Tô Đông Pha là người Tứ Xuyên, Trung Quốc. Tuy ông làm quan và thăng giáng nhiều lần nhưng cả cuộc đời của mình ông cũng đã rất tự tại. Lấy đọc sách làm thú vui, và là người giàu tình cảm. Đó cũng chính là lý do giải thích thơ của ông rất tình tứ. và ông cũng chính là người có tài nhất trong bát đại gia của Trung Hoa từ những năm thế kỷ 7 cho tới 13. Dưới đây là những bài thơ hay nhất của Tô Đông Pha viết trong tập thơ Từ nổi tiếng.

Dĩ ngọc đới thi nguyên trưởng lão, nguyên dĩ nạp quần tương báo thứ vận kỳ 1

以玉帶施元長老,元以衲裙相報次韻其一
病骨難堪玉帶圍,
鈍根仍落箭鋒機。
欲教乞食歌姬院,
故與雲山舊衲衣。

Dĩ ngọc đới thi nguyên trưởng lão, nguyên dĩ nạp quần tương báo thứ vận kỳ 1
Bệnh cốt nan kham ngọc đái vi,
Độn căn nhưng lạc tiễn phong ky (cơ).
Dục giáo khất thực ca cơ viện,
Cố dữ vân sơn cựu nạp y.

Du Kim Sơn tự

遊金山寺
我家江水初發源,
宦遊直送江入海。
聞道潮頭一丈高,
天寒尚有沙塵在。
中泠南畔石盤陀,
古來出沒隨濤波。
試登絕頂望鄉國,
江南江北青山多。
羈愁畏晚尋歸楫,
山僧苦留看落日。
微風萬頃靴文細,
斷霞半空魚尾赤。
是時江月初生魄,
二更月落天深黑。
江心似有炬火明,
飛燄照山棲鳥驚。
悵然歸臥心莫識,
非鬼非人竟何物。
江山如此不歸山,
江神見怪警我頑。
我謝江神豈得已,
有田不歸如江水。

Du Kim Sơn tự
Ngã gia Giang thuỷ sơ phát nguyên,
Hoạn du trực tống Giang nhập hải.
Văn đạo triều đầu nhất trượng cao,
Thiên hàn thượng hữu sa trần tại.
Trung Linh nam bạn thạch bàn đà,
Cổ lai xuất một tuỳ đào ba.
Thí đăng tuyệt đỉnh vọng hương quốc,
Giang nam Giang bắc thanh sơn đa.
Ky sầu uý vãn tầm quy tiếp,
Sơn tăng khổ lưu khan lạc nhật.
Vi phong vạn khoảnh ngoa văn tế,
Đoạn hà bán không ngư vĩ xích.
Thị thì Giang nguyệt sơ sinh phách,
Nhị canh nguyệt lạc thiên thâm hắc.
Giang tâm tự hữu cự hoả minh,
Phi diễm chiếu sơn thê điểu kinh.
Trướng nhiên quy ngoạ tâm mạc thức,
Phi quỷ phi nhân cánh hà vật.
Giang sơn như thử bất quy sơn,
Giang thần kiến quái cảnh ngã ngoan.
Ngã tạ Giang thần khởi đắc dĩ,
Hữu điền bất quy như Giang thuỷ.

