Thi sĩ luôn được quý độc giả yêu thích và đánh giá cao. Để được như vậy đó chính là một chặng đường cô gắng miệt mài đổi mới và định hình phong cách của ông. Những bài thơ được trau chuốt và đầy tâm huyết luôn được bạn đọc tìm kiếm và chiêm ngưỡng. Ngoài kho tàng thơ đầy màu sắc thì ông còn là một dịch giả nổi tiếng với nhiều thi phẩm dịch xuất sắc. Hãy cùng chúng tôi đón xem nhé!

Công thức những mùa đông

I
Jag somnade i min säng
och vaknade under kölen.
På morgonen klockan fyra
då tillvarons renskrapade ben
umgås med varandra kallt.
Jag somnade bland svalorna
och vaknade bland örnarna.
II
I lyktskenet är vägens is
glänsande som ister.
Det är inteAfrika.
Det är inteEuropa.
Det är ingenstans annat än ”här”.
Och det som var ”jag” är bara .
ett ord i decembermörkrets mun.
III
Anstaltens paviljonger
utställda i mörkret
lyser som TV-skärmar.
En dold stämgaffel
i den stora kölden
utsänder sin ton.
Jag står under stjärnhimlen
och känner världen krypa in
och ut i min rock
som i en myrstack
IV
Tre svarta ekar ur snön.
Så grova, men fingerfärdiga.
Ur deras väldiga flaskor
ska grönskan skumma i vår
V
Bussen kryper genom vinterkvällen.
Den lyser som ett skepp i granskogen
där vägen är en trång djup död kanal.
Få passagerare; några gamla och några mycket unga.
Om den stannade och släckte lyktorna
skulle världen utplånas.

Dịch

I
Tôi thiu thiu ngủ trên giường
và thức giấc trong lòng tàu
Bốn giờ sáng
khi xương cốt của đời đã được cọ nắn
trong rét buốt lại hỏi thăm nhau
Tôi thiu thiu ngủ giữa đàn chim én
và thức giấc giữa lũ đại bàng
II
Trong ánh đèn pha, băng của eo biển
chói lên như mỡ nước
Không phải Châu Phi
Không phải Châu Âu
Không phải nơi nào khác là “ở đây”
Cái mà tôi đã là “tôi”
chỉ còn nguyên một chữ
trong mầm của đêm tối tháng mười hai
III
Những ngôi nhà nơi ẩn náu
nằm trong bóng đêm
sáng lên như màn ảnh vô tuyến truyền hình
Một âm thoa
giấu trong mùa tê lạnh
thốt lên âm giai của mình
Tôi đứng dưới bầu sao
cảm thấy thế giới đi vào
rồi thoát ra khỏi cái áo tôi khoác
như thoát ra khỏi một tổ kiến
IV
Ba cây giẻ thẫm đen dưới tuyết
Chúng thô nhưng khéo tay làm sao
Trong những chiếc lọ mênh mông của cây
lá xanh mùa xuân thức giấc như sủi bọt lên
V
Chiếc xe buýt lê bánh trong đêm đông
Chói lên như một con thuyền trong rừng thông
con đường là dòng sông chết, bó hẹp và lắng sâu
Khách ít: vài ông già và dăm cậu trai trẻ măng
Xe dừng, nếu vặn tắt đèn pha
mọi người bỗng như biến mất

Cung điện Palatset

Vi steg in. En enda väldig sal,
tyst och tom, där golvets yta låg
som en övergiven skridskois.
Alla dörrar stängda. Luften grå.
Målningar på väggarna. Man såg
bilder livlöst myllra: sköldar, våg-
skålar, fiskar, kämpande gestalter
i en dövstum värld på andra sidan.
En skulptur var utställd i det tomma:
ensam mitt i salen stod en häst,
men vi märkte honom inte först
när vi fångades av allt det tomma.
Svagare än suset i en snäcka
hördes ljud och röster ifrån
staden kretsande i detta öde rum,
sorlande och sökande en makt.
Också något annat. Något mörkt
ställde sig vid våra sinnens fem
trösklar utan att gå över dem.
Sanden rann i alla tysta glas.
Det var dags att röra sig. Vi gick
bort mot hästen. Det var jättelik,
svart som järn. En bild av makten själv
som blev kvar när furstarna gått bort.
Hästen talade: ”Jag är den Ende.
Tomheten som red mig har jag kastat.
Detta är mitt stall. Jag växer sakta.
Och jag äter tysnaden härinne”.

