Tập thơ: Đất sau mưa (1977) – Bằng Việt (Nguyễn Việt Bằng) Tiếp



Tập thơ: Đất sau mưa (1977) – (Nguyễn Việt Bằng) được ông sáng tác năm 1977, là một trong những tập thơ hay, tạo nên tên tuổi của nhà thơ Bằng Việt. Tập thơ Đất Sau Mưa gồm 20 bài thơ.

Bè bạn một vùng đồi

1

Cho tôi nhìn ngã ba sông
Nhìn cái bến đá dăm, bắt đầu thời dựng nghiệp,
Cho tôi nhìn lơ thơ vòm khói trắng
Những dải khói chưa bay hết một vùng đồi…

Thiên nhiên bao la và rộng lượng như người,
Cho tôi nắm bàn tay anh thô rám
Vết sẹo và vết chai đủ nhận ra bè bạn
Đất đỏ bay mù lấm tấm áo xanh…

Cho tôi nhập vào cái dáng trẻ lao nhanh
Bước tất bật trên lối mòn rất dốc
Cây bén rễ vào sườn đồi khó nhọc
Vẫn trổ hoa màu mát mắt cho người!

Tôi thở gấp, say mê đi suốt vùng đồi
Cỏ gianh sắc, cỏ gà dai, cỏ may rậm lùa chân
như chấu cắn!
Vừa rẽ lối, đã râm ran bè bạn,
Từng cung bậc thấp cao như luyến láy không rời…

Bỗng thấy vui cái vui tấp nập của người,
Thấy ấm cái hơi lam làm đồng đội
Ngỡ cứ chạy miên man cả ngày không lạc lối
Cả vùng đồi tươi sức sống đỏ hoe!

2

“Bão mưa chiều ập đến. Bão mưa đi…”
Cầu vồng vắt ngang Việt Trì – Yên Thế
Bạn của hồn tôi ơi! Anh đúng là thi sĩ
Lòng dào lên rực rỡ bảy màu yêu!

Ráng hoàng hôn đan đậm nhạt trong chiều
Cái xóm nhỏ công nhân, màu phản quang vàng chói,
Anh bối rối trước sắc hoà tươi rói
Của những đầu hồi, chỏm mái với tường vôi,
Mỗi em gái trên cao cũng khoát gió ngang trời
Giải khăn toả lẫn với màu vô tận…

Đá tảng ở ngay sân. Sau nhà là vạt ruộng
Hố bom ba mùa, nước đã ngập thành ao,
Điện sáng rồi, còn nghe tiếng ếch kêu,
Cuộc sống cộng mọi thanh âm nhiều đời vào hiện tại.

Chè sao lấy, sắc tươi mà ngọt mãi
Sắn mới trồng, luộc bở xốp trên tay,
Chả có gì đâu! – Anh nói, khẽ xoa tay,
Nhưng chất mật nguyên sơ giữa lòng tôi đọng lại!

3

Những vòng đồi quanh anh còn mở ra xa ngái
Dãy phố sẽ định hình, vườn tược sẽ sinh sôi,
Từ lúc mới tay không, chưa sinh cơ lập nghiệp,
Đã nhìn ra hạnh phúc của nhau rồi!

Các bạn hiền như lúa như khoai mà thẳm sâu nghệ sĩ,
Mỗi việc của đời đều muốn biến ra thơ!
Trồng giàn mướp, luống hoa, muốn tìm ra ý nghĩa,
Ghi dấu hiệu tương lai từ mỗi phút bây giờ!

Tôi tin hơn vào cái đẹp tinh thần khi ở bên các bạn,
Dẫu mới có xung quanh nào dáo, nào bay,
nào búa, nào choòng,
Dưới mái liếp che thưa, giữa hạt cơm còn sạn,
Mỗi thương cảm, vui buồn…
càng đích thực mình hơn!

Việt Trì, 1975

Đất nước

1
Những con chim mỏ vàng lại tha rơm mới về làm tổ
Trong bóng cây chưa cao, nghe tiếng trẻ con cười
Đường nắng lượn như vồng hoa cải nụ
Một điệu hát hành quân xen giữa tiếng ru nôi!

Cả trận tuyến thần kỳ xuyên Nam Bắc xa xôi
Thành mắt xích liên hoàn sau bao thời đánh giặc.
Trải tuổi lớn Trường Sơn, nhớ tuổi thơ Việt Bắc,
Vẫn nương đồi, đốm lửa, gió vào thu…

Hai mươi mấy năm. Ngỡ mới đó, đâu ngờ
Bao lớp nghé thay trâu đã cày lên vạt ruộng,
Bao làng mạc vùi đi, bao cánh rừng ngả xuống
Bao cuộc đời tan hợp, đợi chờ nhau…

Đâu mái nhà quê, hương khói quyện bền lâu
Đã hạ xuống, che cho hầm trú ẩn!
Đất rát bỏng bên trên, dù quân thù san phẳng,
Thì tự dưới hầm sâu, tất cả vẫn hồi sinh!
(Ôi địa đạo – mạch đời khơi lạ nhất
Chưa có đất nơi đâu giống được đất quê mình).

Dáng dấp quê hương chắc, nặng, đã hình thành
Qua khói khét, bùn khô và đất đỏ,
Mùi cỏ chiến hào đắng vào giấc ngủ
Vị mồ hôi mặn chát miếng ăn,
Trước chân trời thẳng căng
Tấm lòng ta thật lớn!

2
Đất nước! Còn có nơi nào chúng ta chưa sống?
Những đỉnh dốc dài, sương tím ngát mùa thu,
Những đêm mênh mông trên biển lớn sa mù
Những hốc núi lập loè, đá lên màu lân tinh xanh biếc…

Đất nước ơi đất nước
Tiếng tắc kè kêu trong lũng hẹp rừng hoang
Quân đến, quân đi, cỏ gianh ùa gió rét
Dải Trường Sơn trùng điệp những sư đoàn.