Dịch nghĩa
Nhà ta ở nơi phát nguồn của sông Trường Giang
Đường làm quan đưa Trường Giang chảy vào biển
Nghe nói ngọn triều dâng cao một trượng
Trời lạnh còn có dấu cát
Phía nam núi Trung Linh kề với đá bàn đà
Từ xưa đến nay lộ ngập theo thuỷ triều
Thử lên đỉnh cao nhất nhìn về quê hương
Đôi bờ Trường Giang đều nhiều núi xanh
Nỗi buồn xa nhà sợ tối tìm thuyền về
Sư núi cố nài ở lại xem mặt trời lặn
Gió nhẹ bao la, mặt nước gợn như nếp nhăn ủng.
Lưng trời mảng ráng đỏ rỡ như màu đuôi cá
Lúc bấy giờ trăng bắt đầu dựng ở mặt sông
Canh hai trăng lặn trời tối như mực
Giữa sông tựa như có bó đuốc sáng
Ánh lửa hắt lên núi cao làm chim giật mình
Tự nhiên buồn quay về nằm, trong lòng không biết
Không phải ma không phải người, thế là vật gì
Non sông như thế sao không quay về núi
Thần sông quở trách sợ ta bướng gàn
Ta lạy tạ thần sông Giang, thật là bất đắc dĩ
Có ruộng không về như Giang thuỷ.

Du La Phù sơn nhất thủ thị nhi tử quá

遊羅浮山一首示兒子過
人間有此白玉京,
羅浮見日雞一鳴。
南樓未必齊日觀,
鬱儀自欲朝朱明。
東坡之師抱朴老,
真契久已交前生。
玉堂金馬久流落,
寸田尺宅今誰耕。
道華亦嘗啖一棗,
契虛正欲仇三彭。
鐵橋石柱連空橫,
杖藜欲趁飛猱輕。
雲溪夜逢瘖虎伏,
斗壇晝出銅龍獰。
小兒少年有奇志,
中宵起坐存黃庭。
近者戲作《凌雲賦》,
筆勢彷彿《離騷經》。
負書從我盍歸去,
群仙正草《新宮銘》。
汝應奴隸蔡少霞,
我亦季孟山玄卿。
還須略報老同叔,
贏糧萬里尋初平。

Du La Phù sơn nhất thủ thị nhi tử quá
Nhân gian hữu thử bạch ngọc kinh,
La phù kiến nhật kê nhất minh.
Nam lâu vị tất Tề nhật quán,
Uất nghi tự dục triều Chu Minh.
Đông Pha chi sư Bão Phác lão,
Chân Khế cửu dĩ giao tiền sinh.
Ngọc đường kim mã cửu lưu lạc,
Thốn điền xích trạch kim thuỳ canh.
Đạo Hoa diệc thường đạm nhất tảo,
Khế Hư chính dục cừu tam bành.
Thiết kiều thạch trụ liên không hoành,
Trượng lê dục sấn phi nhu khinh.
Vân Khê dạ phùng âm hổ phục,
Đẩu đàn trú xuất đồng long ninh.
Tiểu nhi thiếu niên hữu kỳ chí,
Trung tiêu khởi toạ tồn Hoàng đình.
Cận giả hý tác “Lăng vân phú”,
Bút thế bàng phất “Ly tao kinh”.
Phụ thư tòng ngã hạp quy khứ,
Quần tiên chính thảo “Tân cung minh”.
Nhữ ưng nô lệ Thái Thiếu Hà,
Ngã diệc quý mạnh Sơn Huyền Khanh.
Hoàn tu lược báo lão Đồng Thúc,
Doanh lương vạn lý tầm Sơ Bình.

Dịch nghĩa
Nhân gian sao có kinh bạch ngọc
Phù sơn canh ba thấy mặt trời
lầu nam chưa chắc quán Tề nhật
Khúm núm như muốn chầu Chu Minh
Thầy Đông Pha là lão Bão Phác
Chân Khế là bạn giao du đời trước
Nhà vàng của ngọc lưu lạc từ xưa
Tấc vườn, nhà mọn giờ ai cày cấy
Đạo Hoa đã từng thưởng thức
Tam bành Khế Hư ruột vẫn đeo mang
Cầu sắt trụ đá kéo bắc ngang không
Lê cao nghều nghệu muốn leo như khỉ
Đêm gặp cọp rình nơi suối Vân Khê
Ngày bắt nanh rồng trước đàn Triều Đẩu
Trẻ con nhỏ tuổi có chí lạ
Nửa đêm dậy đọc kinh Hoàng đình
Vừa rồi làm chơi bài “Lăng vân phú”
Bút thế từa tựa “Ly tao kinh”
Cắp sách theo ta về nhà gấp
Quần tiên đang thảo “Tân cung minh”
Mi làm đày tớ Thái Thiếu Hà
Ta cũng xấp xỉ Sơn Huyền Khanh
Lại đến tin sơ chú Đồng Thúc
Chứa lương vạn dặm tìm Sơ Bình

Du Tây Bồ Đề tự

遊西菩提寺
路轉山腰足未移,
水清石瘦便能奇。
白雲自占東西嶺,
明月誰分上下池。
黑黍黃粟初熟候,
朱柑綠橘半甜時。
人生此樂須天付,
莫遣兒曹取次知。

Du Tây Bồ Đề tự
Lộ chuyển sơn yêu túc vị di,
Thuỷ thanh thạch sấu tiện năng kỳ.
Bạch vân tự chiếm đông tây lãnh,
Minh nguyệt thuỳ phân thượng hạ trì.
Hắc thử hoàng lương sơ thục hậu,
Chu cam lục quất bán kiềm thì.
Nhân sinh thử lạc tu thiên phó,
Mạc khiển nhi tào thủ thứ tri.

Dịch nghĩa
Đường đã chuyển quanh eo núi mà chân chưa dời bước,
Nước trong, đá gầy, càng trông lạ.
Mây trắng chiếm trọn một giải từ ngọn núi đông sang tây,
Trăng sáng, như chia ao ra làm trên và dưới.
Lúa hắc thử, thóc hoàng lương vừa đến độ chín,
Cam đỏ quít xanh đang nửa mùa ngọt.
Cái vui đó của cuộc nhân sinh phải nói là của trời cho,
Đừng để lại cho con cháu coi thường điều ấy.

Dư dĩ sự hệ Ngự sử đài ngục, ngục lại sảo kiến xâm, tự đạc bất năng kham, tử ngục trung, bất đắc nhất biệt Tử Do, cố tác nhị thi thụ ngục tốt Lương Thành, dĩ di Tử Do kỳ

予以事繫禦史台獄獄吏稍見侵,自度不能堪,死獄中,不得一別子由,故作二詩授獄卒梁成,以遺子由其二
柏台霜氣夜淒淒,
風動琅璫月向低。
夢繞雲山心似鹿,
魂飛湯火命如雞。
眼中犀角真吾子,
身後牛衣愧老妻。
百歲神遊定何處,
桐鄉知葬浙江西。

Dư dĩ sự hệ Ngự sử đài ngục, ngục lại sảo kiến xâm, tự đạc bất năng kham, tử ngục trung, bất đắc nhất biệt Tử Do, cố tác nhị thi thụ ngục tốt Lương Thành, dĩ di Tử Do kỳ 2
Bách đài sương khí dạ thê thê,
Phong động lang đang nguyệt hướng đê.
Mộng nhiễu vân sơn tâm tự lộc,
Hồn kinh thang hoả mệnh như kê.
Nhãn trung tê giác chân ngô tử,
Thân hậu ngưu y quý lão thê.
Bách tuế thần du hà xứ định,
Đồng Hương tri tráng Chiết Giang tê (tây)

Dịch nghĩa
Hơi sương đêm ở Bách đài buồn lạnh lẽo
Vòng xích động leng keng ánh trăng xế tà
Trong mơ về quê hương lòng thấp thỏm không yên
Hồn sợ nước sôi lửa bỏng mạng sống như gà
Mắt nhìn thấy tướng mạo của con cũng không tục
Sau khi chết mặc áo trâu thẹn với vợ già
Khi trăm tuổi thần về đâu là định
Dân Đồng Hương biết táng ta ở tây Chiết Giang

Dương Quan khúc – Trung thu tác

陽關曲-中秋作
暮雲收盡溢清寒,
銀漢無聲轉玉盤。
此生此夜不長好,
明月明年何處看。

Dương Quan khúc – Trung thu tác
Mộ vân thâu tận dật thanh hàn,
Ngân Hán vô thanh chuyển ngọc bàn.
Thử sinh thử dạ bất trường hảo,
Minh nguyệt minh niên hà xứ khan?

Dịch nghĩa
Mây chiều trôi đi hết, không gian lạnh lẽo,
Đĩa ngọc di chuyển giữa sông Ngân lặng lẽ.
Đời này, đêm này không phải tốt đẹp mãi,
Sang năm sẽ xem trăng sáng ở chốn nào?

Đề Tây Lâm bích

題西林壁
橫看成嶺側成峰,
遠近高低各不同。
不識廬山真面目,
只緣身在此山中。

Đề Tây Lâm bích
Hoành khan thành lĩnh trắc thành phong,
Viễn cận cao đê các bất đồng.
Bất thức Lư Sơn chân diện mục,
Chỉ duyên thân tại thử sơn trung.

Dịch nghĩa
Nhìn ngang thành dẫy, nghiêng thành ngọn
Cao thấp xa gần sẽ khác ngay
Hình dáng Lư sơn không thấy thật
Chỉ vì thân giữa núi non này

Đề Thẩm quân cầm

題沈君琴
若言琴上有琴聲,
放在匣中何不鳴?
若言聲在指頭上,
何不於君指上聽?

Đề Thẩm quân cầm
Nhược ngôn cầm thượng hữu cầm thanh,
Phóng tại hạp trung hà bất minh?
Nhược ngôn thanh tại chỉ đầu thượng,
Hà bất ư quân chỉ thượng thính?

Dịch nghĩa
Nếu bảo trong đàn có tiếng đàn,
Vì sao đặt vào hộp đàn không kêu?
Nếu bảo trên đầu ngón tay có tiếng,
Sao không nghe ngay trên đầu ngón tay mình?

Điệt An Tiết viễn lai dạ toạ kỳ 1

侄安節遠來夜坐其一
南來不覺歲崢嶸,
坐撥寒灰聽雨聲。
遮眼文書元不讀,
伴人燈火亦多情。
嗟予潦倒無歸日,
今汝蹉跎已半生。
免使韓公悲世事,
白頭還對短燈檠。

Điệt An Tiết viễn lai dạ toạ kỳ 1
Nam lai bất giác tuế tranh vanh,
Toạ bát hàn hôi thính vũ thanh.
Già nhãn văn thư nguyên bất độc,
Bạn nhân đăng hoả diệc đa tình.
Ta dư lạo đảo vô quy nhật,
Kim nhữ tha đà dĩ bán sinh.
Miễn sử Hàn công bi thế sự,
Bạch đầu hoàn đối đoản đăng kềnh.

Dịch nghĩa
Từ sang nam, bỗng chốc năm đã chầy heo hút,
Giữa đêm dài ngồi khơi tro lạnh nghe mưa rơi.
Tay che mắt, thơ văn nguyên chẳng đọc,
Bên bóng đèn ánh lửa ấm tình người.
Ta lận đận mấy năm trường lưu lạc,
Cháu bon chen bươn bả nửa đời rồi.
Thế sự đó ông Hàn xưa khỏi khóc,
Đèn vắn chân tóc trắng vẫn chưa thay.

Điệt An Tiết viễn lai dạ toạ kỳ 2

侄安節遠來夜坐其二
心衰面改瘦崢嶸,
相見惟應識舊聲。
永夜思家在何處,
殘年知汝遠來情。
畏人默坐成痴鈍,
問舊驚呼半死生。
夢斷酒醒山雨絕,
笑看飢鼠上燈檠。

Điệt An Tiết viễn lai dạ toạ kỳ 2
Tâm suy diện cải sấu tranh vanh,
Tương kiến duy ưng thức cựu thanh.
Vĩnh dạ tư gia tại hà xứ,
Tàn niên tri nhữ viễn lai tình.
Uý nhân mặc toạ thành si độn,
Vấn cựu kinh hô bán tử sinh.
Mộng đoạn tửu tinh sơn vũ tuyệt,
Tiếu khan cơ thử thượng đăng kềnh.

Dịch nghĩa
Tâm suy mặt đổi gầy hốc hác,
Gặp nhau qua giọng cũ mà thôi.
Quê hương xa đồng vọng đêm dài,
Cháu lặn lội sưởi tình năm tháng lại.
Ngồi lặng tiếng bởi sợ người nên ngây dại,
Bạn bè xưa sống chết nghĩ mà kinh.
Rượu tỉnh mơ tàn mưa đã dứt,
Cười xem chuột đói leo chân đèn.

Điếu Thiên Trúc Hải Nguyệt biện sư kỳ 2

弔天竺海月辯師其二
生死猶如臂屈伸,
情鍾我輩一酸辛。
樂天不是蓬萊客,
憑仗西方作主人。

Điếu Thiên Trúc Hải Nguyệt biện sư kỳ 2
Sinh tử do như tí khuất thân,
Tình chung ngã bối nhất toan tân.
Lạc Thiên bất thị Bồng Lai khách,
Bằng trượng Tây phương tác chủ nhân

Độc Mạnh Giao thi kỳ 2

讀孟郊詩其二
我憎孟郊詩,
復作孟郊語。
饑腸自鳴喚,
空壁轉饑鼠。
詩從肺腑出,
出輒愁肺腑。
有如黃河魚,
出膏以自煮。
尚愛銅鬥歌,
鄙俚頗近古。
桃弓射鴨罷,
獨速短蓑舞。
不憂踏船翻,
踏浪不踏土。
吳姬霜雪白,
赤腳浣白紵。
嫁與踏浪兒,
不識離別苦。
歌君江湖曲,
感我長羈旅。

Độc Mạnh Giao thi kỳ 2
Ngã tăng Mạnh Giao thi,
Phục tác Mạnh Giao ngữ.
Cơ trường tự minh hoán,
Không bích chuyển cơ thử.
Thi tòng phế phủ xuất,
Xuất triếp sầu phế phủ.
Hữu như Hoàng Hà ngư,
Xuất cao dĩ tự chử.
Thượng ái đồng đấu ca,
Bỉ lý phả cận cổ.
Đào cung xạ áp bãi,
Độc tốc đoản thoa vũ.
Bất ưu đạp thuyền phiên,
Đạp lãng bất đạp thổ.
Ngô cơ sương tuyết bạch,
Xích cước hoán bạch trữ.
Giá dữ đạp lãng nhi,
Bất thức ly biệt khổ.
Ca quân giang hồ khúc,
Cảm ngã trường ky lữ.

Độc Mạnh Giao thi kỳ 1

讀孟郊詩其一
夜讀孟郊詩,
細字如牛毛。
寒燈照昏花,
佳處時一遭。
孤芳擢荒穢,
苦語餘詩騷。
水清石鑿鑿,
湍激不受篙。
初如食小魚,
所得不償勞。
又似煮蟛越,
竟日嚼空螯。
要當鬥僧清,
未足當韓豪。
人生如朝露,
日夜火消膏。
何苦將兩耳,
聽此寒蟲號。
不如且置之,
飲我玉色醪。

Độc Mạnh Giao thi kỳ 1
Dạ độc Mạnh Giao thi,
Tế tự như ngư mao.
Hàn đăng chiếu hôn hoa,
Giai xứ thời nhất tao.
Cô phương trạc hoang uế,
Khổ ngữ dư Thi Tao.
Thuỷ thanh thạc tạc tạc,
Xuyền kích bất thụ cao.
Sơ ngư thực tiểu ngư,
Sở đắc bất thường lao.
Hựu tự chử bành việt,
Cách nhật trì không ngao.
Yếu đương đấu tăng thanh,
Vị túc đương Hàn hào.
Nhân sinh như triệu lộ,
Nhật dạ hoả tiêu cao.
Hà khổ tương lưỡng nhĩ,
Thính thử hàn trùng hào.
Bất như khả trí chi,
Ẩm ngã ngọc sắc lao

Dịch nghĩa
Đêm đọc thơ của Mạnh Giao
Chữ nhỏ như lông trâu
Ánh đèn lạnh chiếu nhập nhoè
Thỉnh thoảng gặp được chỗ hay
Một mình thơm mọc lên từ nơi hoang bẩn
Lời khó hiểu còn hơn cả Kinh thi và Ly tao
Như nước trong xối vào đá
Nước chảy tung toé không cầm sào đụng vào
Cứ như ăn cá nhỏ
Cái nhận được chẳng bõ công
Lại giống như nấu cáy
Cả ngày chỉ cầm cái càng không
Phần thanh cao sánh được với Tăng
Phần hào phóng không bằng Hàn
Đời người như sương mai
Ngay đêm lửa đốt kiệt cả mỡ
Làm gì để đôi tai phải khổ
Nghe tiếng sâu mùa lạnh kêu
Chi bằng hãy xếp vào đấy
Uống thử rượu đục ngọt ngào của ta.

Đông chí nhật độc du Cát Tường tự

冬至日獨遊吉祥寺
井底微陽回未回,
蕭蕭寒雨濕枯荄。
何人更似蘇夫子,
不是花時肯獨來。

Đông chí nhật độc du Cát Tường tự
Tỉnh để vi dương hồi vị hồi,
Tiêu tiêu hàn vũ thấp khô cai.
Hà nhân cánh tự Tô phu tử,
Bất thị hoa thì khẳng độc lai.

Đông Pha bát thủ kỳ 1

東坡八首其一
廢壘無人顧,
頹垣滿蓬蒿。
誰能捐筋力,
歲晚不償勞。
獨有孤旅人,
天窮無所逃。
端來拾瓦礫,
歲旱土不膏。
崎嶇草棘中,
欲刮一寸毛,
喟焉釋耒嘆,
我廩何時高。

Đông Pha bát thủ kỳ 1
Phế luỹ vô nhân cố,
Đồi viên mãn bồng hao.
Thuỳ năng quyên cân lực,
Tuế vãn bất thường lao.
Độc hữu cô lữ nhân,
Thiên cùng vô sở đào.
Đoan lai thập ngoã lịch,
Tuế hạn thổ bất cao.
Khi khu thảo cức trung,
Dục quát nhất thốn mao,
Vị yên thích lỗi thán,
Ngã lẫm hà thì cao.

Dịch nghĩa
Ruộng đất bỏ hoang, không ai đoái tưởng tới,
Vườn tược đổ nát, lau lách mọc đầy.
Ai mà ra gân sức cho nổi,
Rồi vãn một năm không bù lại công khó.
Chỉ có người bị lưu đày cô quạnh,
Góc bể chân trời không chỗ trốn.
Mới hăm hở đến dọn gạch, dọn ngói,
Năm hạn, đất không dẻo.
Giữa đám gai lởm chởm,
Chừng như muốn bứt từng sợi lông.
Rồi bùi ngùi buông cày đứng than thở,
Biết bao giờ cho đụn lúa đầy cao?

Trên đây là những bài thơ hay nhất của Tô Đông Pha viết trong tập thơ từ mà chúng tôi đã chọn lọc và muốn chia sẻ cùng với bạn. Thông qua các bài viết này ta có thể hiểu thêm về phong cách sáng tác thơ ca của Tô Đông Pha. Đó là một hồn thơ rất riêng, rất lãng mạn và cũng chính là người có được nhân cách và thái độ sống cao cả. Điều này làm nên sự độc đáo trong thơ ông.