Dịch

Ta đi vào. Phòng rộng bao la
lặng và trống, nền hoa lóng lánh
như sân trượt pa-tanh bỏ vắng
Không gian xám xịt sắc chiều tà
Tranh trên tường. Hình ảnh không hồn
những tấm khiên rồi những đĩa cân
những con cá, những tên lính tráng
một thế giới điếc câm, tán loạn
Tượng điêu khắc dựng trong trống không
chính giữa phòng, mỗi một chú ngựa
từ đầu, ta vẫn không trông
bởi cảnh trống rỗng thu hút ta hơn nữa
Còn yếu hơn tiếng vỏ ốc chùng chiềng
nghe tiếng nói, tiếng ồn thành phố
quay trong không gian vắng hoang vô độ
rì rầm kêu, tìm kiếm uy quyền
Còn việc khác. Cái việc xì xào
đến cắm chặt ở năm ngõ vào
ngũ quan ta, không thể vào được
Trong cốc lặng im, cát đà trôi tuột
Đến lúc phải động đậy, trổ tài
Gần con ngựa, nó thật là to tát
đen như kim khí. Dáng oai
đứng đó, khi chúa nó đà đi mất!
Con ngựa bảo: “Ta là Độc Nhất
Ta đã đánh ngã ngựa cái trống-không từng cưỡi ta
Ta dần lớn lên. Đây chuồng của ta
Ta ăn sự lặng im mà nơi đây trải khắp”

Cuộc du hành Resan

På tunnelbanestationen.
En trängsel bland plakat
i ett stirrande dött ljus.
Tåget kom och hämtade
ansikten och portföljer.
Mörkret nästa. Vi satt
som stoder i vagnarna
som halades i hålorna.
Tvång, drömmar, tvång.
På stationer under havsnivån
sålde man mörkrets nyheter.
Folk var i rörelse, sorgset,
tyst under urtavlorna.
Tåget förde med sig
ytterkläder och själar.
Blickar i alla riktningar
på resan genom berget.
Ingen förändring ännu.
Men närmare ytan började
frihetens humlor surra.
Vi steg ur jorden.
Landet slog med vingarna
en gång och blev stilla
under oss, vidsträckt och grönt
Sädesax blåste in
över perrongerna.
Slutstationen! Jag följde
med bortom slutstationen.
Hur många var med? Fyra,
fem, knappast flera.
Hus, vägar, skyar,
blå fjärdar, berg
öppnade sina fönster.

Dịch

Trong ga tàu điện ngầm
Áp phích chen kề nhau
Trong ánh sáng mờ đều
Đoàn tàu đến để mang đi
những khuôn mặt người và những cặp tài liệu
Ga sau là bóng tối
Ngồi như tượng trong toa
trượt chạy qua các hầm
Gò bó, mộng mơ, lệ thuộc
Họ rao bán các tin đêm
nơi tàu dừng – theo toạ độ dưới mặt biển
Bóng người chuyển động, âu sầu, trầm mặc
và lặng im dưới mặt đồng hồ
Đoàn tàu chở đi xa
các áo khoác và bao tâm hồn
Ở mọi hướng vẫn cái nhìn
từ lúc ngao du trong núi
Chưa có gì khác hơn
Sắp ra khoỉe hầm tàu
Câu chuyện vẫn xôn xao
Chúng tôi bước lên mặt đất
Chỉ một lần thôi đất nước
vỗ cánh trước khi đứng lại
đất nước bao la, xanh tươi
Các bông lúa mì bay đến
trên các ke tàu điện ngầm
Cuối đường! Tôi ra đi
còn xa, xa hơn nữa
Chúng ta có bao nhiêu người?
Bốn, năm và hơn một chút
Những ngôi nhà, con đường, đám mây
vũng nước xanh, dãy núi
mở cửa sổ nhìn trời

Cuối cùng của lao động

Mitt under arbetet
börjar vi längta vilt efter vild grönska,
efter Ödemarken själv, bara genomträngd
av telefontrådarnas tunna civilisation.
Fritidens måne kretsar kring planeten Arbete
med dess massa och tyngd. – Det är så de vill ha det.
När vi är på hemväg spetsar marken öronen.
Underjorden lyssnar på oss via grässtråna.
Också den här arbetsdagen finns en privat stillhet.
Som i ett rökigt inland där en kanal går:
BÅTEN visar sig oväntat mitt i trafiken
eller glider fram bakom fabriken, en vit luffare.
En söndag går jag förbi ett omålat nybygge
som står framför en grå vattenyta.
Det är halvfärdigt. Träet har samma ljusa färg
som skinnet på en som badar.
Utanför lamporna är septembernatten alldeles svart.
När ögonen vänjer sig ljusnar det något
över marker där stora sniglar glider fram
och svamparna är talrika som stjärnona.

Dịch

Trên mảnh đất xinh tươi của lao động
tôi mơ sắc xanh thời hoang sơ
tôi mơ các sa mạc lặng tờ
chỉ có dây điện thoại văn minh chuyển động
Trăng thở tự do bám hành tinh Lao động
cả khối hình, trọng lượng, thiết tha
Khi về nhà, đất vểnh tai nghe ngóng
Lá cỏ đưa tin, lòng đất đợi chờ ta
Ngày lao động có những lúc lặng im riêng
Như trong vùng ám khói có con sông nước chảy
CON TÀU hiện ra, không ai trông ngó mấy
như trôi sau nhà máy, con tàu trắng lang thang
Chủ nhật, gặp một ngôi nhà mới, chưa sơn
được dựng lên trước dòng nước xám
Xây cất sắp xong. Gỗ có màu tươi trơn
như da của ai vừa mới tắm
Phía sau đèn, đêm tháng chín màu đen
Khi mắt ta quen, ánh sáng trở về trên đất
tại đó xuất hiện nhiều con sên to tát
Cũng chốn này đấm đông đặc tựa sao đêm

Dạo đầu Preludium

Uppvaknandet är ett fallskärmhopp från drömmen.
Fri från den kvävande virveln sjunker
resenären mot morgonenes gröna zon.
Tingen flammar upp. Han fornimmer – i dallrande lärkans
position – de mäktiga trädrotsystemens
underjordiskt svängande lampor. Men ovan jord
står – i tropiskt flöde – grönskan, med
lyftande armar, lyssnande
till rytmen från ett osynligt pumpverk. Och han
sjunker mot sommaren, firas ned
i dess bländande krater, ned
genom schakt av grönfuktiga åldrar
skälvande under solturbinen. Så hejdas
denna lodräta färd genom ögonblicket och vingarna breddas
till fiskgjusens vila över ett strömmande vatten.
Bronsålderslurens
fredlösa ton
hänger över det bottenlösa.
I dagens första timmar kan medvetandet omfatta världen
som handen griper en solvarm sten.
Resenären står under trädet. Skall,
efter störtningen genom dödens virvel,
ett stort ljus vecklas ut över hans huvud?

Dấu ấn Spår

På natten klockan två: månsken. Tåget har stannat
mitt ute på slätten. Långt borta ljuspunkter i en stad,
flimrande kallt vid synranden.

Som när en människa gått in i en dröm så djupt
att hon aldrig ska minnas att hon var där
när hon återvänder till sitt rum.

Och som när någon gått in i en sjukdom så djupt
att allt som var hans dagar blir några flimrande punkter,
en svärm,
kall och ringa vid synranden.

Tåget står fullkomligt stilla,
Klockan två: starkt månsken, få stjärnor.

Dịch

Vào hai giờ sáng: ánh trăng. Xe hoả dừng lại
giữa đồng bằng. Xa xa, những chấm sáng thành phố
lấp lánh lạ lùng tận nơi cùng kiệt của mắt nhìn
Giống như khi một người đi khá sâu vào giấc mộng
đến nỗi anh không nhớ là mình đã cư trú nơi đó
lúc trở về gian phòng của anh
Giống như người ta đi vào sâu quá trong bệnh tình
đến nỗi tinh chất của tháng ngày chuyển thành các tia sáng
một lũ tia sáng vô nghĩa và nhạt nhẽo tận nơi cùng kiệt của mắt nhìn
Đoàn tàu hoàn toàn bất động
Hai giờ: một ánh trăng bất động. Và sao, cũng hiếm gặp

Dưới sức ép Under tryck

Den blå himlens motordån är starkt.
Vi är närvarande på en arbetsplats i darrning,
där havsdjupet plötsligt kan uppenbara sig –
snäckor och telefoner susar.
Det sköna hinner man bara se hastigt från sidan.
Den täta säden på åkern, många färger i en gul ström.
De oroliga skuggorna i mitt huvud dras dit.
De vill krypa in i säden och förvandlas till guld.
Mörkret faller. Vid midnatt går jag till sängs.
Den mindre båten sätts ut från den större båten.
Man är ensam på vattnet.
Samhällets mörka skrov driver allt längre bort.

Dịch

Tiếng động cơ từ bầu trời xanh lớn
Chúng tôi đứng run trong chỗ việc đang làm
tại đó đáy biển khơi bất ngờ xuất hiện
vỏ sò và điện thoại có tiếng dội như nhau
Chúng ta chỉ thấy được cái đẹp ở phía này
Lúa mì trên các cánh đồng, khá nhiều màu sắc trên một con sông ửng vàng
tại đó những cái bóng nổi sóng, đổ lên trong đầu tôi
Chúng muốn thọc ngang qua các cây lúa mì và tự đổi thành vàng
Bóng tối ngả xuống. Khuya, tôi lên giường
Chiếc thuyền nhỏ, con tàu lớn đã thả ra
Người ta một mình trên sóng nước
Các vỏ trứng của làng quê còn trôi dạt xa hơn

Điệu ca ai oán Lamento

Han lade ifrån sig pennan.
Den vilar stilla på bordet.
Den vilar stilla i tomrummet.
Han lade ifrån sig pennan.
För mycket som varken kan skrivas eller förtigas!
Han är lamslagen av något som händer långt borta
fast den underbara kappsäcken dunkar som ett hjärta.
Utanför är försommaren.
Från grönskan kommer visslingar – människor eller fåglar?
Det går veckor.
Det blir långsamt natt.
Malarna sätter sig på rutan:
små bleka telegram från världen.

Dịch

Anh đặt cây bút xuống
Nó nghỉ yên trên bàn
Nó nghỉ trong hư không
Anh đặt cây bút xuống
Nhiều việc không viết được
cũng không thể để yên
Bị đờ đẫn, tê liệt
Bao việc ở nơi xa
dù túi đeo nhịp đập run rẩy
chính trái tim ta
Bên ngoài, mùa hạ chói chang
Rì rào cây xanh hát
Tiếng chim chuyền cành đang hót
Hay tiếng người nói, cười
Anh đào nở mơn mởn
Xe tải trở về nhà
Các tuần lễ đi qua
Ban đêm từ từ buông
Nhầy bọ trên gạch hoa:
những bức điện xanh gửi cho trần thế

Giấc mơ Balakirev (1905)

Det sorte flygel, den glinsende edderkop
stod dirrende midt i sit net af musik.
I koncertsalen tonedes et land frem
hvor stenene ikke var tungere end dug.
Men Balakirev faldt i søvn under musikken
og drømte en drøm om tsarens droske.
Den rullede frem over klippesten
rakt ind i det krageskrattende mørke.
Han sad alene inde i vognen og så –
men løb dog ved siden af på vejen.
Han vidste, at rejsen havde varet længe
og hans ur viste år – ikke timer.
Det var en mark hvor ploven lå
og ploven var en nedstyrtet fugl.
Det var en bugt hvor fartøjet lå
indefrosset, med folk på dækket.
Drosken gled derhen over isen med en lyd og hjulene
spandt og spandt med en lyd af silke.
Et mindre krigsfartøj: “Sevastopol”.
Han var ombord. Besætningen kom frem.
“Du slipper for at dø hvis du kan spille.”
De pegede på et ejendommeligt instrument.
Det lignede en tuba, eller en fonograf,
eller en del af en ukendt maskine.
Stiv af rædsel, hjælpeløs forstod han: det er
det instrument der driver orlogsskibene.
Han vendte sig mod den nærmeste matros
tegnede fotvivlet med hånden og bad:
“Gør korstegnet som jeg, gør korstegnet som jeg!”
Matrosen stirrede sørgmodigt som en blind,
strakte armene ud, hovedet sank ned –
han hang som fastspigret i luften.
Trommerne gik. Trommerne gik. Bifald!
Balakirev vågnede op af sin drøm.
Han så manden ved flyglet rejse sig.
Bifaldets vinge smældede i salen.
Ude lå gaderne mørkelagt af strejken.
Droskerne rullede hastigt i mørket.

Dịch

Chiếc dương cầm cánh đen, dãy phím bóng loáng
rung êm giữa bản nhạc của người
Trong phòng hoà hoà nhạc dội lên tâm hồn một đất nước
các tảng đá từng không nặng trĩu hơn sương
Balakirev ngủ thiu thiu trong nét nhạc
và mơ xe ngựa mui gập của Sa hoàng
Xe chạy trên đường lát gạch hoa
Chìm trong bóng tối vang lên tiếng quạ kêu
Người ngồi một mình trong xe và nhìn ra ngoài
song lại thấy người chạy bên cạnh xe trên đường
Người biết rõ cuộc du hành dài giờ
đồng hồ của người không chỉ giờ mà chỉ năm
Người trông thấy cánh đồng, một chiếc cày nằm đó
là một con chim bị rơi xuống đất
Người trông thấy một vũng nước trong đó một chiếc tàu
bị vây trong băng giá, đèn tắt ngấm, mọi người đều đứng trên boong
Xe ngựa mui gập chạy đằng kia trên băng
bánh nó quay, quay trong tiếng nhẹ nhàng tơ mịn
Một chiếc tàu chiến nhỏ: tàu Xê-bát-xtô-pôn
Neo ở bến. Đoàn thuỷ thủ đến gần
“Ông sẽ còn sống nếu ông biết chơi với nó”
Họ chỉ cho ông xem một vật dụng lạ kỳ
Giống một tuba nhạc khí loại kèn hay một máy hát
hoặc một loại máy mà ông chưa hề biết
Bối rồi rồi bị sững sờ vì lo sợ, ông bèn hiểu rằng
một dụng cụ làm cho các tàu chiến chạy
Ông quay về phía người thuỷ thủ đứng gần nhất
làm một cử chỉ vô hy vọng và khẩn nài anh:
“Hãy làm dấu thập ác như ta, dấu thập ác!”
Thuỷ thủ buồn thiu ngắm ông như một người mù
Anh dang tay ra và đầu ngả xuống
đứng sững như trời trồng
Các trống rung lên. Tiếng trống gầm lên. Tiếng chúc muôn năm!
Balakirev nhô lên trên giấc chiêm bao
Cánh bay của các tiếng hoan nghênh vang lên trong phòng
Người thuỷ thủ trông thấy nhà chơi dương cầm đứng dậy
Bên ngoài các con đường đều bị cuộc đình công làm cho tối lại
Những chiếc xe ngựa mui gập vội vàng luồn vào đêm đen

Gogol

Kavajen luggsliten som en vargflock. Ansiktet som en marmorflisa. Sitter i kretsen av sina brev i lunden som susar av hån och misstag, ja hjärtat blåser som ett papper genom de ogästvänliga passagerna.
Nu smyger solnedgången som en räv över detta land, antänder gräset på ett ögonblick. Rymden är full av horn och klövar och därunder glider ­kaleschen skugglik mellan min faders upplysta gårdar.
Petersburg beläget på samma breddgrad som förintelsen (såg du den sköna i det lutande tornet) och kring nedisade kvarter än svävar manetlikt den arme i sin kappa.
Och här, insvept i fastor, är han som förr omgavs av skrattens hjordar, men de har för länge sedan begivit sig till trakter långt ovanför trädgränsen.
Människors raglande bord. Se ut, hur mörkret bränner fast en vintergata av själar. Så stig upp på din eldvagn och lämna landet!

Dịch

Một chiếc áo ngắn mòn sờn, giống như một bầy đàn chó sói
Một khuôn mặt tựa một mảnh đá cẩm thạch vỡ
Ngồi giữa một đống thư từ, trong khoảng rừng cây ấy
nó run lập cập toàn những châm chọc mỉa mai, toàn những sự hiểu lầm
và trái tim ông bay bổng lên như một tờ giấy trong các ngõ hẻm không hiếu khách
Giờ này, mặt trời lặn chảy trơn như một con chồn cáo trên các khoảnh đất đai nung đốt trong giây lát
Không gian chứa đầy sừng và móng vuốt
và dưới phía thấp hơn
chiếc xe ngựa mui gập trôi như một chiếc bóng giữa các ngôi vườn sáng chói của bố tôi
Petersburg ở cùng vĩ tuyến với sự đau buồn
(bạn có trông thấy cô gái đứng nghiêng mình trong ngôi tháp của cô ta?)
và tại ngoại vi các phường đầy sương giá, con người cùng khổ ấy còn lượn đi lượn lại trong áo khoác của ta, như một con sứa
Và giữ nếp như trong tuần chay tịnh của anh, đây con người mà ngày xưa các bầy lũ của sự cợt nhả đã vây quanh,
các bầy lũ này thời gian dài đã đến nhập cuộc trong các vùng xa hơn nhiều với biên giới của vô vàn cây cối
Chiếc bàn lắc lư của các con người
Bạn hãy nhìn xem ban đêm đã thiêu huỷ đến chừng nào sông Ngân hà
của các tâm hồn
Bạn hãy bước lên chiếc xe bốn bánh của ngọn lửa thiêng

Hoà bình trị vì trên sống mũi tàu sôi sục

I den forsande stäven är vila
En vintermorgon förnimmes hur denna jord
vältrar sig fram. Mot husets väggar
smattrar ett luftdrag
ur det fördolda.
Omflutet av rörelse: stillhetens tält.
Och det hemliga rodret i flyttfågelsflocken.
Ur vinterdunklet
stiger tremulo
från dolda instrument. Det är som att stå
under sommarens höga lind, med tiotuen
insektsvingars
dån över sitt huvud.

Dịch

Một sớm mùa đông, tôi cảm thấy
trái đất đi về phía trước bằng cách tự lăn tròn
Một nhịp thở của không khí
đến từ lòng đất sâu kín
lộp bộp trên các tường nhà
Tắm trong sự chuyển động: chiếc lều của lặng im
Bánh lái huyền vi của một đám chim mùa di trú
Điệu rung giọng các nhạc cụ cất giấu đâu đó
bay lên từ bóng dáng mùa đông
Dường đâu lúc chúng ta đây
dưới tán cây đoạn lớn mùa hè
với tiếng vù vù
của hàng chục triệu
cánh côn trùng bay trên ta

Izmir vào lúc ba giờ

Strax framför på den nästan tomma gatan
två tiggare, den ene utan ben
–han bars omkring på ryggen av den andre.
De stod – som på en midnattsväg ett djur
står bländat stirrande i bilens lyktor
–ett ögonblick och fortsatte att gå
och rörde sig som pojkar på en skolgård
snabbt över gatan medan middagshettans
myriader klockor tickade i rymden.
Blått gled förbi på redden, flimrande.
Svart kröp och krympte, stirrande ur sten.
Vitt blåste upp till storm i ögonen.
När klockan tre var trampat under hovar
och mörkret bultade i ljusets vägg
åg staden krypande vid havets dörr
och glimmande i gamens kikarsikte.

Dịch

Cách con đường có ít khách đi một chút
hai người hành khất, một cụt chân
và người kia cõng trên lưng đưa đi nơi này nơi khác
Họ dừng lại – như trên con đường khuya
một con vật mắt bị chói nhìn chằm chằm vào đèn pha mỗi một chiếc xe
họ dừng lại một lúc rồi tiếp bước
Cũng nhanh như học trò trên sân chơi
họ băng qua đường trong khi vô số đồng hồ nóng như thiêu
kêu tích tắc trong không gian trưa
Từ màu xanh nó đi qua trên bờ biển bằng những cuộc trượt dài cháy lửa
Từ màu đen nó bò lê rồi tự xoá mất, cặp mắt nhớn nhác trong mô đá
Từ màu trắng nó thổi thành đại phong vào mắt nhìn
Khi chân đã bước trong ba tiếng đồng hồ
bóng tối đập vào tường của ánh sáng
Thành phố bò lê ở các cửa biển
Chói long lanh trong mắt kính kền kền

Khi chúng ta từ các đảo xa trở về

När båten nalkas därute
kommer ett slagregn och gör den blind
Kvicksilverkulorna ryser på vattnet.
Det blågrå lägger sig ner.
Havet finns också i stugorna.
En strimma i farstuns mörker.
Tunga steg på övervåningen
och kistor med nystrukna leenden.
En indisk orkester av kopparkärl.
En baby med ögon i sjögång.
(Regnet börjar försvinna.
Röken tar några stapplande steg
i luften över taken.)
Här följer mera
som är större än drömmar.
Stranden med alarnas kyffen.
Ett plakat med påskriften KABEL.
Den gamla ljungheden lyser
för någon som kommer flygande.
Bakom klipporna rika tegar
och fågelskrämman vår utpost
som vinkar färgerna till sig.
En alltid ljus förvåning
när ön räcker ut en hand
och drar mig upp ur sorgsenhet.

Dịch

Khi tàu vào gần
mưa rào đổ xuống che lấp nó
Trên sóng rung rinh mấy giọt thuỷ ngân
màu xám xanh trải ra càng rõ
Đại dương vào tận các túp lều
Ánh mờ trộn với bóng đêm gian phía trước
Trên gác lửng ai kia nặng bước
hòm gỗ cười tươi lại mới sơn đều
Dàn nhạc thổ dân tân thế giới
bình chậu bằng đồng reo tiếng reo khơi gợi
Một đứa trẻ sơ sinh
cặp mắt sóng lừng xinh
(Cơn mưa dần ngớt
Khói bước từng bước một
trong không gian
trên mái nhà lơ lửng bàng hoàng)
Tiếp đây vẫn còn những thư
lớn hơn trong chiêm bao
Bãi biển và hốc trú cá chình
Một áp phích ghi DÂY CÁP
Khoảnh trăng già nua sáng gấp
báo trước cho ai thường đến vỗ cánh bay nhanh
Đất màu mỡ
sau mỏm đá
người lính canh
kêu gọi kéo cờ
Sự ngạc nhiên
có thể lớn hơn
khi hòn đảo quê bắt tay tôi
kéo tôi ra khỏi nỗi buồn

Khổ thơ và khổ thơ hồi

Den yttersta kretsen är mytens. Där sjunker rorgängaren
upprätt
bland glittrande fiskryggar. Hur långt från oss!
När dagen står i en kvav och vindlös oro –
som Kongos gröna skugga håller
blåmännen i sin dunst –
när all denna drivved på hjärtats trögt
slingrande flod
tornar upp sig.
Plötslig förändring: in under himlakropparnas vila
glider de tjudrade.
Med aktern högt, i hopplöst
läge, står skrovet av en dröm, svart
mot ljusrött kustband. Övergivna
störtar sig åren, snabbt och ljudlöst – som slädskuggan, hundlik, stor
far över snö,
hinner skogen.

Dịch

Vòng ngoài là vòng của huyền thoại. Tại đó kẻ đục khoét chìm đắm trong chết đứng
giữa lưng những con cá chói chang
Xa chúng ta đến vậy sao! Lúc mà ban ngày được tóm tắt trong một công việc làm nghẹt thở do vắng gió
tựa như bóng xanh lá cây của Congo
tại đó những con người mặc áo quần xanh nín thở
khi mà gỗ đóng bè trôi sông
chất đống theo chiều dài con nước
trong tình tiết lắt léo lười biếng của con tim
Một sự xáo trộn bất ngờ: những người bị xích xiềng trượt dài dưới sự nghỉ ngơi của các bản thể nhà trời
Đuôi thuyền vểnh cao trong một trạng thái tuyệt vọng
cái vỏ của mộng mơ tách ra
màu đen trên nền đỏ nhẹ của đất bờ
Bị bỏ rơi, các mái chèo rơi vội xuống và không có tiếng động
tựa bóng xe con trượt tuyết
giống như một con chó to
nó chạy trên băng giá
và trở lại với rừng cây

Nguyễn Xuân Sanh là một nhà thơ sở hữu một số lượng thơ đồ sộ được người đời ca tụng và tìm kiếm. Trên đây là những thi phẩm dịch xuất sắc của ông, qua đó chúng ta thêm phần ngưỡng mộ khả năng sáng tác tuyệt đỉnh của thi sĩ này. Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết!

Xem Thêm :