Những con sông hoa mắt giữa chiều vàng
Những tán lá xanh rờn trong cơn mê sốt rét,
Triệu người sống qua đây nối gót người đã chết
Trong cuộc trường chinh bất tận, tới ngày vui.

Ở đây mỗi mùa thu, mạch máu lại bùng sôi,
Mỗi mùa hè thử thách, từ cao xa nung nấu lửa,
Mỗi mùa xuân tinh mơ, như đất trời khai sinh lần nữa,
Mỗi mùa đông, như lịch sử ngàn năm
âm ỉ dọc rừng già.

Ai hay đâu nghìn đỉnh núi mù sương
Lốc cốc tiếng mõ trâu, căn cứ ngày kháng Pháp
Nay thành đường lớn Hồ Chí Minh, băng đèo
vượt thác,
Những đoàn pháo, đoàn tăng rung chuyển đất
mấy nghìn đêm…

3
Rạo rực suốt trong lòng, đất chẳng phút nào yên,
Cây rắc hạt qua thung, mùi hương bay đêm lạ,
Mầm lúa lốc bỏ quên cũng làm thơm chân rạ,
Vệt mưa rào thấm mát đất hơn xưa!

Bãi sỏi gầy, dù xơ xác sim mua,
Doi đất mặn, con hà trôi dạt đến…
Năm tháng ở dài lâu cùng với người trực chiến
Đã trổ mầm xanh, thân thiết, ruột rà…

Ôi ngọn đèn phòng không trên bãi trống không nhà,
Giọng con gái giữa vùng bom toạ độ,
Em chốt đó, suốt mấy mùa dông gió,
Giành đất sinh sôi giữa biển cùng trời!

Và mẹ lưng còng tóc bạc của con ơi,
Mẹ đâu biết có tuổi già, tuổi nghỉ,
Mở mắt đã lam làm, chợp mắt còn lo nghĩ,
Những vết nhăn cùng đất một màu nâu!

Đất nước ủ trong mình lòng kiên nhẫn bền lâu
Làm đằm lại hết mọi điều dữ dội…
Bao lớp giặc tan đi, đều không đo thấu nổi
Mạch đập hiền hoà, độ lượng của tim ta!

4
Tôi đi như bốc lên trên bụi đường số Một
Qua gạch vụn hai bên, người đang tới dựng nhà,
Nhịp cầu mới vươn tay kéo nhịp cầu đã sập
Cây nham nhở tàn tro vừa kịp nhú nhành hoa…

Tôi gặp khắp nơi những bàn tay vun quén
Tôi thuộc đến như in những vóc dáng cần cù
Đất nước dám hy sinh tất cả dành Kháng chiến
Ngày thắng giặc hôm nay, sẽ đủ sức làm bù.

Mỗi em bé phút này tung tăng vào lớp Một
Đều sinh trong thời có triệu tấn bom rơi,
Mỗi cô gái thu này bắt đầu may áo cưới
Đều đã đứng lên từ công sự bom vùi!

Đâu tiếng ru à ơi qua nghìn làng sơ tán?
Đêm thức trắng không đèn, chuyến phà chật mùa mưa?
Kỷ niệm vẫn theo ta, diết da và loé sáng,
Truyền sức sống hôm qua vào sức sống bây giờ!

Những thế hệ chiến tranh sẽ còn nguyên âm hưởng
Trong thế hệ hoà bình nối tiếp lớn theo nhau…
Gió lại thổi vào thu… Qua tất thảy
khổ đau và vui sướng,
Vị ngọt vẫn theo ta, từ Tháng Tám ban đầu!

Tam Đảo, 1973

Đất trẻ

Tới Cực Nam rồi…Trời, nước, bãi, bờ… đâu?
Một giải sông xa óng ánh hai màu,
Bên tả ngạn thấm mùn tràm đỏ lựng
Bên hữu ngạn ngời ngời muôn lớp sóng
Như mây báo hừng đông, như vô tận sắc cờ!

Sông Cán Gáo nối vào sông Ông Đốc mùa mưa,
Nối sang Chắc Băng, nối vào Đất Mũi,
Một giải U Minh trải dài phía dưới
Xanh ngút ngàn xanh, kênh rạch xẻ trùng trùng
Nước bao la ôm lấy bãi lấy đồng
Đất sinh nở hàng ngày, nước đổi thay từng phút,
Lách tách đàn cá trèn, long bong đàn thác lác,
Cá lóc to trùi trũi sục trong bùn,
Nghe gió bấc lên, cá trảy hội ùn ùn,
Bọt lấm tấm như cơm sôi trên nước
Sức trẻ quẫy bừng bừng nơi đất dâng tinh chất
Có gì trực quan hơn sức trẻ ở nơi này?

Những bãi Cò, trắng rợp cánh cò bay,
Những bờ bụi Láng Le, đầy le le, bìm bịp,
Nước phèn đọng, chưa dễ dàng cấy được,
Đã trổ dần rừng dứa lựng hương thơm,
Chỉ ba mùa, cây mẹ đẻ cây con
Dứa chen khít tầng tầng không lách được!

Tôi đứng giữa bao la…Đất cồn cào sinh lực
Chờ những bàn tay đến khai phá hết mình…

Chân tôi quánh trong mùn đất bãi sình
Ngực tôi thở mùi nguyên sơ tạo lập,
Ngây ngất hồn tôi với tuổi thơ của đất
Tới Cực Nam rồi… Vẫn chẳng thấy chồn chân!

1975

Đêm cuối cùng trên đường 20

Ngọn đèo nghìn thước miền Tây
Chia tay đêm ấy, ngập đầy xa xanh…
Buồn, vui… dâng hết trong mình
Sớm mai ra… đã hoà bình, thật sao?

Bụi mù từng đám xe vào
Hàm răng trắng, nụ cười trao… vội vàng,
Rừng còn đang cháy ngổn ngang,
Xô cây mà vượt, dập tàn mà đi!

Con đường thông giữa hai quê
Ai qua lối đó, ai về lối đây?
Đầu đường, lửa khói liền mây,
Cuối đường, đã rộn nhịp chày khua đêm!
Đầu đường, thư bóc nhá nhem,
Cuối đường, mới dám rọi đèn, thử soi!

Hai miền, vẫn một mà thôi
Nghĩa tình bên đó, chẳng vơi bên này,
Đói no mấy thuở xum vầy
Nghìn ngày trận mạc, nghìn ngày thương nhau!

– “Anh về ngoài đó lâu lâu
Đừng quên muối nhạt, cơm rau, măng rừng,
Đạn bom dù biết tạm ngừng,
Đất chưa sạch giặc, tuy mừng, vẫn lo…”

Đi trong tíu tít dặn dò
Càng thương người ở chiến khu trong này!
Ngọn đèo nghìn thước miền Tây
Buồn vui đôi ngả… ngập đầy xa xanh…

Suốt đêm… Rừng cháy một mình,
Có hay đâu, cuộc chiến tranh ngưng rồi!

Đêm vừa ký Hiệp định Paris, tháng 1-1973

Đêm trên vùng cá

Đẩy thuyền ra, triều chậm, nước xanh lơ,
Chim xeo xéo ngoài xa kêu nháo nhác:
Có thể đêm nay gặp đàn cá đi!

Mắt tôi say màu bạc cá trích ve
Lưng loáng trắng lượn vòng trong biển lặng
Những con mực đen, con ngừ tím thẫm,
Con cá liệt đuôi cong, óng ánh năm màu,
Những con cờ ngoăn ngoắt đuổi theo nhau,
Cá chim như tên vút ngang đầu sóng…
Tháng đầu xuân, cá vào áp lộng
Biển dăng dăng trăm ngọn thuyền đèn.

Mùi mồ hôi hoà vị muối thân quen
Hơi gió biển phả từng luồng ấm lạnh
Sóng đặc kịt ruổi theo trời sáng ánh
Thuyền như thoi vùng vẫy giữa sao sa…

Nào hò dô! Bốn phía lưới thuyền ta,
Dạng chân chèo vững chãi giữa bao la,
Nhịp biển thở rùng cánh tay chắc nặng
Đêm mênh mông trong hồn biển giao hoà…

Tất cả đều say bầu trời tĩnh lặng
Say tiết tấu dập dềnh những lưới trắng tung cao
Cho tuổi trẻ, cánh tay trần khoát rộng
Thu sức sống trùng khơi – những thác cá ùa vào!

1974

Đôi dòng tiễn đưa bà nội

“Một bếp lửa chờn vờn sương sớm…”
(Bếp lửa – 1963)

Mười năm rồi, bà ạ,
Cháu chẳng có gì hơn trong phút tiễn đưa bà!

Rất nhiều điều giản dị, sâu xa,
Bà mong ước, cháu còn chưa đạt được,
Bà trầm lặng hơn ngày trước
Đau ốm nhiều, vất vả cũng nhiều hơn…

Đôi mắt càng già, càng thấm thía yêu thương,
Dù da dẻ khô đi, tấm lòng không hẹp lại,
Giàu kiên nhẫn, bà còn hy vọng mãi
Chỉ mỗi ngày dắn lại, ít lời thêm.

Nhớ năm Giônxơn đánh phá liên miên
Cháu sơ tán tận trên Hà Bắc,
Ba mươi Tết, đạp về quê cập rập,
Đêm không trăng, bà đi nấu xoong chè
Bếp nhỏ lui cui che chắn bốn bề
In hệt túp lều năm xưa kháng chiến
(Có con chim xa kêu mùa vải chín
Đom đóm bay xanh đặc cả cây vườn!)

Cái năm cuối cùng bom đạn Níchxơn
Bà sơ tán tận trên Triều Khúc
Làng xa tắp, nằm kề bên Bến Đục,
Giếng thơi xa, đi kéo nước một mình!
Cháu lên thăm, thắc thỏm mãi không đành,
Sắp đặt vội, để còn vào Quảng Trị,
Bà an ủi: “Dào ôi! Mày cứ vẽ,
Vào trong kia còn bom đạn bao nhiêu!”

Bãi cỏ lau già, bà đứng, dáng xiêu xiêu,
Cành xoan mảnh trên tay làm gậy chống.
Gió xa tắp, đồng tháng Năm lồng lộng,
Tóc phơ phơ, hắt đỏ ráng chiều…

Và cháu đi, không kịp nghĩ chi nhiều
Đến những ngày bà bắt đầu đau yếu…
Tháng Tám nước to, chỗ bà khuất nẻo,
Tháng Mười hai, dồn dập B.52!

*

Mười năm rồi, bà ạ!
Cháu chẳng có gì hơn trong phút tiễn đưa bà!

Giờ bà đã nằm trên đất đồng làng
Con đường cũ cháu về. Gắt gao màu nắng đỏ.
Cuộc đời bà đã qua tất cả
Lẳng lặng, khiêm nhường, không dấu tích gì!

Mười năm
Cháu dần lớn, nên người.
Rất nhiều điều phải đi đến tận cùng,
Chỉ có lòng bà thương
Đi bao giờ hết được?

1974

Em hãy đến cánh đồng Mường Thanh

1

Em hãy đến cánh đồng Mường Thanh
Năm trận đánh xảy ra, em chưa đầy bảy tuổi
Có thể trên đường tản cư, em còn ngồi trong thúng
Mẹ quảy gánh gập ghềnh qua bao lối chân trâu
(Em chưa thể ngờ mười tám năm sau
Vào trận Điện Biên trên không mới nữa
Em lại bế đứa con đầu lòng đi sơ tán
Dưới bầu trời đỏ xác B.52…)

Phải, em hãy đến cánh đồng Mường Thanh
Nơi có những đường hào từ tuổi thơ sũng nước
Những trận mưa tháng Ba rét dài căn cắt
Đồng cỏ sém hai mươi năm xanh lại từng ngày
Lại vỡ đất, trần lưng trên ruộng cháy
Có tấm lòng nào xa lạ với nơi đây?

Biết bao mồ hôi, sức lực đổ ra
Để phá hết kẽm gai, san bằng lô cốt,

Để lật hết những hầm ngầm bí mật,
Tháo hết những kíp mìn, gỡ hết những kho bom!

Nhưng rồi mùa mơ, mùa cam thứ nhất, thứ hai,
Vẫn còn người hy sinh khi đi hái từng chùm quả ngọt,
Những mùa lúa đã vàng lên óng mắt
Dưới chân rạ cày sâu còn bất chợt thấy xương người!

Giành chiến thắng xong rồi
Còn phải sống cho xứng tầm chiến thắng!
Em hãy đến cánh đồng Mường Thanh
Để hiểu hết đời mình vào tuổi lớn:
Giành đất với quân thù, dẫu nhiều năm, nhiều tháng
Nhưng nuôi đất nảy nở sinh sôi, là trận đánh đời đời!

2

Anh biết em rất muốn trả lời
Câu hỏi của bao người ngã xuống:
Họ phải chết cho đời ta đẹp hơn thời họ sống,
Cao cả hơn và cũng vẹn toàn hơn!

Nhưng trận tuyến thời nào mà chẳng
giống Mường Thanh?
Mỗi thế hệ đi qua đều trải đủ niềm vui và nỗi khổ
Điều chủ yếu là
dám can đảm đào tiếp đoạn chiến hào bỏ dở
Dù chỉ nhích lên thêm từng mét
Như ở Mường Thanh
Dưới mảnh bom và đạn pháo
Dưới mưa dầm và bùn đặc
Kỳ cho tới đích
(Cái đích tưởng trong tầm ngắm, nhưng còn lắm
gian nan mới tới!)
Để chắc chắn cắm được ngọn cờ, tiên lượng hết
hy sinh và hạnh phúc,
Trước một vạn sáu ngàn kẻ thù chính quy
phải cúi mặt ra hàng!

Giây phút ấy phi thường
Nhưng được làm nên từ mỗi đoạn hầm hào vô danh, từ
ngàn vạn viên đạn súng trường bắn tỉa,
Từ mỗi gánh nặng oằn lưng – mà mỗi người
chìa vai dám nhận,
Từ mỗi chịu đựng phi thường – mà mỗi người
quả quyết giơ tay!

3

Con cái chúng ta hôm nay
Sau hai mươi năm, vẫn gọi Bế Văn Đàn và
Phan Đình Giót bằng Anh
(Khi chiến thắng không cũ đi, những anh hùng
không có tuổi!)

Em hãy đến cánh đồng Mường Thanh
Đừng cốt để tự ngắm mình trên đỉnh cao vòi vọi
Mà hãy ngấm sâu vào từng cảm xúc thân quen…

Em sẽ càng thấy thiêng liêng
Từng chiếc xẻng tầm thường, từng ca sắt tráng men,
Từng mảnh áo bông thô chần quả trám,
Từng giọng hò đã quên đi trên núi đèo sâu thẳm,
Từng khúc quân hành đóng đanh như búa bổ,
dội câu thề…
Em càng thấy nóng lòng hơn:
“Sau kỳ tích Mường Thanh, giờ phải có thêm gì?”
Hai mươi năm rồi, vẫn câu hỏi ấy thôi!
Em hãy đến…

1974
Kỷ niệm 20 năm chiến thắng Điện Biên Phủ.

Hòn Khoai

Tên quen thuộc, rất nôm na, dân dã
Ai hay đâu tận cuối đất, cùng trời!

Hòn Khoai
Hòn nhỏ xíu giữa mù khơi
Cách Rạch Tàu hai giờ xuồng máy,
Có gì lớn với đời tôi vậy
Mà tôi xúc động không cùng?

Hòn đảo xa bờ, vắng vẻ, không dân,
Mươi gian nhà cũ xây bằng đá,
Mươi gian nhà Mỹ mới làm vội vã,
Mái xám đìu hiu, cửa xám cũng đìu hiu,
Con rắn ngo ngoe trong hốc đá buổi chiều,
Con tu hú kêu, nhớ đất liền quê cũ…
Có gì gắn với đời tôi ở đó
Mà tôi xúc động khôn cùng?

Con đường lên tới đỉnh, xoáy vòng
Rồi tiếp một cầu thang bốn mươi mốt bậc,
Lên tới chót, ngẩng đầu, bỗng ngợp:
Cả bờ Nam Tổ Quốc: Mũi Cà Mau!

Gió bao la phóng túng ở trên đầu
Con chim biển phập phồng bay giữa nắng,
Bóng chim trải loang to trên hòn đảo lặng
Sóng liền trời, tít tắp cảnh bình yên…

Anh du kích trẻ măng, bồng khẩu tiểu liên,
Khắp mình anh, hai mươi tám vết thương còn nhức,
Trên bản đồ, một hòn đảo chỉ bằng chấm mực
Đã qua bao thử thách phi thường!

Bỗng rưng rưng: Đến ba chục năm trường
Chưa có phút nào tôi đứng cao đến thế!
Trên chỏm Hòn Khoai, sừng sững đầu vịnh bể
Nhìn Mũi Cà Mau đang rạch sóng trùng dương!

*

Tôi như con chim bay hết tầm vỗ cánh
Để được đỗ xuống đây, ngày đất nước trùng phùng,
Cái đích của bao đời, hôm nay tôi đã tới,
Còn biết lấy gì đo những xúc động khôn cùng!

1976

Hương mùa thu, phố biển…

1
Tôi có gì thêm khi đến Hải Phòng
Thành phố của bộn bề cần cẩu thép
Của những trục, những đà, những xà ngang, tời dọc,
Của màu khói xi măng, những ánh chớp lửa hàn,
Hàng cây số dài, búa máy râm ran,
Lại cả của mùa thu, ngăn ngắt xanh sương biển,
Con hải âu lượn chao như niềm vui hiển hiện,
Một bờ cát nguyên ròng ánh một vết chân in.

Giữa náo nhiệt lạ lùng, tôi bỗng muốn lặng yên
Hơi thở trong tôi như dồn nén lại
Hơi thở sâu đằm, hơi thở ngày bé dại,
Trong cảm giác yêu đời như bỏng cháy trên da.

2

Tôi thức giấc lần đầu từ tiếng vọng khơi xa
Con tàu mới xuống đà như tiệc cưới
Màu sơn thắm lao xao triền nước nổi
Sóng cồn lên mùi hăng lạ – hương dầu.

Hải Phòng buộc tôi thức giấc lần đầu
Để từ đó không sao còn ngủ được
Biển mê mải mùa thu đầy ắp nước
Suốt đêm ngày vỗ sóng lớn không thôi!

Và vị mặn cần lao bỗng xộc đến trong tôi
Vị mặn của mồ hôi, bến tàu, gỉ sắt,
Của bụi trắng trên đầu, của gió se trên mặt,
Của hơi người đi, hối hả nối nhau…

3

Phố thợ nằm chen trên những chiếc cầu
Mùi khét những hoả lò đọng lâu trên vỉa hè quanh quất
Khói bếp chật toả ra đường nghi ngút
Tiếng thùng tôn va ngõ tối lanh canh
Những lối vào nhà ngoắt ngoéo vách ngăn
Quay trở lại, đã khuất đường, cách phố.

Những tấm lòng thuỷ chung đón tôi trong mỗi
ngõ sâu chằng chịt đó
Ngõ trải bao la tình nghĩa bạn bè
Có ngõ tưởng hết đường, chỉ tới tận cùng mới
loá lên ánh điện
Nơi bà mẹ đi làm về, nửa đêm đang ngồi nấu cháo,
Nơi người cha cần mẫn lam làm, nửa đêm còn đi
gánh nước cho con.

Tôi đi lên cầu thang
Thang gác ngăn đôi, một lối xuống lưng chừng
trổ ra cửa sổ,
Trần cũ còn vết bom, nứt nẻ từng khoang vôi loang lổ,
Hai miếng gỗ kê chéo nhau, lấp chỗ hở trên sàn.

Trong lòng tôi mừng tủi, bàng hoàng,
Cánh cửa đã mở ra: Tôi gặp lại một bàn tay nóng ráp,
Gặp lại nụ cười trẻ hơn khuôn mặt,
Và khuôn mặt trẻ hơn dáng hình!

Những dáng người của mình đây.Thành phố của mình!
Tôi khám phá, tri ân những gì dung dị nhất,
Thành phố bần hàn, dắn thô, chân thật,
Những em bé phơi cá tôm, da cháy nắng, chân trần,
Hoa mướp xỉn than đen trên những mái tôn nghèo,
Thuỷ triều rút, những con thuyền đậu cạn,
Những vỏ hến vỏ hà nhô ra trên dòng sông khô nhám,
Những cánh lưới, cánh buồm vá lại trước khi đi…

Cuộc sống cần cù, vật lộn, say mê,
Vật lộn, cần cù…đến làm rơi nước mắt.
Vâng! Tôi đã gặp ở đây những điều rung động nhất
Dẫu chỉ gặp một lần, sẽ mãi mãi đem theo!

4

Thành phố bất ngờ, như xoáy lốc tình yêu,
Như trong câu thơ tự chín mười năm trước,
Những câu thơ, thuở đầu đời quen thuộc
Tôi viết ra, tôi cũng đã quên rồi!
Một buổi chiều đi dưới bóng cây râm
Em lặng lẽ mỉm cười và đọc lại…

Em yêu nỗi khát khao những khoảng trời hoang dại
Yêu những cơn mưa dông tràn hạnh phúc mùa hè
Những ngọn tầm xuân quấn quýt gỡ không ra
Những đỉnh thông cao, choàng nắng thu lỗ đỗ…
Em – Cô bé mảnh mai của suốt thời gian khổ
Vẫn ngủ mê thấy một cánh buồm!

Chút thao thức trẻ trung, tươi rói tự trong hồn
Như cơn bão của mùa thu xứ biển
Như bắt chợp bình minh, con tàu ùa cập bến,
Con tàu trắng một màu, lẫn với sắc trùng khơi!

Và tuổi thơ đầu, không có thực trong tôi
Bỗng thức dậy bất thần như chớp loé,
Tôi đâu biết lòng tôi yêu cuộc đời đến thế,
Nếu chẳng phải vì em – mùa thu ấy, Hải Phòng!

5

Mai đây
Bến cảng đang xây – sẽ đóng xong những chân
móng cuối cùng
Bãi mới ven sông – sẽ mọc dậy lứa cây đầu bé nhỏ
Xưởng máy phục hồi – sẽ lợp nốt dãy cuối cùng
ngói đỏ
Những thuỷ thủ thực tập nghề đi biển lớn đầu tiên!

Đấy là Hải Phòng
Những cái đầu tiên và cái cuối cùng
Xen lẫn nhau như nghìn mối chỉ màu trong tấm dệt,
Đấy cũng là thơ ca
Xáo trộn bao điều đã hình thành, bao điều chưa rõ nét,
Đấy là chỗ tiếp giáp tuổi thơ ngây và tuổi trưởng thành.

Hay đấy cũng là tình yêu,
Nơi tôi tưởng có chỗ dừng
Lại tiếp nối, trở thành bất tận!

Hải Phòng, 1974

Một chút thầm thì trong tình yêu Hà Nội

Nơi tựu trường ngày thơ, trang giấy thơm đầu thu
Tán bàng vô tư không quên được bao giờ,
Chuông xe điện trong màn sương rạng sớm
Và nắng nhỏ trên hàng cây rét muộn
Có thể nào không xui tôi nhớ em?

*

Những con đường dạ hương làm tim đập không yên
Tôi đi một mình dưới chiều xanh bối rối
Thành phố thầm thì trong tình yêu vừa nhen!

Qua năm tháng chiến tranh, nét dầu dãi dần quen
Những con đường phòng không, hầm ngổn ngang
gạch đá,
Em đã vào ca đêm, việc cần cù vất vả,
Nắm bàn tay sương giá, lại thương em!

*

Nơi hò hẹn ban đầu, ta chẳng thể nào quên
Bao từng trải về sau càng gắn liền ta lại…
Thành phố của tình yêu tươi tắn mãi
Nơi cuối cùng lắng lại, hoá hồn tôi!

1973

Nghe trong trưa Bát Tràng

Đất dựng làng năm trăm năm
Lớp ngói cũ, thẫm một màu dân dã,
Năm trăm năm – lửa chẳng tắt bao giờ!

Ngọn lửa ù ù ăn gió quạt lò
Âm thanh chuyên cần, toả đầy trưa yên ắng,
Bóng nắng lim dim… đúng là bóng nắng
Có tự thời quả thị gặp bà tiên!

Cơm bát đàn mộc mạc nên duyên,
Canh sóng sánh bát con gà men trắng,
Bát bún cổ truyền – chiết yêu, miệng rộng,
Thành bao thấp xoè hoa, chân gọn chắc tay cầm.

Như lụa bay, phơn phớt sắc men chàm
Lấm tấm điểm: thông, mai, cúc, trúc,
Dáng bát cứ vững bền, chân thật,
Mà màu men thanh bạch, gợi cao xa!

Năm trăm năm trôi qua…
Bao vẻ đẹp tạo nên từ thớ đất:
Đất mịn dẻo, mát lòng tay thấm nước
Đất định hình trong lửa chói chang
Hiện màu sành: nâu sáng, nâu đen,
(Sành dắn cấc lát đường, gót trâu đi không vỡ!)
Nhặt một mảnh sành từ trăm năm chịu lửa
Càng hiểu sức tìm tòi… từ lớp lớp cha ông.

Lối xóm hẹp lâu đời, tường kết chặt đá ong:
Hào đánh cướp – một thời xưa loạn lạc,
Lối du kích ra quân thời kháng Pháp,
Nơi trẻ tránh bom, thời đánh Mỹ gần đây…

Thấm thía tình làng qua lắm đổi thay,
Buổi trưa bình thường bỗng khiến tôi bỡ ngỡ:
Hoa cau rơi vào chum nước cổ,
Đàn sẻ bay lách chách đầu hồi.

Và những ấm chuyên, chén, tách, bát, nồi,
Chum với vại, lọ với bình… mộc mạc,
Nằm khô ráo, gió thổi vào như hát,
Tình yêu đời – như tự đất ca lên!

1976

Quảng Bình, đêm nghe bom toạ độ

Một đêm thức dậy dăm lần
Toạ độ xa, toạ độ gần – bom rơi,
Cầm canh, pháo kích liên hồi
Dưới trăng suông, thấy cây đồi sém đen…

Bỗng nghe… róc rách triều lên
“Huầy dô” – Lại tiếng đẩy thuyền ra khơi,
“À ơi” – Lại tiếng ru hời
Râm ran sông nước, cuộc đời… vây quanh.

Nằm trong thao thức bình minh,
Tiếng gà – quen đến giật mình: Quê hương!

1972

Sau mưa

Ô kìa! Đất mát sau mưa,
Ruộng tơi chân rạ cày bừa vụ thu
Mặt sông êm ả con đò
Phù sa kết giải, phù du nối bè!

Đất say mật mía, hương chè,
Đôi con chim sáo tụ về vườn xưa,
Có gì vui đến ngẩn ngơ
Ngày thường đã hoá ngày Thơ lúc nào?…

1975

Thị xã và con người

Thị xã tự hào của em
Mấy năm rồi, tôi đi tôi lại đến,
Màu rêu trước chiến tranh còn in trong hoài niệm,
Những lòng đường ba thước hẹp con con!

Có gì khác đi không:
Hai bờ đá nhô cao ven con sông mùa cạn
Trẻ em thả những đốm diều nắng sáng
Tán bàng in sắc đỏ giữa trưa yên.

Thị xã tảo tần của em
Những cửa gỗ, mái tôn, đã mấy đời chắp vá,
Em cảm biết cái nghèo sâu sắc quá
Đôi mắt buồn thăm thẳm những yêu thương…

Nhưng em còn làm tôi ngạc nhiên hơn
Trước ánh mắt mở to, đầy lo toan cao đẹp,
Cuộc sống sau chiến tranh, nhiều băn khoăn chật hẹp,
Càng cần tấm lòng rộng lớn bao nhiêu!

Tôi đi trong ráng chiều
Hoàng hôn đỏ trên lò nung sắp dựng,
Nhà máy sứ xoè cao như trang thơ trải rộng,
Những dòng thơ dần hiển hiện quanh em…

Những chùm đèn lồng rạo rực sáng vào đêm
Như khát vọng trong em thắp thành hoa phát sáng!
Em sôi động, giữa niềm tin thanh thản:
Nhìn mọi thứ dựng xây, đã đủ thấy yêu đời!

Thị xã già nua, so với con người
Và bé bỏng trước tầm nhìn mới mẻ,
Cứ đổi thịt thay da, vươn dài mạnh khoẻ,
Từ mỗi tấm lòng tươi tắn như em!

Hải Dương, 1973

Tiếng ru và ngọn gió

Ôi tiếng ru rất dài trong ca dao
Đi giữa gió Lào, nghe, lại nhớ
Một vòm trời nắng lửa
Cánh chuồn bay, năm đã xa rồi!

Gió khắt khe, nóng bỏng, không lời,
Táp vào mặt, vào hồn ta, khô dắn.
Quê mẹ mênh mông những cồn cát trắng
Ngụm nước trong, gánh những mấy thôi đường!

Đã quen bao chiến trường
Mùi khói khét lẫn mồ hôi mặn đắng,
Những đồi xém, cỏ khô trần trụi nắng
Một tiếng chim kêu cũng xót lòng…

Đã quen sức vun trồng
Từng luống rau khoai bên lề công sự
Bắc máng nước tự khe nguồn rỉ nhỏ
Gây giống gà nuôi giữa núi cao…

Nhưng dẫu qua bao nhiêu gian lao
Vẫn chẳng thấm khi bước về quê mẹ
Ngó sững niêu cơm bên lành bên mẻ
Nhớ hết từng tên kẻ mất, người còn!

Bốn phía hố bom. Những cánh chuồn chuồn
Bay dỡn nắng, chẳng tìm ra chỗ đậu
Đâu lối cỏ may, đâu bờ rào giậu
Gió thổi trơ ra đất đá gồ ghề…

Nhưng tiếng ru đã lại trở về!
Đi giữa gió Lào, nghe, lại nhớ
Cuộc đời từ tuổi nhỏ,
Mồ hôi, nước mắt quê nhà…
Đi giữa gió Lào, nghe, lại nhớ
Tâm hồn cứng cáp ông cha…

1970

Ú tim một chút, chùa Hương…

Em giống như cơn mưa, như trận gió cuốn sang hè,
Làm thức tỉnh hồn tôi nhiều biến động…
Tôi im lặng, bàng hoàng khi được sống
Một ngày vui không dễ nói ra lời!

Lối rất dốc, màn sương và một chút mây trời
Một chút nắng, làm hồng hào gương mặt
Một chút lặng thinh, khi nhìn xa tít tắp
Một chút đợi chờ sẽ thổ lộ… bâng quơ.

Ta cứ lên cao, cao mãi đến bao giờ?
Bỗng phát sợ – nhỡ chúng mình biến mất!
Đá đẹp quá, tưởng chừng không có thật,
Hoa dập dờn, nhưng chửa tới tầm tay…

Có chút gì thích thú rất thơ ngây
Là dự đoán về nhau, mà không cho nhau biết,
Là nghĩ ngợi nhiều điều, nhưng nghĩ chưa tới hết,
Hạnh phúc gieo từng chuỗi ú tim dài!

Và bến đò vui, thành khúc nhạc không lời,
Ba cây số ta qua, nước với trời đồng vọng,
Sau rốt, đến buổi chiều… Khi tất cả đều yên lặng
Thì em lại như cơn mưa, như trận gió
cuốn sang hè!

1976

Về Huế, đêm rằm…

Gặp lại cô giao liên áo tím N.K.K.B.
Mùa trăng ấy, thật lâu rồi,
Dáng em nhỏ xíu qua đồi sim mua,
Đồi hoa tím lạ lùng chưa
Thân thương sắc Huế, ngẩn ngơ lòng mình!

Tám năm… Biết mấy ân tình,
Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Bình… vô, ra,
Chiến khu đùm bọc thành nhà
Lòng quê canh cánh, xót xa chưa gần!

Đêm nay về Huế, bất thần
Người xưa, cảnh cũ… tần ngần mãi chi!
Trăng tràn ngập hết đường đi
Trăng viên mãn quá! Nói gì cùng nhau?

Rưng rưng khúc hát ban đầu,
Con sông xa ngái, nhịp cầu mỏng manh…
Thở phào… Đi hết chiến tranh,
Mùa trăng tím Huế vẫn dành cho ta!

Nhắc chi tan hợp… phôi pha…
Ngờ đâu… chất chứa vui oà về đây!
Em đi… thuở ấy, vai gầy,
Em là Huế – của đêm nay trăng tròn!

Chùa Từ Đàm, Huế, 6 -1975

Về Hương Sơn, năm sơ tán ấy

Hoa cau thơm ngát đầu ngày
Bên kia Bến Đục, bên này chùa Hương,
Ngỡ xa xôi mấy ngày đường
Mà nay sơ tán, thuộc làng, bén quê!

Lanh tanh vẫn nước lòng khe
Ngẩn ngơ chim núi, se se dặm rừng,
Bước lên, vẫn đá chập chùng
Chùa xưa, kinh kệ lẫn cùng mây bay,
Bềnh bồng cảnh đấy người đây
Hư không có dễ làm say lòng mình?

Lẩn trong tịch mịch sao đành,
Càng lên càng thấm ân tình nhân gian:
Dậy thơm kìa trái mơ vàng
Có cô em gái trĩu quang gánh về
Xanh xanh màu khói dưới kia
Cơm chiều hợp tác đã nghe kẻng rồi!

Tần ngần ngắm núi Mâm Xôi
Núi Con Gà đậu bao đời, y nguyên,
Với tay lên đến chùa Tiên
Vết bom còn đó, tham thiền dễ chăng?!

Lên Trời, hướng quá mênh mang,
Càng yêu một lối về làng con con!
Trèo non, khuất khúc chon von
Càng thêm ưa cảnh ao chuôm bình thường!

Hoa cau thơm đến suốt đường
Biết đâu thơm tự Chùa Hương thơm về,
Mái tranh nghèo Bến Đục Khê
Biết đâu năm ấy thành quê hương mình!

1974

Về Hương Sơn, năm sơ tán ấy

Hoa cau thơm ngát đầu ngày
Bên kia Bến Đục, bên này chùa Hương,
Ngỡ xa xôi mấy ngày đường
Mà nay sơ tán, thuộc làng, bén quê!

Lanh tanh vẫn nước lòng khe
Ngẩn ngơ chim núi, se se dặm rừng,
Bước lên, vẫn đá chập chùng
Chùa xưa, kinh kệ lẫn cùng mây bay,
Bềnh bồng cảnh đấy người đây
Hư không có dễ làm say lòng mình?

Lẩn trong tịch mịch sao đành,
Càng lên càng thấm ân tình nhân gian:
Dậy thơm kìa trái mơ vàng
Có cô em gái trĩu quang gánh về
Xanh xanh màu khói dưới kia
Cơm chiều hợp tác đã nghe kẻng rồi!

Tần ngần ngắm núi Mâm Xôi
Núi Con Gà đậu bao đời, y nguyên,
Với tay lên đến chùa Tiên
Vết bom còn đó, tham thiền dễ chăng?!

Lên Trời, hướng quá mênh mang,
Càng yêu một lối về làng con con!
Trèo non, khuất khúc chon von
Càng thêm ưa cảnh ao chuôm bình thường!

Hoa cau thơm đến suốt đường
Biết đâu thơm tự Chùa Hương thơm về,
Mái tranh nghèo Bến Đục Khê
Biết đâu năm ấy thành quê hương mình!

1974

Xứ sở của niềm hy vọng ở tận cùng

Người anh em phương Nam, chiếc mũ cói rộng vành,
Da như chín dưới bầu trời nhiệt đới
Nơi ngày xưa ngỡ tận cùng thế giới
Se sắt đồng hun màu sa nguyên,
Đại dương một bên. Núi lửa một bên.
Nơi cái nóng ép chặt vào cái lạnh,
Đời nọ nối đời kia
Mảnh đất mang cái tên kiêu hãnh:
“Xứ sở của Niềm Hy vọng ở tận cùng!”

Chilê, ôi Chilê!
Ngày xưa tôi chỉ biết
Dải đất Magienlăng cập bến lần đầu,
Bốn thế kỷ sục sôi khát vọng
Máu những người Tây Ban Nha đổ xuống
Hoà với máu những người da đỏ,
Mảnh đất của xương rồng và những cánh hoa
tình yêu màu huyết dụ…
Tôi đâu biết đến ngày chính lòng mình sôi lên ở đó
Trước hàng trăm nghìn người bị bắn, xích thành dây!

Bọn phát xít xổng chuồng! Máu đã đổ hôm nay!
Cơn xoáy dữ ba ngàn cây số đất:
Antôphagaxta… Punta Arênat…
Những ốc đảo xanh và những cánh đồng ngô,
Rừng đại ngàn dọc núi Anđơ
Đến núi đá Cực Nam lồi lõm lửa…
Bọn phát xít bắn tràn lên tất cả!

Và Xanchiagô thành thủ đô của bắt cóc, thủ tiêu,
Những hố chôn chung đào ngay dọc phố
Sân vận động thành trại giam quá cỡ
Xe xích đi như chó dại trên đường!

“Xứ sở của Niềm Hy vọng ở tận cùng”
Những năm tháng tự do vừa mới là hiện thực!
Tấm biển những Công ty độc quyền vừa mới bóc
Có thể nào lại để chúng treo lên?
Và những xuất sữa tươi quà sáng trẻ em
Vừa mới được phát không, kẻ thù liền hắt đổ!
Phải buộc chúng đền bù tất cả
Không để phút chần chừ, không có phút buông tay!

Và tôi lại nghe tiếng hát những ban mai
Trên đá, trên sông, trên doi cát mặn mòi,
Nghe vạn dấu chân xuyên rừng, xuyên biển,
Tiếng rậm rịch những bưng biền kháng chiến.
Khúc hát yêu đời người du kích Ghêvara:
“Phải tạo ra ở Tây Bán Cầu lấy một, hai, ba,
Hay nhiều nữa những Việt Nam, nhiều nữa!”

Một bên đại dương. Một bên núi lửa.
Người anh em phương Nam, chiếc mũ cói rộng vành,
Dáng lưng thô bất chấp mọi nhọc nhằn,
Hồn sâu thẳm rút lên từ ruột đất.
– “Chúng ta phải còn! Kẻ thù phải mất!”
Họ chỉ thề như thế, một câu thôi!

“Ôi Chilê, cánh hoa dài…”
Lại cũng giống lưỡi gươm trần sắc lạnh,
Mang lửa của Hôm Nay hoà với lửa
cả thời xưa kiêu hãnh,
Xứ sở trong tôi xiết bao gần gũi:
“Xứ sở của Niềm Hy vọng ở tận cùng!”.

(Viết khi nghe tin Nêruđa vừa mất ở Đảo Đen)
1974

Mỗi một bài thơ trong tập thơ Đất sau mưa 1977 của nhà thơ Bằng Việt đều xuất phát từ một cảm hứng, một sự kiện, một con người… mỗi vần thơ chắt chiu lắng đọng thể hiện tâm tư tình cảm của nhà thơ.

>> Xem tiếp:

 

so1vn - Tags: ,