Nhà thơ Tùng Thiện Vương là một nhà thơ lớn của nước ta. Ông là một nhà thơ hoàng tộc nhưng thơ ông lại có tinh thần yêu nước mãnh liệt. Ông vang danh nhờ những bài thơ chữ hán đặc sắc. Những bài thơ của ông luôn để lại dấu ấn đặc sắc trong lòng bạn đọc yêu thơ

Ở bài viết trước Nhà Thơ Tùng Thiện Vương Cùng Những Bài Thơ Đặc Sắc Phần 2, uct.edu.vn đã nhận được rất nhiều phản hồi tích cực từ quý độc giả.

Không để các bạn chờ lâu hơn nữa, kính mời các bạn đón xem những bài thơ còn lại của nhà thơ tài hoa Tùng Thiện Vương ngay bây giờ!

Phù lưu tiền hành

Triêu tiến phù lưu tiền
Mộ tiến phù lưu tiền
Đại quan nghiệt phù lưu
Nãi tuyết tiểu dân oan
Đại quan đường trung tiền tác hư
Tiểu dân mại gia, hoàn mại phụ
Thử thân tuy tồn, gia dĩ hưu
Già tỏa hạnh thoát, phụ nan lưu
Bão nhi tạm lai dữ phu biệt
Lộ bàng đối khấp xan phù lưu.

Phụng sắc kính đề Nguyễn hậu

Họ Lưu bầy gái đã anh hùng,
Dịch lại khen ai cũng có công.
Trải suốt mười thiên dâng điện Bắc,
Chép dần ba phẩm nối tường Đông.
Vẽ bầu theo dạng tài chưa dễ,
Lấy sách làm gương ý chẳng cùng.
Liền chuyện nhớ chừng ngươi Tử Chính,
Một biên liệt nữ bấy nhiêu trung.

Quá Quảng Bình quan khẩu chiếm

花柳揚春色,
煙波遠客情。
遙憐山裏鳥,
猶似故園聲。

Quá Quảng Bình quan khẩu chiếm
Hoa liễu dương xuân sắc,
Yên ba viễn khách tình.
Dao liên sơn lý điểu,
Do tự cố viên thanh.

Dịch nghĩa
Hoa hồng liễu lục đậm đà sắc xuân
Khói bay trên sóng gợi nỗi niềm khách xa
Xa thương (tiếng) chim giữa núi
Còn giống tiếng ở vườn nhà

Quân mã hoàng 君馬黃

君馬黃臣馬白
金勒紫絲繮
籍空長安陌
滅影爾浮雲
堅蹄踏冰石
長劍高冠身七尺
男兒墜地思報國
甲骨留香死非惜

Quân mã hoàng
Quân mã hoàng thần mã bạch
Kim lặc tử ty cương
Tịch không Trường An mạch
Diệt ảnh nhĩ phù vân
Kiên đề đạp băng thạch
Trường kiếm cao quan thân thất xích
Nam nhi truỵ địa tư báo quốc
Giáp cốt lưu hương tử phi tích

Quất chi từ 橘枝詞

五月青青十月黃,
幾重風雨幾重霜。
甘心剖自情人手,
要識儂家徹骨香。

Quất chi từ
Ngũ nguyệt thanh thanh thập nguyệt hoàng,
Kỷ trùng phong vũ kỷ trùng sương.
Cam tâm phẫu tự tình nhân thủ,
Yếu thức nùng gia triệt cốt hương.

Dịch nghĩa
Màu tháng năm xanh, tháng mười chín vàng
Mấy tầng gió mưa mấy tầng sương
Bằng lòng để cho người tình tự tay lột lấy
Cốt để cho (người ấy) biết mình thơm tận xương

Sơn cư tảo khởi 山居早起

半榻松風曉夢清,
嵐光樹色未分明。
幽人早起橫琴坐,
聽得山禽第一聲。

Sơn cư tảo khởi
Bán tháp tùng phong hiểu mộng thanh,
Lam quang thụ sắc vị phân minh.
U nhân tảo khởi hoành cầm toạ,
Thính đắc sơn cầm đệ nhất thanh.

Dịch nghĩa
Nửa giường đầy gió thông, giấc mộng buổi sáng sớm trong vắt
Ánh núi màu cây chưa phân rạch ròi
Người ở ẩn dậy sớm, ngồi cầm ngang chiếc đàn
Nghe được tiếng đầu tiên chim núi hót

Sơn trung 山中

嘹喨碧林中,
樵歌聽清絕。
晚風捲谿雲,
明月塡山缺。

Sơn trung
Liệu lượng bích lâm trung,
Tiều ca thính thanh tuyệt.
Vãn phong quyển khê vân,
Minh nguyệt điền sơn khuyết.

Dịch nghĩa
Véo von trong rừng xanh
Tiếng tiều phu trong tuyệt
Gió chiều cuốn mây khe
Trăng sáng thay núi hở

Tàn tốt 殘卒 • Người lính sống sót

亂尸叢裡拔身還,
一領單衣戰血班。
倚杖獨沽山店酒,
自言生入海雲觀。

Tàn tốt
Loạn thi tùng lý bạt thân hoàn,
Nhất lĩnh đơn y chiến huyết ban.
Ỷ trượng độc cô sơn điếm tửu,
Tự ngôn sinh nhập Hải Vân quan.

Tạp cảm 雜感

鷓鴣啼可哀,
子規啼更苦。
修書謝百舌,
生成不自主。

Tạp cảm
Giá cô đề khả ai,
Tử quy đề cánh khổ.
Tu thư tạ bách thiệt,
Sinh thành bất tự chủ.

Tạp ngôn 雜言 • Nói chuyện lặt vặt

村女泰嬌癡,
垂髫喜喭幘。
不知芍葯花,
輕折贈賓客。

Tạp ngôn
Thôn nữ thái kiều si,
Thuỳ thiều hỉ ngạn trách.
Bất tri thược dược hoa,
Khinh chiết tặng tân khách.

Tặng Cao Bá Quát 贈高伯适

跼蹐乾坤一介身,
天涯形影自相親。
故園松菊荒三逕,
殘夜風霜憶二人。
馬角不生空有淚,
刀頭欲卜更無因。
交情爲爾慇南顧,
日日金雞望赦頻。

Tặng Cao Bá Quát
Cục tích càn khôn nhất giới thân,
Thiên nhai hình ảnh tự tương thân.
Cố viên tùng cúc hoang tam kính,
Tàn dạ phong sương ức nhị nhân.
Mã giác bất sinh không hữu lệ,
Đao đầu dục bốc cánh vô nhân.
Giao tình vi nhĩ ân Nam cố,
Nhật nhật kim kê vọng xá tần.

Dịch nghĩa
Giữa đất trời một tấm thân khốn khổ
Nơi chân trời chỉ có hình và bóng tự thân thiết với nhau
Vườn cũ ba lối cúc tùng hoang lấp
Đêm tàn trong sương gió nhớ hai người
(Nghĩ đến chuyện) sừng ngựa không mọc luống rơi nước mắt
Muốn bói ngày về lại chẳng có nguyên do
Tình bạn bè vì ông ngoảnh nhìn về phương Nam lo lắng
Ngày ngày bao lần trông được ân xá

Tần cung từ 秦宮詞

徵歌選舞阿誰家,
獨捲霜簾望帝車。
上苑深深招復晚,
春風三十六年華。

Tần cung từ
Trưng ca tuyển vũ a thuỳ gia,
Độc quyển sương liêm vọng đế xa.
Thượng uyển thâm thâm chiêu phục vãn,
Xuân phong tam thập lục niên hoa.

Thai Dương chu dạ 邰陽舟夜

邰陽舊遊處,
繫纜倚漁磯。
海月隨潮湧,
江雲度嶺歸。

Thai Dương chu dạ
Thai Dương cựu du xứ,
Hệ lãm ỷ ngư ky.
Hải nguyệt tuỳ triều dũng,
Giang vân độ lĩnh quy.

Dịch nghĩa
Thai Dương là nơi ngày xưa đi du ngoạn
Cột thuyền dựa vào tảng đá nổi giữa nước của nhà chài
Trăng biển theo con nước lên
Mây trên sông qua tới núi bay về

Thu vọng 秋望 • Ngắm thu

落日登高處,
杪秋多烈風。
茫茫今古恨,
靜在不言中。
列嶂發晴翠,
孤禽橫暮空。
所思緲難極,
愁對菊花叢。

Thu vọng
Lạc nhật đăng cao xứ,
Diểu thu đa liệt phong.
Mang mang kim cổ hận,
Tĩnh tại bất ngôn trung.
Liệt chướng phát tình thuý,
Cô cầm hoành mộ không.
Sở tư miểu nan cực,
Sầu đối cúc hoa tùng.

Dịch nghĩa
Mặt trời lặn lên nơi cao
Cuối thu đầy gió mạnh
Mênh mang mối hận xưa nay
Đều không thể nói ra được
Những ngọn núi phát ra màu xanh biếc của bầu trời tạnh mưa
Con chim lẻ loi bay ngang qua khoảng không lúc chiều tối
Nỗi nghĩ nhớ dài dăc khó dứt
Buồn nhìn đám hoa cúc vàng

Thuật hoài kỳ 1 述懷其一

耿耿緣何事,
深宵坐屢移。
雨聲趨喝猛,
風勢颯樓巍。
海內徵求變,
軍中路布遲。
家猶應不已,
聖主設籌思。

Thuật hoài kỳ 1
Cảnh cảnh duyên hà sự,
Thâm tiêu toạ lũ di.
Vũ thanh xu hát mãnh,
Phong thế táp lâu nguy.
Hải nội trưng cầu biến,
Quân trung lộ bố trì.
Gia do ưng bất dĩ,
Thánh chủ thiết trù ti (tư).

Thuật hoài kỳ 2 述懷其二

星象宵誰景,
貔貅日戍邊。
虛生難報國,
何計已回遷。
書甲戔戔冷,
燈花故故園。
不眠頻藥茗,
詩誦四和篇。

Thuật hoài kỳ 2
Tinh tượng tiêu thuỳ cảnh,
Tỳ hưu nhật thú biên.
Hư sinh nan báo quốc,
Hà kế dĩ hồi thiên.
Thư giáp tiên tiên lãnh,
Đăng hoa cố cố viên.
Bất miên tần dược mính,
Thi tụng tứ hoà thiên.

Tống biệt – Phú đắc Quan san nguyệt 送別賦-得關山月

關山秋夜月明時,
影入離筵動客悲。
明日五更殘夢覺,
平分兩地照相思。

Tống biệt – Phú đắc Quan san nguyệt
Quan sơn thu dạ nguyệt minh thì,
Ảnh nhập ly diên động khách bi.
Minh nhật ngũ canh tàn mộng giác,
Bình phân lưỡng địa chiếu tương ti (tư).

Dịch nghĩa
Nơi đèo ải, đêm thu, lúc trăng sáng
Bóng soi vào tiệc tiễn đưa, động lòng khách buồn rầu
Ngày mai, giấc mộng năm canh tàn, tỉnh thức
Chia đều hai mảnh đất, rọi nỗi nhớ mong nhau

Tống Lương Tứ chi Quảng Nam 送涼思之廣南

廣南今戰地,
沃澤昔年非。
錦水深移巿,
茶山婁合圍。
狐持枯骨立,
鴉啄段腸飛。
辛苦東皋子,
誰憐亂後歸。

Tống Lương Tứ chi Quảng Nam
Quảng Nam kim chiến địa,
Ốc trạch tích niên phi.
Cẩm thuỷ thâm di thị,
Trà sơn lũ hiệp vi.
Hồ trì khô cốt lập,
Nha trác đoạn trường phi.
Tân khổ đông cao tử,
Thuỳ liên loạn hậu quy.

Dịch nghĩa
Quảng Nam nay đang là chiến địa
Ruộng tốt đầm sâu chẳng còn như năm xưa
Sông Cẩm Lệ đã dời chợ đi xa
Núi Trà Sơn bao lần vây kín
Chồn đứng ngậm xương khô
Quạ bay tha khúc ruột
Cay đắng thay những người con của ruộng nước phía đông
Ai thương kẻ về sau cơn ly loạn

Tráng sĩ ca 壯士歌

半夜秋風來,
燈昏雨聲急。
哀歌人不聞,
獨與龍淵泣。

Tráng sĩ ca
Bán dạ thu phong lai,
Đăng hôn vũ thanh cấp.
Ai ca nhân bất văn,
Độc dữ Long Uyên khấp.

Trấn Vũ miếu 鎮武廟

高樓獨上思低徊,
寂寞寒鐘暮色催。
古樹有枝棲夜月,
殘碑無字鎖蒼苔。
百年銅像巍然在,
五代金門半已頹。
只剩西湖雲太好,
隨風猶拂畫簾來。

Trấn Vũ miếu
Cao lâu độc thướng tứ đê hồi,
Tịch mịch hàn chung mộ sắc thôi.
Cổ thụ hữu chi thê dạ nguyệt,
Tàn bi vô tự toả thương đài.
Bách niên đồng tượng nguy nhiên tại,
Ngũ đại kim môn bán dĩ đồi.
Chỉ thặng Tây hồ vân thái hảo,
Tuỳ phong do phất hoạ liêm lai.

Tre tróc gốc

Nghĩ mình đã ẩn chốn cao sâu,
Đến lúc trời xô cũng chỏng râu.
Trảy mắt những lăm đương rổ cá,
Vẹt gai khôn ngóng uốn cần câu.
Quản bao chú lính qua cào mặt,
Thương hại ông quan phải cúi đầu.
Những tưởng ngã ra đà tận số,
Ai hay dựng lại sống càng lâu.

Triều 潮 • Cơn triều

風急水雲昏,
潮頭白馬奔。
萬方殊起落,
一氣捲乾坤。
近海聲油壯,
經沙勢欲反。
不平緣底事,
誰問伍胥魂。

Triều
Phong cấp thuỷ vân hôn,
Triều đầu bạch mã bôn.
Vạn phương thù khởi lạc,
Nhất khí quyển càn khôn.
Cận hải thanh du tráng,
Kinh sa thế dục phiên.
Bất bình duyên để sự,
Thuỳ vấn Ngũ Tư hồn.

Dịch nghĩa
Gió thổi mạnh nước và mây tối mịt
Đầu ngọn triều ngựa trắng chạy nhanh
Muôn nơi dâng lên rút xuống khác nhau
Một luồng nguyên khí cuốn thu trời đất
Nơi gần biển tiếng gầm càng mạnh
Chỗ cát đùn đầy thế muốn lật lên
Nỗi bất bình duyên do sao vậy
Ai hỏi thử hồn Ngũ Tử Tư

Trường An đạo

長安道 長
長安道
塵浩浩
香車絲騎相續來
不遣路旁長春草
丈夫失志無所歸
寂寂塵中自年老Trường An đạo
Trường An đạo
Trần hạo hạo
Hương xa ty kỵ tương tục lai
Bất khiển lộ bàng trưởng xuân thảo
Trượng phu thất chí vô sở quy
Tịch tịch trần trung tự niên lão安道

Tuyệt bút 絕筆

半年學道太糊塗,
脫屣如今乃識途。
薦爽亭波天姥月,
水香林影有人無。

Tuyệt bút
Bán niên học đạo thái hồ đồ,
Thoát tỉ như kim nãi thức đô.
Tiến Sảng đình ba, Thiên Mụ nguyệt,
Thuỷ hương lâm ảnh hữu nhân vô?

Dịch nghĩa
Nửa đời học đạo mà vẫn quá hồ đồ
Bây giờ cởi dép (ý nói chết) mới thật là biết
Sóng đình Tiến Sảng, trăng chùa Thiên Mụ
Hương nước, bóng rừng, có hay không có ta?

Tự dật 自逸

濁酒一尊日暮,
落花萬點春闌。
天邊歸舟霧隱,
江畔罷釣波寒。

Tự dật
Trọc tửu nhất tôn nhật mộ,
Lạc hoa vạn điểm xuân lan.
Thiên biên quy chu vụ ẩn,
Giang bạn bãi điếu ba hàn.

Dịch nghĩa
Rượu lạt một bầu lúc trời tối
Hoa rơi vạn chấm buổi xuân tàn
Dưới chân trời chiếc thuyền về có sương mù che phủ
Bên bờ sông dừng câu cá, sóng đã lạnh

Tương An công vãn chương tam thủ kỳ 1

靈車五皷陟峰椒,
夾路香花湧海潮。
文佛生來文士葬,
西天此去不曾遙。

Tương An công vãn chương tam thủ kỳ 1
Linh xa ngũ cổ trắc phong tiêu,
Giáp lộ hương hoa dũng hải triều.
Văn phật sinh lai, văn sĩ táng,
Tây thiên thử khứ bất tằng diêu.

Tương An công vãn chương tam thủ kỳ 2

知君慧業故超然,
成佛分明在我前。
為說龍華舊遊侶,
幸留一席待他年。

Tương An công vãn chương tam thủ kỳ 2
Tri quân tuệ nghiệp cố siêu nhiên,
Thành phật phân minh tại ngã tiền.
Vị thuyết long hoa cựu du lữ,
Hạnh lưu nhất tịch đãi tha niên.

Tương An công vãn chương tam thủ kỳ 3

少小相知意氣深,
國音佳作每相尋。
從今縱有新詞句,
地下何人共賞心?

Tương An công vãn chương tam thủ kỳ 3
Thiếu tiểu tương tri ý khí thâm,
Quốc âm giai tác mỗi tương tầm.
Tòng kim túng hữu tân từ cú,
Địa hạ hà nhân cộng thưởng tâm?

Ức Bùi Lục 憶裴陸

月落山城煙路深,
哀猿啼斷易沾襟。
干戈滿地無家別,
知汝荊軻一片心。

Ức Bùi Lục
Nguyệt lạc sơn thành yên lộ thâm,
Ai viên đề đoạn dị triêm khâm.
Can qua mãn địa vô gia biệt,
Tri nhữ Kinh Kha nhất phiến tâm.

Ức Linh Sơn tự 憶靈山寺 

不到靈山二十年,
谿光林影想依然。
之應自下青榕樹
每每春來憶泊船。

Ức Linh Sơn tự
Bất đáo Linh Sơn nhị thập niên,
Khê quang lâm ảnh tưởng y nhiên.
Chi ưng tự hạ thanh dung thụ
Mỗi mỗi xuân lai ức bạc thuyền.

Dịch nghĩa
Hai mươi năm không đến chùa Linh Sơn
Vẻ sáng con suối chảy và bóng rừng nghĩ vẫn y như cũ
May ra, mé dưới chùa, cây đa hãy còn xanh biếc
Nhớ cứ mỗi một mùa xuân sang đến ghé thuyền

Văn thiền 聞蟬

送君曾此地,
一別欻經年。
愁殺長亭柳,
秋風起暮蟬。

Văn thiền
Tống quân tằng thử địa,
Nhất biệt hốt kinh niên.
Sầu sát trường đình liễu,
Thu phong khởi mộ thiền

Viên cư 園居

別墅倚平林,
柴扉面碧岑。
息機還愛靜,
觸興自成吟。

Viên cư
Biệt thự ỷ bình lâm,
Sài phi diện bích sầm.
Tức cơ hoàn ái tĩnh,
Xúc hứng tự thành ngâm.

Dịch nghĩa
Ngôi nhà riêng dựa vào khu rừng phẳng
Cửa gỗ hướng mặt ra phía núi xanh
Hiểu rõ lẽ biến dịch của trời đất trở về yêu thanh tịnh
Gặp hứng tự nhiên thành thơ

Viễn tứ 遠思 • Nghĩ nhớ xa xôi

遠思從何起,
中宵未穩眠。
長風連樹動,
片雨颯樓圓。
劍老光仍澀,
詩清意莫宣。
向來秋士感,
懷古益茫然。

Viễn tứ
Viễn tứ tòng hà khởi,
Trung tiêu vị ổn miên.
Trường phong liên thụ động,
Phiến vũ táp lâu viên.
Kiếm lão quang nhưng sáp,
Thi thanh ý mạc tuyên.
Hướng lai thu sĩ cảm,
Hoài cổ ích mang nhiên.

Dịch nghĩa
Từ đâu đâm ra nghĩ nhớ xa xôi
Đã nửa đêm rồi vẫn chưa yên ngủ
Trận gió to lay động hàng cây
Tiếng đám mưa rơi trên mái lầu êm nhẹ
Thanh gươm bền cứng, vẻ trơn láng lại rít sét như cũ
Bài thơ thanh lệ, ý đừng nói ra
Từ trước đến nay, cảm nghĩ của kẻ sĩ lỡ thời vận
Luyến nhớ thời xưa càng thấy thêm mịt mù

Xuân khuê 春閨

雙婀兩槳唱前溪,
百丈遊絲九陌西。
千里音書空憶雁,
半春情緒倦聞雞。
七囊錦字裁難寄,
六幅珠簾捲未齊。
二十四橋三五夜,
一聲八尺萬行啼。

Xuân khuê
Song a lưỡng tưởng xướng tiền khê,
Bách trượng du ti cửu mạch tê.
Thiên lý âm thư không ức nhạn,
Bán xuân tình tự quyện văn kê.
Thất nang cẩm tự tài nan ký,
Lục bức châu liêm quyển vị tề.
Nhị thập tứ kiều tam ngũ dạ,
Nhất thanh bát xích vạn hàng đề.

Dịch nghĩa
Đôi gái cắp đôi chèo đứng hát trước khe,
Trăm trượng tơ bay phấp phới trên không đều phát ra từ chín nẻo ở phương tây.
Trông nhạn trên không mang đến tin tức ngoài ngàn dặm,
Tình tự nửa chừng xuân đã mỏi mệt khi nghe tiếng gà gáy.
Khó gửi ý tứ vào chữ dệt thành gấm đựng trong bảy cái đãy,
Sáu tấm rèm châu cuốn lên chưa đều.
Khoảng canh ba, canh năm ở 24 cây cầu,
Một tiếng sáo cất lên thì có hàng vạn tiếng sáo cùng hoà theo.

Xuân khuê oán 春閨怨

四樓又見杏花飛
嫩綠荊黃柳漸肥
莫是年來春草遏
馬蹄行處不思歸

Xuân khuê oán
Tứ lâu hựu kiến hạnh hoa phi
Nộn liễu kinh hoàng liễu tiệm phì
Mạc thị niên lai xuân thảo át
Mã đề hành xứ bất tư quy

Dịch nghĩa
Bốn phía lầu lại thấy hoa hạnh bay
Cây kinh vàng nõn lục, cây liễu dần xanh bậm
Chẳng phải vì mấy năm nay cỏ xuân ngăn trở
Nên chân ngựa đến câc nơi, chẳng nhớ quay về

Xuy tiêu ỷ 吹簫倚

吹簫度新曲,
未合宮與商。
野音但趣適,
非要悅君王。

Xuy tiêu ỷ
Xuy tiêu độ tân khúc,
Vị hợp cung dữ thương.
Dã âm đãn thú thích,
Phi yếu duyệt quân vương.

Dịch nghĩa
Thổi sáo đưa khúc mới
Chưa hợp với Cung, Thương
Tiếng quê nghe vẫn thích
Không lựa vừa lòng vua

Trên đây, uct.edu.vn đã tiếp nối bài viết trước Nhà Thơ Tùng Thiện Vương Cùng Những Bài Thơ Đặc Sắc Phần 2 bằng những bài thơ hấp dẫn còn lại của ông. Những bài thơ luôn để lại dấu ấn đặc biệt trong lòng bạn đọc yêu thơ. Chúng tôi luôn liên tục cập nhật những bài viết hằng ngày. Hãy đồng hành cùng chúng tôi để theo dõi những bài viết thật ấn tượng nhé! Thân Ái!