Trần Tế Xương là con của một nhà nho và có nhiều đóng góp cho triều đình. Và đó cũng chính là lý do tại sao ông lại mang họ Trần – theo họ của nhà vua. Cuộc đời ngắn ngủi của Trần Tế Xương gắn liền với những biến cố thăng trầm của lịch sử. Và hiện thực xã hội này đã được phản ánh một cách sâu sắc trong thơ của ông. Dưới đây chúng tôi sẽ giới thiệu với bạn các bài thơ hay nhất của Trần Tế Xương.

Ngón Chầu

Có phải rằng ông chẳng học đâu?
Một năm ông học một vài câu
Ví dù vua mở khoa thi trống
“Lạc nhạn”, “xuyên tâm” đủ ngón chầu

Ngẫu Chiếm

Người quân tử gặp khi vận kiển
Liệu qua loa cho xong chuyện thì thôi
Việc gần xa phải trái kệ thây đời
Hơi đâu nghĩ vào người thêm tức bực
Ấy mới biết sự đời tuỳ lúc
Thắc mắc chi mà cầy cục có làm chi
Ăn thì ăn, ở thì ở, đứng thì đứng, đi thì đi
Cầm bắt được lòng người khi đã dễ
Với những kẻ đàn hoà vui miệng trẻ
Biết mười mươi ngoảnh mặt sẽ làm thinh
Chờ khi cờ đến tay mình

Ngẫu Hứng

Hán tự chẳng biết Hán,
Tây tự chẳng biết Tây.
Quốc ngữ cũng mù tịt,
Thôi thì về đi cày.
Trồng ngô và trồng đậu,
Cấy chiêm lại cấy mùa.
Ăn không hết thì bán,
Bán đã có Tây mua.
Được tiền thì mua rượu,
Rượu say rồi cưỡi trâu.
Cưỡi trâu thế mà vững,
Có ngã cũng không đau.
Ăn lương hàm chính thất,
Thôi thôi thế cũng xong,
Ví bằng nhà nước dụng.
Phải bổ toà canh nông.

Nghèo

Chẳng khôn cũng biết một hai điều,
Chẳng tội gì hơn cái tội nghèo.
Danh giá nhường này không lẽ bán,
Nhân duyên đến thế hãy còn theo.
Tấm lòng nhi nữ không là mấy,
Bực chí anh hùng lúc túng tiêu.
Có lẽ phong trần đâu thế mãi
Chốn này tình phụ, chốn kia yêu.

Nghèo Mà Vui

Kể suốt thế đố ai bằng anh Mán
Trải mùi đời, khôn chán giả làm ngây
Hổ sinh ra lúc thời này
An thân mệnh thế, giấu tay anh hùng
Không danh cho dễ vẫy vùng
Mình không phú quí, mắt không vương hầu
Khi để chỏm, lúc cạo đầu
Nghêu ngao câu hát nửa tàu nửa ta
Không đội nón, chịu màu da dãi nắng
Chẳng nhuộm răng, để trắng để cười đời
Chốn quyền môn luồn cúi mặc ai ai
Ngoài cương toả thảnh thơi ai đã biết?
Chỉ ấm ớ giả câm giả điếc
Cứ vui tràn khi hát khi ngâm
Trên đời mấy mặt tri âm!

Nhà Nho Giả Danh

Hỏi thăm quê quán ở nơi mô ?
Không học mà sao cũng gọi “đồ” ?
Ý hẳn người yêu mà gọi thế,
Hay là mẹ đẻ đặt tên cho ?
Áo quần đinh đáo trông ra “cậu”.
Ăn nói nhề nhàng khác giọng ngô.
Hỏi mãi mới ra thằng bán sắt,
Mũi nó gồ gồ, trán nó giô.

Nhớ Bạn Phương Trời

Ta nhớ người xa cách núi sông
Người xa, xa lắm, nhớ ta không?
Sao đang vui vẻ ra buồn bã!
Vừa mới quen nhau đã lạ lùng!
Lúc nhớ nhớ cùng trong mộng tưởng
Khi riêng riêng cả đến tình chung
Tương tư lọ phải là mưa gió
Một ngọn đèn xanh trống điểm thùng

Nước Buôn

Nước buôn như chị mới ăn người
Chị thấy ai ru? Chị cũng cười!
Chiều khách quá hơn nhà thổ ế,
Đắt hàng như thể mớ tôm tươi.
Tiền hàng kẻ thiếu, mi thường đủ,
Giá gạo đâu năm, đấy vẫn mười.
Thả quít nhiều anh mong mắm ngấu,
Lên rừng mà hỏi chú đười ươi!

Phòng Không

Em giận thân em mãi chửa chồng
Ngày năm bảy mối tối nằm không
Thiếu gì chốn ấy xêu trầu vỏ
Mà lại nơi kia dấm cốm hồng
“Hẩu lố” khách đà ba bảy chú
“Mét xì” Tây cũng bốn năm ông
Ép dầu ép mỡ duyên ai ép
Có mắn may ra đã bế bồng

Phú Hỏng Khoa Canh Tý

Đau quá đòn hằn;
Rát hơn lửa bỏng.

Hổ bút hổ nghiên;
Tủi lều tủi chõng.

Nghĩ đến chữ “lương nhân đắc ý” thêm nỗi thẹn thùng;
Ngắm đến câu “quyển thổ trùng lai” nói ra ngập ngọng.

Thế mới biết học tài thi phận, miệng đàn bà con trẻ nói vậy mà thiêng;
Nào ai ngờ chữ tốt văn hay, tài bảng nhãn thám hoa lỡ ra cũng hỏng.

Có một thầy:
Dốt chẳng dốt nào;
Chữ hay, chữ lỏng.

Nghiện chè nghiện rượu, nghiện cả cao lâu;
Hay hát hay chơi, hay nghề xuống lõng.

Quanh năm phong vận, áo hàng tầu, khăn nhiễu tím, ô lục soạn xanh;
Ra phố nghênh ngang, quần tố nữ, bít tất tơ, giày Gia Định bóng.

Giá cứ chăm nghề đèn sách thì mười lăm mười sáu đỗ tự bao giờ;
Chỉ vì quen lối thị thành, nên một tuổi một già, hoá ra lóng đóng.

Tú rốt bảng giữa năm Giáp Ngọ, nổi tiếng tài hoa;
Con nhà dòng ở đất Vị Xuyên, ăn phần cảnh nọng.

Năm vua Thành Thái mười hai;
Lại mở khoa thi Mĩ Trọng.

Kì đệ tam văn đã viết rồi;
Bảng đệ tứ chưa ra còn ngóng.

Thầy chắc hẳn văn chương đúng mực, lễ thánh xem giò;
Cô mừng thầm mũ áo đến tay, gặp người nói mộng.

Sáng đi lễ phật, còn kì này kì nữa là xong;
Đêm dậy vái trời, qua mồng bốn mồng năm cho chóng.

Nào ngờ:
Bảng nhỏ có tên,
Ngoại hàm còn trống.

Kẻ đến sáng văn còn được chấm, bảng cót nghênh ngang;
Người ngồi khuya tên hãy được vào, áo dài lụng thụng.

Thi là thế, học hành là thế, trò chuyện cùng ai?
Người một nơi, hồn phách một nơi, than thân với bóng!

Thôi thời thôi:
Sáng vở mập mờ;
Văn chương lóng ngóng.

Khoa trước đã chầy;
Khoa sau ắt chóng.

Hẳn có kẻ lo toan việc nước, vua chửa dùng tài;
Hay không ai dạy dỗ đàn con, trời còn bắt hỏng!

Canh Tý tức năm 1900.

Phú Thầy Đồ

Bài 1:

Thầy đồ thầy đạc
Dạy học dạy hành
Vài quyển sách nát
Dăm thằng trẻ ranh
Văn có hay đã đỗ làm quan, võng điều võng tía
Võ có giỏi đã ra giúp nước, khố đỏ khố xanh
Ý hẳn thầy văn dốt vũ dát
Cho nên thầy lẩn quẩn loanh quanh
Trông thầy
Con người phong nhã
Ở chốn thị thành
Râu rậm như chổi
Đầu to tày giành
Cũng lắm phen đi đó đi đây, thất điên bát đảo
Cũng nhiều lúc chơi liều chơi lĩnh, tứ đốm tam khoanh
Nhà lính tính quan: ăn rặt những thịt quay, lạp xường, mặc rặt những quần vân, áo xuyến
Đất lề quê thói: chỗ ngồi cũng án thư, bàn độc, ngoài hiên cũng cánh xếp, mành mành
Gần có một mụ, sinh được bốn anh:
Tên Uông, tên Bái, tên Bột, tên Bành
Mẹ muốn con hay, rắp một nỗi biển cờ mũ áo
Chủ rước thầy học, tính đủ tiền chè rượu cơm canh
Chọn ngày lễ bái
Mở cửa tập tành
Thầy ngồi chễm chện
Trò đứng chung quanh
Dạy câu Kiều lẩy
Dạy khúc lý kinh
Dạy những khi xuống ngựa lên xe, đứng ngồi phải phép
Dạy những lúc cao lâu chiếu hát, ăn nói cho sành!

Bài 2:

Có một cô lái
Nuôi một thầy đồ
Quần áo rách rưới
Ăn uống xô bồ
Cơm hai bữa: khoai lang, lúa ngô
Sao dám khinh mình? Thầy đâu thầy vậy!
Chẳng biết trọng đạo, cô lốc cô lô…

Phố Hàng Song

Ở phố Hàng Song thật lắm quan
Thành thì đen kịt, Đốc thì lang
Chồng chung vợ chạ kìa cô Bố
Đậu lạy quan xin nọ chú Hàn

Phường Hát Tuồng

Nào có ra chi một lũ tuồng
Cũng hò cũng hét cũng y uông
Dẫu rằng dối được đàn con trẻ
Cái mặt bôi vôi nghĩ cũng buồn

Phường Nhơ

Bấy lâu chơi với rặt phường nhơ
Quen mắt ưa nhìn chả biết dơ.
Nào sọt nào quang nào bộ gắp,
Đứa bưng đứa hót, đứa đang chờ.
Mình hôi mũi ngạt không kì quản
Áo ấm cơm no vẫn nhởn nhơ.
Ngán nỗi hàng phường khi cũng tế
Vẽ ông ôm đít để lên thờ!

Phường Tuồng

Nào có ra chi lũ hát tuồng!
Cũng hò, cũng hét, cũng y uông.
Dẫu rằng dối được đàn con trẻ
Cái mặt bôi vôi nghĩ cũng buồn!

Quan Tại Gia

Một ngọn đèn xanh, mấy quyển vàng
Bốn con làm lính, bố làm quan
Câu thơ, câu phú, sưu cùng thuế
Nghiên mực, nghiên son, tổng với làng
Nước quạt chưa xong, con nhảy ngựa
Trống hầu vừa dứt, bố lên thang
Hỏi ra quan ấy ăn lương vợ
Đem chuyện trăm năm giở lại bàn

Sông Lấp

Sông kia rày đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai
Vẳng nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò

Sắm Tết

Tết nhất năm nay khéo thật là!
Một mâm mứt rận mới bày ra
Xanh đồng thắng lại đen rưng rức
Áo đụp bò ra béo thật thà
Kẹo chú Sìu Châu đâu đọ được
Bánh bà Hạnh Tụ cũng thua xa
Sang năm quyết mở ngôi hàng mứt
Lại rưới thêm vào tí nước hoa!

Sư Ông Và Mấy Ả Lên Đồng

Chẳng khốn gì hơn cái nợ chồng!
Thà rằng bạn quách với sư xong!
Một thằng trọc tuếch ngồi khua mõ,
Hai ả tròn xoe đứng múa bông.
Thấp thoáng bên đèn lên bóng cậu
Thướt tha dưới án nguýt sư ông.
Chị em thủ thỉ đêm thanh vắng:
“Chẳng sướng gì hơn lúc thượng đồng!”

Sư Ở Tù

Quảng đại từ bi cũng phải tù
Hay là sư cũng vụng đường tu ?
Tụng kinh cứu khổ ba trăm quyển
Ý hẳn còn quên một phép phù ?

Ta Chẳng Ra Chi

Nếu có khôn ngoan đã vợ nhờ
Dại mà nhờ vợ, vợ làm ngơ
Sáng nem, bữa tối đòi ăn chả
Nay kiệu, ngày mai lại giở cờ
Ngồi đấy chả hơn gì chú Cuội
Nói ra thì thẹn với ông Tơ
Nhắn nhe chốn ấy tìm nơi khác
Ta chẳng ra chi, chớ đợi chờ!

Tái Giá

Cái quả phù trang khéo chuyển vần:
Khi thì quan lớn, lúc thì dân.
Nhà em thách cưới đà hai lượt,
Làng tớ thu cheo có một lần.
Thiên hạ không nên thương tiếc rể,
Cô hầu lắm lúc vẻ vang thân.
Bây giờ ông ấy lên ông cụ,
Ai dám trên ông vạn thế thần.

Tú Tây Hồ, Đồ Xuân Dục

Tú kiệt, đồ keo, cũng một môn,
Phải ai tai nấy, thất kinh hồn.
Người sao rặt những phường thâm móng,
Trời để chơi khăm đứa nhẵn trôn.

Tặng Người Quen

Em gửi cho anh mảnh lụa đào
Phất phơ tươi tốt đẹp làm sao
Của này ý hẳn trong nhà có
Hay cậy người mua ở nước nào?
May áo chỉ nên đôi cái dải
Thắt lưng cũng ngại chẳng đầy tao
Muốn lên hỏi giá mua vài tấm
Không biết rằng em bán thế nào?

Tết Cô Đầu

Chị hỡi chị, năm nay túng lắm
Biết làm sao, Tết đến nơi rồi

Này nụ, này hoa, này hài, này hán
Pháo, tranh Tàu, Hương Cảng mới sang
Chị cùng em sắm sửa lo toan
Muốn mua chịu, sợ nhà hàng lại lạ
Chị em ta cùng nhau giữ giá
Đến bây giờ ngã cả chẳng ai nâng
Cũng liều bán váy chơi xuân…

Tết Dán Câu Đối

Nhập thế cục bất khả vô văn tự
Chẳng hay ho cũng húng hắng một vài bài
Huống thân danh đã đỗ tú tài
Ngày Tết đến cũng phải một vài câu đối
Đối rằng:
Cực nhân gian chi phẩm giá, phong nguyệt tình hoài
Tối thế thượng chi phong lưu, giang hồ khí cốt
Viết vào giấy dán ngay lên cột
Hỏi mẹ mày rằng dốt hay hay?
Rằng hay thì thực là hay
Chẳng hay sao lại đỗ ngay tú tài!
Xưa nay em vẫn chịu ngài…

Tết Tặng Cô Đầu

Ngày xuân mừng quý khách
Khi vui lọ đàn phách!
Chuyện nở như gạo vàng
Chuyện dai như chão rách
Đổ cả bốn chân giường
Xiêu cả một bức vách!

Tự Đắc

Ta nghĩ như ta có dại gì
Ai chơi, chơi với, chẳng cần chi
Kìa thơ tri kỷ đàn anh nhất
Nọ phách phong lưu bậc thứ nhì
Ăn mặc vẫn ra người thiệp thế
Giang hồ cho biết bạn tương tri
Gặp thời gặp vận nên bay nhảy
Cho thoả rằng sinh chẳng lỗi thì

Tự Cười Mình

Ở phố Hàng Nâu có phỗng sành
Mắt thời thao láo, mặt thời xanh
Vuốt râu nịnh vợ, con bu nó
Quắc mắt khinh đời, cái bộ anh
Bài bạc kiệu cờ cao nhất xứ
Rượu chè trai gái đủ tam khoanh
Thế mà vẫn nghĩ rằng ta giỏi
Cứ việc ăn chơi, chẳng học hành

Tự Ngụ

Trời đất sinh ra chán vạn nghề
Làm thầy làm thợ với làm thuê
Đố ai mà được như ông nhỉ
Sáng vác ô đi tối vác về

Tự Tiếc

Ta thấy người ta vẫn bảo rằng:
Bảo rằng thằng Cuội ở cung Trăng
Cõi đời cũng lắm nơi thanh quí
Chị Nguyệt dung chi đứa tục tằn
Mình tựa vào cây, cây chó ỉa
Chân thò xuống giếng, giếng ai ăn
Con người như thế mà như thế
Như thế thời ra nghĩ cũng xằng

Tự Trào (I)

Chẳng phải quan mà chẳng phải dân,
Ngơ ngơ ngẩn ngẩn hoá ra đần.
Hầu con chè rượu ngày sai vặt,
Lương vợ ngô khoai tháng phát dần.
Có lúc vểnh râu vai phụ lão,
Cũng khi lên mặt dáng văn thân.
Sống lâu, lâu để làm gì nhỉ?
Lâu để mà xem cuộc chuyển vần!

Tự Trào (II)

Lúc túng toan lên bán cả trời
Trời cười thằng bé nó hay chơi
Ô hay công nợ âu là thế
Mà vẫn phong lưu suốt cả đời
Tiền bạc phó cho con mụ kiếm
Ngựa xe chẳng thấy lúc nào ngơi
Còn dăm ba chữ nhồi trong bụng
Khéo khéo không mà nó cũng rơi

Tự Vịnh (Phú Đắc)

Vị Xuyên có bác Tú Xương
Quanh năm ăn quịt, chơi lường mà thôi!”
Vị Xuyên có Tú Xương,
Dở dở lại ương ương:
Cao lâu thường ăn quịt,
Thổ đĩ lại chơi lường!

Than Đạo Học

Đạo học ngày nay đã chán rồi
Mười người đi học, chín người thôi
Cô hàng bán sách lim dim ngủ
Thầy khoá tư lương nhấp nhổm ngồi
Sĩ khí rụt rè gà phải cáo
Văn trường liều lĩnh đấm ăn xôi
Tôi đâu dám mỉa làng tôi nhỉ
Trình có ông tiên, thứ chỉ tôi

Trần Tế Xương là một tác giả có cuộc đời ngắn ngủi nhưng đã để lại được nhiều tác phẩm xuất sắc nổi bật. Khi ấy có thể nhà thơ viết chủ yêu để giải sầu, mua vui, hoặc đọc lên cho bạn bè hoặc cho vợ con nghe…. Tuy nhiên những tác phẩm này được rất nhiều người yêu thích. Đừng quên đón đọc các phần tiếp theo để cùng cập nhật các bài thơ hay của chúng tôi nhé!