Tiếng Hát Con Tàu (Chế Lan Viên) – Thể hiện khát vọng vui tươi khi về với nhân dân, tổ quốc



của nhà thơ Chế Lan Viên với tiêu đề ban đầu là Con tàu Tây Bắc, Bài thơ là ngọn lửa thiêng liêng về tình yêu Tổ Quốc. Tiếng Hát Con Tàu là sự thể hiện khát vọng, niềm hân hoan trong tâm hồn nhà thơ khi trở về với nhân dân, với đất nước. Tác giả tìm thấy nguồn cảm hứng sáng tạo nghệ thuật cho hồn thơ của mình.

Bài thơ mượn hình ảnh “cont àu” là sự biểu tượng cho khát vọng ra đi, đến những vùng đất mới, đến với nhân dân, với tổ quốc, cũng là đến với niềm mơ ước, với ngọn nguồn của cảm hứng nghệ thuật.

Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc
Khi lòng ta đã hoá những con tàu
Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát
Tâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu

Con tàu này lên Tây Bắc, anh đi chăng?
Bạn bè đi xa, anh giữ trời Hà Nội
Anh có nghe gió ngàn đang rú gọi
Ngoài cửa ô? Tàu đói những vành trăng

Đất nước mênh mông, đời anh nhỏ hẹp
Tàu gọi anh đi, sao chửa ra đi?
Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép
Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia

Trên Tây Bắc! Ôi mười năm Tây Bắc
Xứ thiêng liêng rừng núi đã anh hùng
Nơi máu rỏ tâm hồn ta thấm đất
Nay rạt rào đã chín trái đầu xuân

Ơi kháng chiến! Mười năm qua như ngọn lửa
Nghìn năm sau, còn đủ sức soi đường
Con đã đi nhưng con cần vượt nữa
Cho con về gặp lại mẹ yêu thương

Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa
Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa

Con nhớ anh con, người anh du kích
Chiếc áo nâu anh mặc đêm công đồn
Chiếc áo nâu suốt một đời vá rách
Đêm cuối cùng anh cởi lại cho con

Con nhớ em con, thằng em liên lạc
Rừng thưa em băng, rừng rậm em chờ
Sáng bản Na, chiều em qua bản Bắc
Mười năm tròn! Chưa mất một phong thư

Con nhớ mế! Lửa hồng soi tóc bạc
Năm con đau, mế thức một mùa dài
Con với mế không phải hòn máu cắt
Nhưng trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi

Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ
Nơi nào qua, lòng lại chẳng yêu thương?
Khi ta ở, chi là nơi đất ở
Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn!

Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét
Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng
Như xuân đến chim rừng lông trở biếc
Tình yêu làm đất lạ hoá quê hương

Anh nắm tay em cuối mùa chiến dịch
Vắt xôi nuôi quân em giấu giữa rừng
Đất Tây Bắc tháng ngày không có lịch
Bữa xôi đầu còn toả nhớ mùi hương

Đất nước gọi ta hay lòng ta gọi?
Tình em đang mong, tình mẹ đang chờ
Tàu hãy vỗ giùm ta đôi cánh vội
Mắt ta thèm mái ngói đỏ trăm ga

Mắt ta nhớ mặt người, tai ta nhớ tiếng
Mùa nhân dân giăng lúa chín rì rào
Rẽ người mà đi, vịn tay mà đến
Mặt đất nồng nhựa nóng của cần lao

Nhựa nóng mười năm nhân dân máu đổ
Tây Bắc ơi, người là mẹ của hồn thơ
Mười năm chiến tranh, vàng ta đau trong lửa
Nay trở về, ta lấy lại vàng ta

Lấy cả những cơn mơ! Ai bảo con tàu không mộng tưởng?
Mỗi đêm khuya không uống một vầng trăng
Lòng ta cũng như tàu, ta cũng uống
Mặt hồng em trong suối lớn mùa xuân

I. Đôi nét về tác giả Chế Lan Viên

Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan. Ông quê ở Quảng Trị. Ông viết thơ từ rất sớm, năm 17 tuổi ông xuất bản tập thơ đầu tiên với tựa đề: Điêu Tàn.

Sau năm 1945 Ông về HN tiếp tục hoạt động văn học, nhiều năm tham gia lãnh đạo Hội nhà văn VN.

Ông được nhà nước tặng giải thưởng HCM về văn học nghệ thuật 1996.

Phong cách thơ Chế Lan Viên rõ nét và độc đáo, nổi bật nhất là chất suy tưởng triết lí mang vẻ đẹp trí tuệ và sự đa dạng, phong phú của thế giới hình ảnh

II. Bài thơ Tiếng Hát Con Tàu

1. Hoàn cảnh sáng tác

Bài thơ Tiếng Hát Con Tàu được gợi cảm hứng từ sự kiện: 1958- 1960: phong trào xây dựng kinh tế mới ở Tây Bắc. Bài thơ được in trong tập Ánh sáng và phù sa.

2. Nội dung bài thơ

“Tiếng hát con tàu”: Là tiếng hát của một tâm hồn tràn ngập niềm tin vào lí tưởng, vào cuộc đời với khát vọng ra đi. “Con tàu” là biểu tượng cho khát vọng đi xa, thoát khỏi cuộc sống cá nhân chật hẹp, đến những nơi xa xôi của Tổ quốc, cũng là đến với những ước mơ lớn và nguồn cảm hứng lớn của nghệ thuật. Hình ảnh con tàu là biểu tượng cho khát vọng lên đường, vượt ra khỏi cuộc sống chất hẹp, quẩn quanh để đến với cuộc đời rộng lớn.

3. Phân tích bài thơ Tiếng hát con tàu

Chế Lan Viên là một trong những nhà thơ nổi tiếng và có nhiều đóng góp to lớn cho nền văn học thơ văn Việt Nam. Thơ ông là sức mạnh trí tuệ, mang tính triết lý sâu sắc. Với ngòi bút sắc sảo và sáng tạo, Chế La Viên đã khai thác triệt để các tưng quan đối lập, sự vận dụng hình ảnh sáng tạo mang nhiều ý nghĩa sâu sắc. Tiếng hát con tàu là bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Chế Lan Viên sau cách mạng: trở về đời sống thế sự và những trăn trở của cái “tôi” trong sự phức tạp, đa diện và vĩnh hằng của đời sống.

Tiếng hát con tàu lấy cảm hứng từ một sự kiện kinh tế – xã hội ở miền Bắc. Đó là cuộc vận động nhân dân miền xuôi đi khai hoang và phát triển kinh tế ở Tây Bắc những năm 1958 – 1960. Toàn bộ bài thơ là sự vận động tâm trạng của nhân vật trữ tình: đoạn đầu là lời giục giã với những câu hỏi dồn dập, tăng tiến; đoạn 2 là lời bày tỏ trực tiếp tình cảm dòng hoài niệm đầy ân tình về nhân dân trong những năm kháng chiến. Xen vào dó là những chiêm nghiệm đời sống được đúc kết trong giọng thơ trầm lắng. Đoạn cuối mang âm hưởng của khúc hát lên đường vừa dồn dập, lôi cuốn, vừa bay bổng , say mê.

Tiếng hát con tàu thể hiện tình cảm hướng về nhân dân, về đất nước với những kỷ niệm sâu nặng, nghĩa tình trong cuộc kháng chiến chống Pháp; cũng là hướng về với cội nguôn sáng tạo của thơ ca. Từ đó kêu gọi, cổ vũ mọi người đi xây dựng Tây Bắc, đi xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Ý nghĩa nhan đề và bố câu đề từ:

Tây Bắc ư ? Có gì riêng Tây Bắc
Khi lòng ta đã hoá những con tàu
Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát
Tâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu…

4 câu đề từ là niềm hân hoan, say sưa của tâm hồn trên hành trình đến với nhân dân và đất nướ. Hình ảnh “con tàu” là biểu tượng cho khát vọng đi xa, đến những vùng đất mới, những vùng đất xa xôi của Tổ Quốc. Hình ảnh con tàu là biểu tượng cho khát vọng lên đường, vượt ra khỏi cuộc sống chất hẹp, quẩn quanh để đến với cuộc đời rộng lớn.

Tây Bắc vừa là một địa danh cụ thể, vừa là một hình anhrh ghệ thuật. Đối với nhà thơ, Tây Bắc”còn là biểu tượng cho hiện thực cuộc sống rộng lớn, phong phú, ngọn nguồn sáng tạo của thi caTiếng hát con tàu là tiếng hát của một tâm hồn khao khát được đi xa, khao khát với cuộc sống rộng lớn, xây dựng đất nước.

Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu là khi nhà thơ đã hòa quyện giữa cái khách quan và chủ quan, giữa cái tôi và cái ta, của tâm hồn nhà thơ với con người Tây Bắc, với hiện thực vĩ đại – ngọn nguồn sáng tác của thi ca. Chế Lan Viên hành trình đến với nhân dân, đến với cuộc đời rộng lớn, cũng là sự trở về với chính tâm hồn mình. Đó là sự diễn đạt thông minh, sắc sảo để thể hiện sự hòa nhập tư tưởng, tình cảm, tâm hồn của người nghệ sĩ với cuộc đời rộng lớn của nhân dân, đất nước.

Con tàu này lên Tây Bắc, anh đi chăng?
Bạn bè đi xa, anh giữ trời Hà Nội
Anh có nghe gió ngàn đang rú gọi
Ngoài cửa ô? Tàu đói những vành trăng

Những câu thơ là sự chất vấn của nhà thơ đối với bản thân mình, cũng là sự trăn trở, hối thúc tự giục giã lên đường. Chính nhà thơ đã tự phân thân mình để chát ván bản thân trước nhiệm vụ của đất nước. Đó chính là những trăn trở, những băn khoăn của một tâm hồn luôn khao khát đến những sự đổi mới. Trong khi bạn bè, các lớp văn nghệ sĩ khác đã lên đường đến với những vùng đất xa xôi mới, thì nhà thơ vẫn đang ở đây. Tiếng rú gọi của cuộc đời lớn đang thúc bách ở ngoài kia. Nhà thơ lắng nghe những vang vọng mãnh liệt của cuộc đời mà thấy rạo rực muốn bước chân đi tìm.

Nhà thơ lắng nghe tiếng gọi khát khao của một khong gian mênh mông với bao sự tươi mới. Từ những nhận thức và cảm xúc ấy thi nhân hiểu rằng đến với cuộc đời, với nhân dân, đất nước là cần thiết, là lẽ sống của thi ca:

Đất nước mênh mông, đời anh nhỏ hẹp
Tàu gọi anh đi, sao chửa ra đi?
Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép
Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia

Đó chính là nỗi trăn trở, day dứt, khát vọng lên đường mãnh liệt của một tâm hồn khát khao mãnh liệt được hòa nhập với cuộc sống, với nhân dân, với đất nước.

Trên Tây Bắc! Ôi mười năm Tây Bắc
Xứ thiêng liêng rừng núi đã anh hùng
Nơi máu rỏ tâm hồn ta thấm đất
Nay rạt rào đã chín trái đầu xuân.

Vùng đất Tây Bắc được nhà thơ miêu tả là một vùng đất thiêng liêng, anh hùng. Vùng đất này lưu giữ những kỷ niệm sâu sắc thời kháng chiến, nó giúp Chế Lan Viên tìm lại chính mình. Chính vùng đất Tây Bắc “nơi máu rỏ” biết bao anh hùng, người chiến sĩ đã ngã xuống nơi đây để bảo vệ tổ quốc. Đến với Tây Bắc còn là sự tri ân, thành kính đối với vùng đất thiêng liêng anh hùng, cũng là với nhân dân, những con người bình dị đã làm nên cuộc kháng chiến oanh liệt, hào hùng.

Tây Bắc còn là ngọn nguồn của nghệ thuật. Nghệ thuật phải khỏi phát từ cuộc sống và chiến đấu của nhân dân. Nhiệm vụ của nghệ thuật là phản ánh và ngợi ca cuộc chiến anh hùng ấy. Những thành tựu có được hôm nay đều được khởi phát từ ngày hôm qua, bởi những con người lao động cần cù, anh dũng và kiên trung:

Ơi kháng chiến! Mười năm qua như ngọn lửa
Nghìn năm sau, còn đủ sức soi đường
Con đã đi nhưng con cần vượt nữa
Cho con về gặp lại mẹ yêu thương

Qua ngòi bút của Chế Lan Viên cuộc kháng chiến được so sánh với hình ảnh ngọn lửa. Đó là ngọn lửa của lòng yêu nước và căm thù giặc, ngọn lửa của ý chí bất khuất kiên cường, ngọn lửa đã giúp nhân dân ta dân tộc ta chiến đấu và chiến thắng. Mối quan hệ thời gian giữa mười năm và nghìn năm nhằm khẳng định tính vĩnh cửu, tính bất diệt của những phẩm chất cao quý của nhân dân trong kháng chiến. Ngọn lửa thiêng soi đường cho dân tộc “nghìn năm sau” ấy là ngọn lửa soi đường dẫn lối cho nhà thơ về với nhân dân, cho thi ca đến với cuộc đời.

Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa
Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa

Những câu thơ thể hiện niềm khao khát mãnh liệt và niềm hạnh phúc lớn lao của nhà thơ khi trở về với nhân dân. Tác giả sử dung những hình ảnh so sánh giữa hình ảnh “con gặp lại nhân dân” như “nai về suối cũ” “trẻ thơ đói lòng gặp sữa; nôi ngừng gặp cách tay đưa” để nhấn mạnh niềm hạnh phúc, niềm hân hoan của một người con khi được trở về với nhân dân, đất nước. Về với nhân dân là về với ngọn nguồn bất tận của sự sống, về với ngọn nguồn của sự sáng tạo nghệ thuật, về với những gì thân thiết, sâu nặng nhất của lòng mình.

Hình ảnh nhân dân trong kỉ niệm của nhà thơ được gợi lên hình ảnh của những con người cụ thể:

Con nhớ anh con, người anh du kích
Chiếc áo nâu anh mặc đêm công đồn
Chiếc áo nâu suốt một đời vá rách
Đêm cuối cùng anh cởi lại cho con

Con nhớ em con, thằng em liên lạc
Rừng thưa em băng, rừng rậm em chờ
Sáng bản Na, chiều em qua bản Bắc
Mười năm tròn! Chưa mất một phong thư

Con nhớ mế! Lửa hồng soi tóc bạc
Năm con đau, mế thức một mùa dài
Con với mế không phải hòn máu cắt
Nhưng trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi

Ở đoạn thơ này tác giả sử dụng điệp ngữ “con nhớ” thể hiện sự chồng chất những kỉ niệm. Cách xưng hô “con” thể hiện một tình cảm thân thiết, tình cảm gắn bó ruột thịt của những con người đã từng gắn bó thân thiết với mình trong kháng chiến. Qua đó ta thấy được những rung dộng sâu sắc, tha thiết, vừa say mê, mãnh liệt của một hồn thơ trong những giây phút giác ngộ một chan lí đời sống và cũng là chan lí cuả nghệ thuật.

Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ
Nơi nào qua, lòng lại chẳng yêu thương?
Khi ta ở, chi là nơi đất ở
Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn!

Những câu thơ thể hiện sự hoài niệm về một bản làng, về một khung cảnh ” đèo mây phủ”. Làm gợi lên một hình ảnh vùng đất chất chứa những kỉ niệm và từ đó dẫn tới những ý nghĩa, triết lý sâu sắc.

Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét
Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng
Như xuân đến chim rừng lông trở biếc
Tình yêu làm đất lạ hoá quê hương.

Ở đoạn thơ này nhà thơ đã đổi cách xưng hô từ “con” sang xưng hô bằng “anh” đối với “em”. Đó là cách xưng hô của tình yêu, của sự khăng khít, sự gắn bó chặt chẽ giữa những người đang yêu. Tình yêu ở đây không chỉ giới hạn trong tình yêu lứa đôi mà còn là sự kết tinh của những tình cảm sâu nặng đối với quê hương, đất nước.

Tiếng hát con tàu của nhà thơ Chế lan Viên là một bài thơ mang ý nghĩa cao cả. Với việc vận dụng hình ảnh sáng tạ, phong phú tạo nên những cảm xúc gắn với những suy tưởng giày triết lý. Chính vì thế triết lí được rút ra từ tình cảm, chân thành nên không khô khan mà vẫn tự nhiên, dung dị

Thơ - Tags: