Nhà thơ Trần Tế Xương và tuyển tập những bài thơ hay đặc sắc phần 1



Tú Xương tên thật là Trần Tế Xương. Lúc đầu tên bố mẹ đặt cho ông chính là Trần Duy Uyên. Và ông sinh ra ở làng Vị Xuyên huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Ông chỉ thọ 37 tuổi (sinh năm 1870 và mất năm 1907). Do xuất thân từ dòng dõi Nho gia và vốn là họ Phạm nhưng do đã lậ được công lớn và được phong quốc tính tức là vua cho đổi họ theo nhà vua nên đã đổi thành Trần Tế Xương. Hãy cùng đón đọc những bài thơ hay nhất của nhà thơ này bạn nhé!

Anh Kiệt Chơi Hoang

Người tai mắt ai không thức thú
Lúc về già lụ khụ mới chơi xuân
Suốt quanh năm nào mất cái lông chân
Nhà chứa bẩn để dành phân bón lúa
Ba câu chuyện khoe mình lắm của
Chốn nhà lan sặc sụa những hơi đồng
Theo anh em đến chốn lầu hồng
Hỏi cô ấy có chồng chăng nhỉ?
Anh đây thật là người chí khí
Tiền cưới cheo chi phí một vài hào
Khoe mình chơi nhất Hàng Thao!

Áo Bông Che Bạn

Hỡi ai, ai có thương không?
Đêm mưa, một mảnh áo bông che đầu
Vì ai, ai có biết đâu?
Áo bông ai ướt khăn đầu ai khô?
Người đi Tam Đảo, Ngũ Hồ
Kẻ về khóc trúc Thương Ngô một mình
Non non nước nước tình tình
Vì ai ngơ ngẩn cho mình ngẩn ngơ!

Đau Mắt

Vui chẳng riêng ai, ốm một mình
Hỏi ai, ai cũng chỉ mần thinh
Vừa đồng bạc lớn ông Lang Xán
Lại mấy hào con chú Ích Sinh
Hỏi vợ, vợ còn đi chạy gạo
Gọi con, con mải đứng chơi đình
Muốn mù trời chẳng cho mù nhỉ
Gương mắt trông chi buổi bạc tình!

Đánh Tổ Tôm

Bực chẳng nhẽ anh hùng khi vị ngộ,
Như lúc đen chơi cuộc tổ tôm,
Bài trạm thành cuối cánh phỗng ầm ầm,
Ngồi thôi chẳng bốc quân rác rảnh.
Cũng có lúc không chi thì bát sách,
Cũng có khi bạch định bốc yêu hồng;
Cất bài lên ông lão vẫn lẩn vòng,
Không đâu cả gặp kề năm bảy phỗng.
Cũng có ván tôm lèo lên chờ rộng,
Vớ phải thằng bạch thủ phỗng tay trên.
Gớm ghê thay đen thực là đen!
Sắc như mác cũng thua thằng vận đỏ.
May mắn nhẽ hữu duyên năng tái ngộ,
Bĩ cực rồi đến độ thái lai;
Tiếng tam khôi chi để nhường ai,
Hết bạch lại hồng, thông mãi mãi.
Nào những kẻ tay trên ban nãy,
Đến bây giờ thay thẩy dưới tay ta;
Tiếng bài cao lừng lẫy khắp gần xa,
Bát vạn ấy người ta ai dám đọ.
Thế mới biết tổ tôm có đen thì có đỏ.
Thì anh hùng vị ngộ có lo chi;
Trước sau, sau trước làm gì?

Đêm Buồn

Trời không chớp bể chẳng mưa nguồn
Đêm nảo đêm nao tớ cũng buồn
Ngao ngán tình chung cơn gió thoảng
Nhạt nhèo quang cảnh bóng trăng suông
Khăn khăn áo áo thêm rầy chuyện
Bút bút nghiên nghiên khéo giở tuồng
Ngủ quách sự đời thây kẻ thức
Chùa đâu chú trọc đã hồi chuông

Đêm Dài

Sực tỉnh trông ra ngỡ sáng loà
Đêm sao đêm mãi thế ru mà?
Lạnh lùng bốn bể ba phần tuyết
Xao xác năm canh một tiếng gà
Chim chóc hãy còn nương cửa tổ
Bướm ong chưa thấy lượn vườn hoa
Nào ai là kẻ tìm ta đó
Đốt đuốc mà soi kẻo lẫn nhà!

Đùa Bạn Vào Nhà Pha

Cái cách phong lưu lọ phải cầu
Bỗng đâu gặp những chuyện đâu đâu
Một ngày hai bữa cơm kề cửa
Nửa bước ra đi lính phải hầu
Trong tỉnh mấy toà quan biết mặt
Ban công ba chữ gác lên đầu
Nhà vuông thong thả nằm chờ mát
Vùng vẫy tha hồ thế cũng âu!

Đại Hạn

Dạo này đá chảy với vàng trôi
Thiên hạ mong mưa đứng lại ngồi
Ngày trước biết gì, ăn với ngủ
Bây giờ lo cả nước cùng nôi
Trâu mừng ruộng nẻ cày không được
Cá sợ ao khô vượt cả rồi
Tình cảnh nhà ai nông nỗi ấy
Quạt mo phe phẩy một mình tôi

Đạo Đức Giả

Hỏi lão đâu ta ? Lão ở Liêm
Trông ra bóng dáng đã hom hem.
Lắng tai, non nước nghe chừng nặng
Chớp mắt trăng hoa, giả cách nhèm
Cũng đã sư mô cùng đứa trẻ
Lại còn tấp tểnh với đàn em.
Xuân thu ướm hỏi đà bao tá ?
Cái miếng phong tình vẫn chửa khem.

Đất Vị Hoàng

Có đất nào như đất ấy không?
Phố phường tiếp giáp với bờ sông
Nhà kia lỗi phép con khinh bố
Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng
Keo cú người đâu như cứt sắt
Tham lam chuyện thở rặt hơi đồng
Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh
Có đất nào như đất ấy không?

Đề Ảnh

Cử Thăng, huấn Mỹ, tú Tây Hồ,
Ba đứa chung nhau một cái đồ.
Mới biết trời cho sum họp mặt,
Thôi đừng chê nhỏ lại chê to!

Để Vợ Chơi Nhăng

Thọ kia mày có biết hay chăng?
Con vợ mày kia, xiết nói năng!
Vợ đẹp, của người không giữ được,
Chồng ngu, mượn đứa để chơi nhăng.
Ra đường đáng giá người trinh thục
Trong dạ sao mà những gió trăng?
Mới biết hồng nhan là thế thế.
Trăm năm trăm tuổi lại trăm thằng!

Đồng Tiền

Phàm kim chi nhân, duy tiền nhi dĩ
Hết tiền tiêu, tráng sĩ cũng nằm co!
Chẳng dại khôn cũng chẳng thân sơ,
Có hơi kẽm, tha hồ ngang ngửa!
Thơ rằng:
Toán lai thế sự kim năng ngữ
Thuyết đáo nhân tình kiếm dục minh
Dơ dáng thay những mặt tài tình
Co quắp lắm cũng ra hình thủ lỗ
Tiền dẫu hết, hết rồi lại có
Chữ bất nhân tạc đó không mòn.
Ai ơi giữ lấy lòng son!

Đổi Thi

Nghe nói khoa này sắp đổi thi
Các thầy đồ cổ đỗ mau đi!
Dẫu không bia đá còn bia miệng
Vứt bút lông đi, giắt bút chì!

Đi Hát Mất Ô

Đêm qua anh đến chơi đây
Giày chân anh dận, ô tay anh cầm
Rạng ngày sang trống canh năm
Anh dậy, em hãy còn nằm trơ trơ
Hỏi ô, ô mất bao giờ
Hỏi em, em cứ ậm ờ không thưa
Chỉn e rầy gió mai mưa
Lấy gì đi sớm về trưa với tình?

Đi Thi

Nghe nói khoa này sắp đổi thi
Các thầy đồ cổ đỗ mau đi!
Dẫu không bia đá còn bia miệng
Vứt bút lông đi, giắt bút chì!

Đi Thi Nói Ngông

Ông trông lên bảng thấy tên ông
Ông nốc rượu vào, ông nói ngông
Trên bảng, năm hai thầy cử đội
Bốn kỳ, mười bảy cái ưu thông
Xướng danh tên gọi trên mình tượng
Ăn yến xem ra có thịt công
Cụ xứ có cô con gái đẹp
Lăm le xui bố cưới làm chồng!

Ông Ấm Mốc

Tôi hỏi thăm ông đến tận nhà
Trước nhà có giếng, có cây đa
Vườn ao đất cát chừng ba mẫu
Nứa lá tre pheo đủ mọi toà
Mới sáu bận sinh đà sáu cậu
Trong hai dinh ở có hai bà
Trông ông mốc thếch như trăn gió
Ông chỉ phong lưu tại nước da

Ông Cò

Hà Nam danh giá nhất ông cò
Trông thấy ai ai chẳng dám ho
Hai mái trống toang đành chịu dột
Tám giờ chuông đánh phải nằm co
Người quên mất thẻ âu trời cãi
Chó chạy ra đường có chủ lo
Ngớ ngẩn đi xia may vớ được
Chuyến này ắt hẳn kiếm ăn to!

Ông Cử Ba

Cửa Vũ, ba nghìn sóng nhảy qua
Ai ngờ mũ áo đến …ba ba
Đầu như lươn đất mà không lấm
Thân tựa xà hang cũng ngó ra
Dưới nước chẳng ưa, ưa trên cạn
Đất sét không ăn, ăn thịt gà!
Tuy rằng cổ rụt mà không ngỏng
Hễ cắn ai thì sét mới tha!

Ông Cử Thứ Năm

Ông cử thứ năm, con cái ai ?
Học trò quan đốc Tả Thanh Oai.
Nghe tin, cụ cố cười ha hả
Vứt cả dao cầu xuống ruộng khoai!
Thứ năm, ông cử ai làm nổi,
Học trò quan đốc tỉnh Hà Nội ?
Nghe tin, bà cố cười khì khì
Đổ cả riêu cua xuống vũng lội!

Ông Hàn

Hàn lâm tu soạn kém gì ai ?
Đủ cả vung, nồi, cả cóng chai
Ví thử quyển thi ông được chấm
Đù cha đù mẹ đứa riêng ai!

Ông Hàn Bị Vợ Doạ Bỏ

Ông đã ơn vua một chữ “hàn”
Nay lành mai vỡ khéo đa đoan!
Được thua hai ngả, ba câu chuyện
Khôn dại trăm năm một tiếng đàn.
Chim chuột sau này, nên gắng sức…
Lợn gà thủa ấy đã nên oan.
Có ai làm thủng, ông không biết,
Còn phải mang điều với gái ngoan.

Ông Lão

Ông lão ngày xưa tính thực hiền
Bảy ba vui thú cảnh điền viên
Sách đèn học tập năm Minh Mệnh
Áo mũ ăn ngồi xã Vị Xuyên
Giá phỏng có thi may cũng đỗ
Thôi thì không lụy thế là tiên
Đầu râu tóc bạc như mua được
Thầy bá nhà quê chán vạn tiền

Ông Tiến Sĩ Mới

Tiến sĩ khoa này đỗ mấy người ?
Xem chừng hay chữ có ông thôi!
Nghe văn mà gớm cho văn nhỉ
Cờ biển vua ban cũng lạ đời!

Ba Cái Lăng Nhăng

Một trà, một rượu, một đàn bà
Ba cái lăng nhăng nó quấy ta
Chừa được cái gì hay cái nấy
Có chăng chừa rượu với chừa trà!

Bác Cử Nhu

Sơ khảo khoa này, bác cử Nhu
Thực là vừa dốt lại vừa ngu
Văn chương nào phải là đơn thuốc!
Chớ có khuyên xằng, chết bỏ bu!

Bảo Người Bán Sực Tắc

Sực tắc đi đêm gõ điếc tai,
Tiền thời không có biết vay ai?
Chú ơi, bán chịu tôi vài bát,
Sáng mai tôi trả một thành hai.

Bắt Được Đồng Tiền

Đầu năm ra cửa được đồng tiền
Nào có cầu đâu, được tự nhiên
Ý hẳn nhà nho sang vận đỏ
Hay là con tạo thử người đen
Muốn đem trả nợ đòi nhà lại
Hay để làm lương giúp nước liền
Của cải vua ta đâu sẵn thế
Chữ đề Tự Đức hãy còn nguyên

Bỡn Ông Ấm Điềm

Ấm không ra ấm, ấm ra nồi
Ấm chạy lăng quăng, ấm chẳng ngồi
Chán cả đồ chuyên cùng chén mẫu
Luộc giò, nấu thịt, lại đồ xôi

Buồn Thi Hỏng

Bụng buồn còn muốn nói năng chi ?
Đệ nhất buồn là cái hỏng thi.
Một việc văn chương thôi cũng nhảm,
Trăm năm thân thế có ra gì!
Được gần trường ốc vùng Nam Định,
Thua mãi anh em cánh Bắc Kì.
Rõ thực nôm hay mà chữ tốt,
Tám khoa chưa khỏi phạm trường quy.

Cái Nhớ

Cái nhớ hình dung nó thế nào?
Khiến người ngao ngán, ngẩn ngơ sao!
Biết nhau cho lắm thêm buồn nhé
Để khách bên trời dạ ước ao!

Câu Đối Tết

Thiên hạ xác rồi còn đốt pháo
Nhân tình trắng thế lại bôi vôi

Không dưng xuân đến chi nhà tớ?
Có nhẽ trời mà đóng cửa ai!

Nực cười thay: nêu không, pháo không, vôi bột cũng không, mà tết!
Thôi cũng được: rượu có, nem có, bánh chưng cũng có, thừa chơi!

Xuân về chớ để xuân đi, thương kẻ quạt nồng cùng ấp lạnh
Năm mới khác gì năm cũ, van người bán muối với mua vôi

Vui xuân, xuân cả một trời, có lẽ đâu đâu cũng vậy
Người học, học cho hết sách, hay là thế thế mà thôi

Câu Đối Than Thân

Nợ có chết ai đâu, chửi chó mắng mèo eo óc
Trời để sống ta mãi, lên xe xuống ngựa có phen

Ngoài ba mươi mấy tuổi rồi, dù có chết cũng không non yểu
Sao được như vài năm trước, hãy cứ chơi cho để nợ nần

Trúc báo bình an, nỡ để vun trồng bên kẽ ngạch
Cò nhiều văn tự, cớ sao lặn lội ở bờ sông

Cô Hầu Trách Quan Lớn

Chỉ trách người sao chẳng trách mình ?
Mình trung đâu đấy, trách người trinh ?
Áo dầy cơm nặng bao nhiêu đứa ?
Chiếu cạnh giường bên, mấy hột tình ?
Tơ tóc nỗi riêng thì xét nét
Giang sơn nghĩa cả nỡ mần thinh!
Cổ cong mặt lệnh, người đâu thế ?
Cái cóc bôi vôi khéo dại hình!

Cô Tây Đi Tu

Rứt cái mề đay ném xuống sông
Thôi thôi tôi cũng “mét xì” ông!
Âu đành chùa đó, âu đành phật
Cũng chẳng con chi, cũng chẳng chồng.
Chớ thấy câu kinh mà mặc kệ
Ai ngờ chữ “sắc” hoá ra “không”!
Tôi đây cũng muốn như cô nhỉ
Cái nợ trầu duyên rũ chửa xong.

Trần Tế Xương là một nhà thơ nổi tiếng và đã có nhiều tác phẩm được đánh giá rất cao. Tài liệu thơ ca của ông khá đồ sộ tuy nhiên các thông tin ghi chép được lại không thấy có ảnh. Tuy nhiên hình dáng của Trần Tế Xương được người bạn học là Lương Ngọc Tùng viết trong bài thơ Nhớ rõ hình dung. Và sau này cũng đã được họa lại. Đừng quên đón đọc các phần tiếp theo để cập nhật các bài thơ hay nhất của Trần Tế Xương bạn nhé!

so1vn - Tags: