
Ngó ra trước án thấy chàng trở vô.
Hỏi rằng: “Vạn lý trường đồ,
“Sao chưa cất gánh trở vô việc gì?

51. “Hay là con hãy hồ nghi,
“Thầy bàn một việc khoa kỳ ban trưa?”
Vân Tiên nghe nói liền thưa:
“Tiểu sinh chưa biết nắng mưa buổi nào?
“Song đường tuổi hạc đă cao,
“Xin thầy nói lại âm hao con tường.”
Tôn sư nghe nói thêm thương,
Dắt tay ra chốn tiền đường xem trăng,
Nhân cơ tàng sự dặn rằng:
“Việc người chẳng khác việc trăng trên trời.

61. “Tuy là soi khắp mọi nơi,
“Khi mờ, khi tỏ, khi vơi, khi đầy.
“Sao con chẳng rõ lẽ nầy,
“Lựa là con phải hỏi thầy làm chi?
“Số con hai chữ khoa kỳ,
“Khôi tinh đă rạng, Tử vi thêm loà.
“Hiềm vì ngựa chạy đường xa,
“Thỏ vừa ló bóng, gà đà gáy tan.
“Bao giờ cho tới bắc phang,
“Gặp chuột ra đồng, con mới nên danh.

71. “Sau dầu Đặng chữ hiển vinh,
“Mấy lời thầy nói tiền trình chẳng sai.
“Trong cơn bỉ cực thái lai,
“Giữ gìn cho vẹn việc ai chớ sờn.”
Vân Tiên vội vã tạ ơn,
Trăm năm dốc giữ keo sơn một lời.

Hồi 02: Vân Tiên lên đường gặp lũ sơn đài

Ra đi vừa rạng chân trời,
Ngùi ngùi ngó lại nhớ nơi học đường.
Tiên rằng: “Thiên các nhất phương,
“Thầy đeo đoạn thảm, tơ vương mối sầu.

81. “Quản bao thân trẻ dãi dầu,
“Mang đai Tử Lộ, quảy bầu Nhan Uyên.
“Bao giờ cá nước gặp duyên,
“Đặng cho con thảo phỉ nguyền tôi ngay.
Kể từ lướt dặm tới nay,
Mỏi mê hầu đã mấy ngày xông sương.
Đoái nhìn phong cảnh thêm thương,
Vơi vơi dặm cũ nẻo đường còn xa.
Chi bằng kiếm chốn lân gia,
Trước là tìm bạn sau là nghỉ chân.

91. Việc chi than khóc tưng bừng,
Đều đem nhau chạy vào rừng lên non.
Tiên rằng: “Bớ chú cõng con!
“Việc chi nên nỗi bon bon chạy hoài?”
Dân rằng: “Tiểu tử là ai?
“Hay là một đảng sơn đài theo tao?”
Tiên rằng: “Cớ sự làm sao,
“Xin ngừng vài bước sẽ trao một lời.”
Dân nghe tiếng nói khoan thai,
Kêu nhau đứng lại bày lời phân qua:

101. “Nhân rày có đảng lâu la,
“Tên rằng Đỗ Dự, hiệu là Phong Lai.
“Nhóm nhau ở chốn sơn đài,
“Người đều sợ nó có tài khôn đương.
“Bây giờ xuống cướp thôn hương,
“Thấy con gái tốt qua đường bắt đi.
“Xóm làng chảng dám nói chi,
“Cám thương hai gã nữ nhi mắc nàn!
“Con ai vóc ngọc mình vàng,
“Má đào mày liễu dung nhan lạnh lùng.

111. “E khi mắc đảng hành hung,
“Uổng trang thục nữ sánh cùng thất phu.
“Thôi thôi chẳng dám nói lâu,
“Chạy đi cho khỏi kẻo âu tới mình”
Vân Tiên nổi giận lôi đình,
Hỏi thăm: “Lũ nó còn đình nơi nao?
“Tôi xin ra sức anh hào,
“Cứu người cho khỏi lao đao buổi này.”
Dân rằng: “Lũ nó còn đây,
“Qua xem tướng bậu thơ ngây đã đành.

121 “E khi hoạ hổ bất thành,
“Khi không mình lại xô mình vào hang.”
Vân Tiên ghé lại bên đàng,
Bẻ cây làm gậy, tìm đàng chạy vô.
Kêu rằng: “Bớ đảng hung đồ!
“Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân.”
Phong Lai mặt đỏ phừng phừng:
“Thằng nào dám tới lẫy lừng vào đây.
“Trước gây việc dữ tại mầy,
“Truyền quân bốn phía phủ vây bịt bùng.”

131. Vân Tiên tả đột hữu xông,
Khác nào Triệu Tử phá vòng Đương giang.
Lâu la bốn phía vỡ tan,
Đều quăng gươm giáo tìm đàng chạy ngay.
Phong Lai trở chẳng lập tay,
Bị Tiên một gậy thác rày thân vong.

Hồi 03: Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga

Dẹp rồi lũ kiến chòm ong,
Hỏi: “Ai than khóc ở trong xe này?”
Thưa rằng: “Tôi thiệt người ngay,
“Sa cơ nên mới lầm tay hung đồ.

141. “Trong xe chật hẹp khôn phô,
“Cúi đầu trăm lạy, cứu cô tôi cùng.”
Vân Tiên nghe nói động lòng,
Đáp rằng: “Ta đã trừ dòng lâu la.
“Khoan khoan ngồi đó chớ ra,
“Nàng là phận gái, ta là phận trai.
“Tiểu thư con gái nhà ai,
“Đi đâu nên nỗi mang tai bất kỳ.
“Chẳng hay tên họ là chi?
“Khuê môn phận gái việc gì đến đây?

151. “Trước sau chưa hãn dạ nầy,
“Hai nàng ai tớ, ai thầy nói ra?”
Thưa rằng: “Tôi Kiều Nguyệt Nga,
“Con này tỳ tất tên là Kim Liên.
“Quê nhà ở quận Tây Xuyên,
“Cha làm tri phủ ở miền Hà Khê.
“Sai quân đem bức thư về,
“Rước tôi qua đó định bề nghi gia.
“Làm con đâu dám cãi cha,
“Ví dầu ngàn dặm đàng xa cũng đành!

161. “Chẳng qua là sự bất bình,
“Hay vầy cũng chẳng đăng trình làm chi.
“Lâm nguy chẳng gặp giải nguy,
“Tiết trăm năm cũng bỏ đi một hồi.
“Trước xe quân tử tạm ngồi,
“Xin cho tiện thiếp lạy rồi sẽ thưa:
“Chút tôi liễu yếu đào thơ,
“Giữa đường lâm phải bụi dơ đã phần.
“Hà Khê qua đó cũng gần,
“Xin theo cùng thiếp đền ơn cho chàng.

171. “Gặp đây đương lúc giữa đàng,
“Của tiền không có, bạc vàng cũng không.
“Ngẫm câu báo đức thù công,
“Lấy chi cho phỉ tấm lòng cùng ngươi.”
Vân Tiên nghe nói liền cười:
“Làm ơn há dễ trông người trả ơn.
“Này đà rõ đặng nguồn cơn,
“Nào ai tính thiệt so hơn làm gì?
“Nhớ câu kiến ngãi bất vi,
“Làm người thế ấy cũng phi anh hùng.

181. “Đó mà biết chữ thuỷ chung,
“Lựa là đây phải theo cùng làm chi.”
Nguyệt Nga biết ý chẳng đi,
Hỏi qua tên họ một khi cho tường.
Thưa rằng: “Tiện thiếp đi đường,
“Chẳng hay quân tử quê hương nơi nào?”
Phút nghe lời nói thanh tao,
Vân Tiên há nỡ lòng nào phôi pha:
“Đông Thành vốn thiệt quê ta,
“Họ là Lục thị, tên là Vân Tiên.”

191. Nguyệt Nga vốn đấng thuyền quyên,
Tai nghe lời nói tay liền rút trâm.
Thưa rằng: “Nay gặp tri âm,
“Xin đưa môt vật để cầm làm tin.
Vân Tiên ngơ mặt chẳng nhìn,
Nguyệt Nga liếc thấy càng thìn nết na:
“Vật chi một chút gọi là,
“Thiếp thưa chưa dứt chàng đà làm ngơ.
“Của này là của vất vơ,
“Lòng chê cũng phải, mặt ngơ sao đành!”

201 Vân Tiên khó nổi làm thinh,
Chữ ơn buộc lại chữ tình lây dây.
Than rằng: “Đó khéo trêu đây,
“Ơn kia đã mấy, của nầy rất sang.
“Đương khi gặp gỡ giữa đàng,
“Một lời cũng nhớ, ngàn vàng chẳng phai.
“Nhớ câu trọng nghĩa khinh tài,
“Nào ai chịu lấy của ai làm gì.”
Thưa rằng: “Chút phận nữ nhi,
“Vốn chưa biết lẽ có khi mất lòng.

211. “Ai dè những đấng anh hùng,
“Thấy trâm thôi lại thẹn thùng cùng trâm.”
Riêng than: “Trâm hỡi là trâm!
“Vô duyên chi mấy ai cầm mà mơ?
“Đưa trâm chàng đã làm ngơ,
“Thiếp xin đưa một bài thơ giã từ.”
Vân Tiên ngó lại rằng: “Ừ,
“Làm thơ cho kịp bấy chừ chớ lâu.”
Nguyệt Nga ứng tiếng xin hầu,
Xuống tay liền tả tám câu năm vần.

221. “Thơ rồi này thiếp xin dâng,
“Ngửa trông lượng rộng văn nhân thể nào?”
Vân Tiên xem thấy ngạt ngào,
Ai dè sức gái tài cao bực nầy.
Đã mau mà lại thêm hay,
Chẳng phen Tạ nữ, cũng tày Từ phi.
Thơ ngâm dũ xuất dũ kỳ,
Cho hay tài gái kém gì tài trai.
Như vầy ai lại thua ai,
Vân Tiên hoạ lại một bài trao ra.

231 Xem thơ biết ý gần xa,
Mai hoà vận điểu, điểu hoà vận mai.
Có câu xúc cảnh hứng hoài,
Đường xa vọi vọi, dặm dài vơi vơi.
Ai ai cũng ở trong trời,
Gặp nhau ta đã cạn lời thời thôi.

Hồi 04: Nguyệt Nga về Hà Khê

Vân Tiên từ giã phản hồi,
Nguyệt Nga than thở: “Tình ôi là tình!
“Nghĩ mình mà ngán cho mình,
“Nỗi ơn chưa trả, nỗi tình lại vương.

241. “Hữu tình hai chữ uyên ương,
“Chuỗi sầu ai khéo vấn vương vào lòng.
“Nguyện cùng nguyệt lão hỡi ông!
“Trăm năm cho vẹn chữ tòng mới an.
“Hữu tình chi mấy Ngưu Lang,
“Tấm lòng Chức Nữ, vì chàng mà nghiêng.
“Thôi thôi em hỡi Kim Liên!
“Đẩy xe cho chị qua miền Hà Khê.”
Trải quả dấu thỏ đàng dê,
Chim kêu vượn hú tứ bề nước non.

251. “Vái trời cho đặng vuông tròn,
“Trăm năm cho trọn lòng son với chàng.”
Phút đâu đã tới phủ đàng,
Kiều công xem thấy lòng càng sanh nghi.
Hỏi rằng: “Nào trẻ tuỳ nhi,
“Cớ sao nên nỗi con đi một mình?”
Nguyệt Nga thưa việc tiền trình,
Kiều công tường nỗi sự tình chẳng vui.
Nguyệt Nga dạ hãy ngùi ngùi,
Nghĩ mình thôi lại sụt sùi đòi cơn:

261. “Lao đao phận trẻ chi sờn,
“No nao trả đặng công ơn cho chàng.”
Kiều công nghe nói liền can,
Dạy rằng: “Con hãy nghỉ an mình vàng.
“Khi nào cha rảnh việc quan,
“Cho quân qua đó mời chàng đến đây.
“Sao sao chẳng kịp thời chầy,
“Cha nguyền trả đặng ơn nầy thời thôi.
“Hậu đường con hãy tạm lui,
“Làm khuây dạ trẻ cho vui lòng già.”

271. Tây lầu trống điểm sang ba,
Nguyệt Nga còn hãy xót xa phận mình.
Dời chân ra chốn hoa đình,
Xem trăng rồi lại chạnh tình cố nhân.
Than rằng: “Lưu thuỷ cao sơn,
“Ngày nào nghe đặng tiếng đàn tri âm.
“Chữ tình càng tưởng càng thâm,
“Muốn pha khó lợt, muốn dầm khôn phai.
“Vơi vơi đất rộng trời dài,
“Hỡi ai nỡ để cho ai đeo phiền.”

281 Trở vào bèn lấy bút nghiên,
Đặt bàn hương án chúc nguyền thần linh.
Làu làu một tấm lòng thành,
Hoạ ra một bức tượng hình Vân Tiên.
Than rằng: “Ngàn dặm sơn xuyên,
“Chữ ơn để dạ, chữ duyên nhuốm sầu.”

Hồi 05: Vân Tiên đi thi

Chuyện nàng sau hãy còn lâu,
Chuyện chàng xin nối thứ đầu nói ra.
Vân Tiên từ cách Nguyệt Nga,
Giữa đường lại gặp người ra kinh kỳ.

291. Xa xem mặt mũi đen sì,
Mình cao sồ sộ dị kỳ rất hung.
Nhớ câu bình thuỷ tương phùng,
Anh hùng lại gặp anh hùng một khi.
Chẳng hay danh tánh là chi?
Một mình mang gói ra đi việc gì?
Đáp rằng: “Ta cũng xuống thi,
Hớn Minh tánh tự, Ô Mi quê nhà.
Vân Tiên biết kẻ chính tà,
Hễ người dị tướng ắt là tài cao.

301. Chữ rằng bằng hữu chi giao,
Tình kia đã gặp lẽ nào làm khuây?
Nên rừng há dễ một cây,
Muốn cho có đó cùng đây luôn dần.
Kìa nơi võ miếu hầu gần,
Hai ta vào đó nghỉ chân một hồi.
Cùng nhau bày tỏ tên rồi,
Hai chàng từ tạ đều lui ra đường.

Hồi 06: Vân Tiên để Hớn Minh đi trước, mình về thăm nhà đã

Hớn Minh đi trước tựu trường,
Vân Tiên còn hãy hồi hương viếng nhà.

311. Mừng rằng: “Nay thấy con ta,
“Cha già hằng tưởng mẹ già luống trông.
“Bấy lâu đèn sách gia công,
“Con đà nên chữ tang bồng cùng chăng?”
Vân Tiên quì lạy thưa rằng:
“Chẳng hơn người cổ, cũng bằng người kim.
“Dám xin cha mẹ an tâm,
“Cho con trả nợ thanh khâm cho rồi.”
Mẹ cha thấy nói thêm vui,
Lại lo non nước xa xôi ngàn trùng.

321. Cho theo một đứa tiểu đồng,
Thư phong một bức dặn cùng Vân Tiên:
“Xưa đà định chữ lương duyên,
“Cùng quan hưu trí ở miền Hàn Giang.
“Con người là Võ Thể Loan,
“Tuổi vừa hai bảy dung nhan mặn mà.
“Chữ rằng Hồ Việt nhất gia,
“Con đi tới đó trao qua thư này.
“Con dầu bước đặng thang mây,
“Dưới chân đã sẵn một dây tơ hồng.

Hồi 07: Vân Tiên ra đi thi. Ghé nhà Võ công gặp bạn

331. Song thân dạy bảo vừa xong,
Vân Tiên cùng gã tiểu đồng dời chân.
Ra đi tách dặm băng chừng,
Gió nam rày đã đưa xuân qua hè,
Lại xem dăm liễu đường hoè,
Tiếng ong ngơ ngáo, tiếng ve vang dầy.
Vui xem nước nọ non nầy,
Nước xao sóng dợn, non dầy đá cao.
Màn trời gấm trải biết bao,
Trên nhành chim nói, dưới ao cá cười.

341. Quận thành nhắm kiểng xem người,
Kiểng xinh như vẽ, người tươi như dồi.
Hàn Giang phút đã tới nơi,
Vân Tiên ra mắt một hồi trình thư.
Võ công lấy đọc bấy giờ,
Mừng duyên cầm sắt mối tơ đặng liền.
Liếc coi tướng mạo Vân Tiên,
Khá khen họ Lục phước hiền sinh con.
Mày tằm mắt phụng môi son,
Mười phân cốt cách, vuông tròn mười phân.

351. Những e kẻ Tấn, người Tần,
Nào hay chữ ngẫu đặng gần chữ giai.
Xem đà đẹp đẽ hoà hai,
Nầy dâu Nam Giản, nọ trai Đông sàng.
Công rằng: “Ngãi tế mới sang,
“Muốn lo việc nước hãy toan việc nhà.”
Tiên rằng: “Nhờ lượng nhạc gia,
“Đại khoa dầu đặng, tiểu khoa lo gì.”
Công rằng: “Con dốc xuống thi,
“Sao không kết bạn mà đi tựu trường?

361. “Gần đây có một họ Vương,
“Tên là Tử Trực văn chương tót vời.
“Cha đà sai trẻ qua mời,
“Đặng con cùng gã thử chơi một bài.
“Thấp cao, cao thấp, biết tài,
“Vầy sau bạn trước cùng mai mới mầu.”
Xảy đâu Tử Trực tới hầu,
Võ công sẵn đặt một bầu rượu ngon.
Công rằng: “Nầy bớ hai con!
“Thơ hay làm đặng, rượu ngon thưởng liền.

371. “Muốn cho Trực sánh cùng Tiên,
“Lấy câu ‘bình thuỷ hữu duyên’ làm đề.”
Song song hai gã giao kề,
Lục, Vương, hai họ đua nghề một khi.
Cho hay kỳ lại gặp kỳ,
Bạch Hàm há dễ kém chi Như Hoành.
Công rằng: “Đơn quế đôi nhành,
“Bảng vàng, thẻ bạc đã đành làm nên.
“Như chuông chẳng đánh chẳng kêu,
“Ngọn đèn tỏ rõ trước khêu bởi mình.

381. “Thiệt trang lương đống đã đành,
“Khá khen hai họ tài lành hoà hai.”
Trực rằng: “Tiên vốn cao tài,
“Có đâu én hộc sánh vai một bầy.
“Tình cờ mà gặp nhau đây,
“Trực rằng xin nhượng Tiên rày làm anh.
“Nay đà nên nghĩa đệ huynh,
“Xin về mai sẽ thượng trình cùng nhau.”
Phút xem trăng đã đứng đầu,
Vân Tiên vào chốn thư lầu nghỉ an.

391. Võ công trở lại hậu đàng,
Đêm khuya dạy dỗ Thể Loan mọi lời:
“Ngày mai vừa rạng chân trời,
“Tiểu nhi trang điểm ra nơi lê đình.
“Gọi là chút nghĩa tống tình,
“Phòng sau cho khỏi bất bình cùng nhau.”
Bóng trăng vừa lộ cành dâu,
Vân Tiên vào tạ giây lâu xuất hành.
Ra đi vừa thuở bình minh,
Thể Loan đứng trước lê đình liễm dung.

401. Thưa rằng: “Quân tử phó công,
“Xin thương bồ liễu chữ tòng ngây thơ.
“Tấm lòng thương gió nhớ mưa,
“Đương xa ngàn dặm xin đưa một lời.
“Ngày nay thánh chúa trị đời,
“Nguyền cho linh phụng gặp nơi ngô đồng.
“Quản bao chút phận má hồng,
“Phòng khuya vò võ, đợi trông khôn lường.
“Chàng dầu cung quế xuyên dương,
“Thiếp xin hai chữ tao khương cho bằng.

411 “Xin đừng tham đó bỏ đăng,
“Chơi lê quên lựu, chơi trăng quên đèn.”
Tiên rằng: “Như lửa mới nhen,
“Dễ trong một bếp mà nhen mấy lò.
“May duyên rủi nợ dễ phò,
“Chớ nghi Ngô Khởi, hãy lo Mãi Thần.”
Thể Loan vội vã lui chân,
Vân Tiên từ biệt trông chừng Trường An.

Trên đây là các hồi trong tập truyện thơ Lục Vân Tiên hay nổi tiếng của Nguyễn Đình Chiểu. Với tập thơ này tác giả đã bàn về luân lý, cốt bàn đạo làm người mà tư tưởng chủ đạo của nó là văn dĩ tải đạo. Qua đó nhà thơ muốn đưa các gương xưa làm người để khuyên người ta cương thường – đạo nghĩa. Đừng quên đón đọc các hồi tiếp theo của chúng tôi để cùng đón đọc các hồi tiếp theo bạn nhé!

 

so1vn - Tags: