Những Bài Thơ Đi Cùng Năm Tháng Của Cao Tự Thanh



Cao Tự Thanh được biết đến là một nhà học giả nổi tiếng nhưng bên cạnh đó ông sáng tác rất nhiều bài thơ để đời được rất nhiều người biết đến và mến mộ. Những bài thơ của ông chủ đề đều là về thời thế của đất nước, thể hiện nỗi lòng xót thương cho nước nhà. Hãy cùng nhau tìm hiểu về một nhà thơ- nhà học giả đa tài này nhé!

I. Học Giả Cao Tự Thanh 

Học giả Cao Tự Thanh tên thật là Cao Văn Dũng, sinh ngày 9-6-1955 tại Sài Gòn. Ông là con trai của một nhân vật nổi tiếng Nam Bộ thời chống Mỹ và thời trước đổi mới là ông Nguyễn Văn Chính, tức Chín Cần. Dân gian có câu “Bắc khoán hộ Kim Ngọc, Nam một giá Chín Cần”.

Ông là một trong 13 sinh viên theo học hệ cử nhân Hán Nôm chính quy đầu tiên được mở năm 1972, sau đó tốt nghiệp ngành Hán Nôm khoa Ngữ văn của Đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1977. Từ năm 1978, ông làm việc ở Phân ban Hán Nôm của Thư viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Khoa học Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh, đến 1979 được điều về Tổ Nghiên cứu Văn học Cổ cận đại thuộc Ban Văn học của Viện Khoa học Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1987, ông chuyển về làm trợ lý khoa học cho ban giám đốc Sở Văn hoá và Thông tin tỉnh Long An, đến 1988 thì làm Quyền giám đốc Bảo tàng tỉnh Long An.

Tháng 3-1990, ông xin nghỉ việc nhà nước trở thành dịch giả và nhà nghiên cứu tự do. Ông nghiên cứu nhiều về lịch sử văn hoá Việt Nam và Trung Quốc. Ông đã dịch khoảng hơn 100 đầu sách, cùng nhiều thơ, từ của các tác gia Việt Nam và Trung Quốc cổ đại. Ngoài ra, ông cũng thường xuyên viết thơ, từ và thường đăng trên các trang cá nhân của ông.

Về chữ Tự Thanh trong bút danh, ông lấy từ câu “Điềm đạm vô nhân kiến, Niên niên trường tự thanh” (Lặng lẽ không ai thấy, Năm dài riêng tự trong) của Trừ Quang Hy đời Đường vịnh suối, chỉ sự thanh cao

II. Những Tác Phẩm Nổi Tiếng Của Cao Tự Thanh 

Đạp sa hành – Đáp nhân vấn thế thượng văn chương 踏沙行-答人問世上文章

Kiếm ảnh vị hùng,
Mặc hương hữu xú.
Nhân sinh quí tại tri kiêm ngộ,
Khả lân thế thượng thiểu can tràng,
Ngôn hành tiến thoái đa ly độ.

Quốc vận phiền đề,
Thư sinh nan bộ.
Điêu trùng tiểu kỹ giai sương lộ,
Kim quan hàn uyển tứ thê lương,
Thử tâm dĩ miễn vô nhân đố.

Dịch nghĩa
Bóng kiếm chưa phải là hùng,
Mùi mực cũng có chỗ thối.
Đời người quý ở chỗ đã biết lại ngộ,
Đáng thương trên đời ít kẻ có gan ruột,
Xử sự tiến lui phần nhiều không đúng mực thước.

Vận nước đề bài rối rắm,
Kẻ thư sinh khó mà hoạ được.
Tài khéo văn chương chỉ là chuyện nhỏ mọn,
Nay nhìn vườn văn trong ý thê lương,
Giữ tấm lòng ấy để tránh không bị ai ghen ghét.

Đạp sa hành – Đọc “Đăng U Châu đài ca”

Trăm bậc bơ vơ,
Một mình lủi thủi.
Đài cao phóng mắt buồn sông núi.
Nhân tâm tan tác đạo chia đời,
Đục trong sai đúng nào ai hỏi.

Kẻ trước khôn tìm,
Người sau khó nói.
Trầm ngâm kim cổ lòng đau nhói.
Đất trời mờ mịt tựa vô cùng,
Bỗng dưng lệ ứa nhoà sương khói.

Đạp sa hành – Thán sử 踏沙行-嘆史

Mẫu cử long thai,
Phụ ưu trách thất.
Phân gia tự thử vô tương thức.
Lũ niên hậu duệ lực tranh hành,
Cơ hàn kim nhật đồng nam bắc.

Sát Thát mã phì,
Bình Ngô kiếm thực.
Nhụ sinh oa độc mưu y thực.
Bạch Đằng thung đảo thuỷ nê can,
Trùng dương viễn đảo thuỳ truy ức

Điểm giáng thần – Mộ xuân ức nhân 點絳唇-暮春憶人

Biệt hậu vĩnh hoài,
Tử hồng linh lạc xuân tương mộ.
Y hy như cố,
Kim dữ thuỳ phân thủ.

Bình thuỷ tam niên,
Phân duệ thành thiên cổ.
Nhân duyên ngộ.
Hồng trần hoàng thổ,
Niệm niệm hoa dung khổ.

Độc dạ thư hoài 獨夜書懷

Thế lộ kỳ khu tố ảm nhiên,
Vô đoan chích ảnh động đăng tiền.
Hư danh bác đắc văn chương cố,
Đầu tử kham lân mệnh vận phiên.
Tuế nguyệt canh trường nhân yếm mộng,
Tân toan lệ lạc tự sinh yên.
Lịch lai bất số cô liêu dạ,
Duy ký thương tâm tứ thập niên.

Dịch nghĩa
Đường đời gập ghềnh vốn đã rầu rĩ,
Bóng chiếc bỗng dưng lại lay động trước đèn.
Kiếm được việc làm thuê bằng văn chương nên có hư danh,
Thương cho mệnh vận cứ lật như hạt xúc xắc.
Năm tháng canh dài, người chán nằm mơ,
Cay đắng lệ rơi, chữ như mờ khói.
Trước nay không đếm những đêm buồn bã,
Chỉ nhớ đã đau lòng qua bốn mươi năm

Giá cô thiên – Tuế mộ tự điệu 鷓鴣天-歲暮自悼

Tuế nguyệt ta đà sự cánh vi,
Trường đồ lạc phách ý hà vi?
Quần âu chử thượng tầm ngư bổ,
Cô nhạn thiên biên trục nhật phi.

Tâm kinh kích, lệ lâm ly.
Điêu linh thiên lý lộ khu kỳ.
Đông hàn tùng bách giai điêu tạ.
Bạch phát phong trung nhiệm phất phi.

Dịch nghĩa
Năm tháng lần lữa việc càng trái với lòng,
Thất thểu trên đường dài là định làm gì?
Trên bãi bầy âu đang tìm bắt cá,
Nơi chân trời nhạn lẻ lại đuổi theo bóng dương.

Lòng dạ xốn xang, nước mắt ròng ròng.
Ngàn dặm tan tác, đường đi gập ghềnh.
Vào đông rét mướt tùng bách đều tàn tạ,
Tóc trắng cứ mặc cho gió thổi tung.

Hẹn về

Muôn phương chỉ một nẻo về,
Tái tê chưa đủ não nề còn theo.

Giữa sông vùi dập thân bèo,
Giống trôi nổi hỏi ai gieo ai trồng.

Áo xanh còn bụi đẫm hồng,
Nhắc chi áo trắng cho lòng chua cay.

Bể dâu đã hứa đoạ đày,
Thê lương khó biết cuộc này ngày sau.

Mà trong ký ức trăm màu,
Tiền thân vẫn nhớ hẹn đầu, lạ chưa?

Những đời đắng gió cay mưa,
Không tình xưa cũng niềm xưa trong lòng.

Lý Chiêu Hoàng

Cung lạnh bơ vơ phận nữ hoàng,
Tình si chẳng ngại bỏ ngai vàng.
Khăn trầu ngỏ ý trao tình thiếp,
Ngôi báu hồi môn gởi chỗ chàng.
Trước điện gả chồng đau đạo nghĩa,
Trong chùa nhổ cỏ thảm cương thường.
Ngàn năm đen bạc lòng khanh tướng,
Duyên phận trao chi đứa tiểu lang.

Mùa xuân chiêm bao

U uất mười lăm năm mộng đời rẽ lối,
Lặng nhìn trời đất vào xuân.
Nắng phai thềm trước,
Đếm bóng phù vân.
Gió mát, trời xanh, hoa lả lướt,
Mỉa mai gì mà gian dối hỡi Đông quân!

Ngày tháng tiêu ma cùng nguyện ước,
Một đời điên đảo mấy lần xuân.
Trái ngang từ chuyến luân hồi trước,
Thân thế thôi cam lạc định phần.
Đường đời mấy ngã ai đi rồi đi mãi,
Sương khói bốn phương về mấy hướng sầu dâng.
Bể dâu lắm nỗi,
Mưa nắng bao lần.
Truy niệm hư vô xưa lạnh lùng chờ giải thoát,
Đối diện tóc tang giờ tan tác mộng trầm luân.
Tiền thân trót vướng duyên trần,
Phương xa vô thức tan dần chiêm bao.

Lòng mở đón mùa cay đắng,
Héo tươi hoa cỏ rộn tang thương.
Lặng lẽ trầm tư trên lối vào nẻo trắng.
Xót xa chiều thương nắng rụng mười phương.
Thơ ngâm gác vắng.
Ngày chìm tịch dương.
Thiết tha chi cho lạc nẻo hoang đường,
Trót dan díu đành vấn vương niềm lãng tử.
Cắn răng đến cùng cuộc lữ,
Gắng nổi chìm theo trọn kiếp phù sinh.
Đời đắng cay nên ý ngại ân tình,
Để một mình chiều nay buồn nghe pháo nổ.
Chung thuỷ đổi thay tình mấy độ.
Phấn son cười khóc nguyện ba sinh.
Phương xưa cách mấy viễn trình.
Mà chia hai ngã cho mình chiêm bao.

Mười mấy xuân tàn trong cát bụi.
Xuân này sương khói chợt xa khơi.
Sông chiều bến vắng không người đợi.
Sao vẫn chưa về ly khách ơi.
Mơ phai buồn gối mỏi,
Gác lạnh tiếc năm tàn.
Ký ức chợt vang lời réo gọi,
Tháng năm biền biệt quan san.
Khi niềm xưa thương nhớ ngậm ngùi tan,
Trên cánh thiếp lại tươi màu gió bụi.
Chưa kịp nhớ đời mình thêm một tuổi,
Thì lối phiêu linh dấu cát đã gọi in sầu.
Về đâu,
Ta về đâu,
Ta biết về đâu…
Dĩ vãng còn chi nữa,
Mà tương lai lạnh lùng khép cửa,
Khi tình cay đắng quê hương,
Khi lòng hoang tàn chối bỏ yêu thương.
Kể từ nhập cuộc phong sương,
Từng trên mấy ngã tư đường chiêm bao.

Thấp thoáng sau bóng xuân đang về trên đại lộ,
Là những mùa xuân xưa.
Trở về từ khoảng đời nắng mưa đày ải cũ,
Ôi những mùa xuân không người đón đưa.

Chuyện xưa theo mùa xuân về lại lòng hoang.
Đất lạ ngỡ ngàng pháo nổ,
Bâng khuâng thấy hoa xuân miền biển nở,
Tủi sầu xuân phương Bắc tuyết mênh mang,
Hờn xuân trung du gió núi thét cây ngàn,
Lặng lẽ xuân cơ hàn giữa kiêu sa đô thị.
Ôi những mùa xuân lạnh lòng lạc loài thế kỷ,
Đêm nay về cả chiêm bao.

Hai mươi lăm mùa xuân đời mình đã qua,
Hai mươi lăm năm buồn thân thế.
Soi gương mà ngỡ ngàng dâu bể,
Lốt anh phong xưa nay đổi nét thương thần.
Còn anh hùng đâu mà mộng sánh giai nhân,
Còn tráng chí nào để mong thành đại nghiệp.
Tro tàn bay cánh thiếp,
Lệ đỏ hoen lời thơ.
Cố nhân như chờ đợi tới bây giờ,
Cũng chỉ uổng công hoài vọng.
Thuyền mỏi buông neo bờ Ảo mộng,
Khói buồn ngưng toả bến Hoàng lương.
Tuổi xanh trót đã lầm thân thế,
Tay trắng đem gì đối phấn hương.
Nắng lòng đã rụng tà dương,
Yêu thương thôi cũng chán chường chiêm bao.

Mộng mị nửa đời sương khói,
Giang hồ hai lối tử sinh.
Gom hết sầu tư vạn mối,
Tàn canh tâm sự riêng mình.
Thả thuyền hồn trên bể nhớ mông mênh,
Góp hoài niệm đáp đền thương mến cũ,
Nhưng Đào Nguyên đóng lối về Ngư phủ,
Nên Lưu Nguyễn đành cười quên tình xưa Thiên Thai.
Ngỡ ngàng dĩ vãng,
Lạ lùng tương lai.
Nghiêng bầu xem buồn vẫn tháng năm dài,
“Say lớn cả đất trời…”. Men phai theo tiếng hát.
Ngày tháng bơ vơ miền đại mạc,
Nỗi niềm ốc đảo đã nguôi quên.
Xuân sang nghe gió vang lời cát,
“Chỉ còn xương trắng kẻ không tên”.
Dồn chung nỗi nhớ niềm quên.
Đem hư sinh để đáp đền chiêm bao.

Trên đây, uct.edu.vn đã chia sẻ đến bạn những thông tin cũng như tác phẩm đặc sắc của Cao Tự Thanh. Hy vọng thông qua bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về nhà thơ cũng như ý nghĩa của những bài thơ tuyệt vời này. Cảm ơn các quý vị độc giả đã luôn đồng hành và theo dõi chúng tôi! 

so1vn - Tags: