Tào Thực là một nhà thơ nổi tiếng của Trung Quốc. Thơ ông biến hóa theo từng giai đoạn, lúc đầu thể hiện khát vọng chí tiến thủ lập công sau này thì thơ ông bày tỏ niềm u uất và bi thương. Kho tàng thơ của ông có số lượng nhiều , nghệ thuật cao, ngôn từ điêu luyện phong vị dân ca đậm đà thể hiện được phần nào nỗi khổ của nhân dân trong thời kì loạn lạc.

Ông xứng đáng là đệ nhất thi nhân trong hai đời Tần Hán, là người mở đường cho lối thơ diễm lệ. Thơ của ông đặc sắc bởi lời rất điêu luyện, có nhạc, có đối mà vẫn tự nhiên, đủ văn vẻ lẫn chất phác. Những bài thơ của ông vẫn vẹn nguyên giá trị đến ngày nay

Nào! Ngay bây giờ chúng ta hãy cùng nhau khám phá kho tàng thơ của Tào Thực nhé!

I. Đôi Nét Về Tác Giả Tào Thực 

– Tào Thực 曹植 (192-232) tự Tử Kiến 子建, là con thứ của Tào Tháo 曹操, em cùng mẹ với Tào Phi 曹丕.

– Lúc còn trẻ tuổi được cha yêu tài nên đời sống thong dong, sau Tào Tháo mất, Tào Phi tiếm vị Nguỵ Văn Đế đến Minh Đế (Tào Duệ), Tào Thực bị nghi kỵ, không được tham gia vào triều chính, ôm tâm sự uất ức mà mất sớm.

– Thơ của ông còn lưu lại khoảng chừng 80 bài, đa phần là thơ ngũ ngôn, lời lẽ văn hoa mỹ lệ, tình cảm dạt dào, khảng khái. Ông là ngôi sao sáng chói nhất của nền văn học thời kỳ Kiến An.

II. Những Bài Thơ Đặc Sắc Của Tào Thực 

Tào Thực được biết đến là một nhà thơ sở hữu một kho tàng lớn thơ ca Trung Quốc. Những bài thơ của ông có lối thơ điêu luyện, phong vị dân ca đậm đà. Thơ ông phản ánh nỗi thống khổ của nhân dân trong thời kì loạn lạc nhất là những người phụ nữ có số phận bi thương. Ông được xem là một trong những người góp phần không nhỏ cho nền văn học Trung Quốc.

Ngay bây giờ, các bạn hãy cùng uct.edu.vn cảm nhận những bài thơ đặc sắc của ông và hãy chia sẻ cho chúng tôi những suy ngẫm của các bạn về bài thơ nhé!

Bạch mã thiên 白馬篇 • Thiên về bạch mã

Bạch mã sức kim ky,
Liên phiên tây bắc trì.
Tá vấn thuỳ gia tử,
U Tinh du hiệp nhi.
Thiếu tiểu khứ hương ấp,
Dương thanh sa mạc thuỳ.
Túc tích bỉnh lương cung,
Hộ thỉ hà sâm si.
Khống huyền phá tả đích,
Hữu phát tồi nguyệt chi.
Ngưỡng thủ tiếp phi nhu,
Phủ thân tán mã đề.
Giảo tiệp quá hầu viên,
Dũng phiếu nhược báo ly.
Biên thành đa cảnh cấp,
Hồ lỗ sổ thiên di.
Vũ hịch tòng bắc lai,
Lệ mã đăng cao đê.
Trường khu đạo Hung Nô,
Tả cố lăng Tiên Ty.
Khí thân phong nhận đoan,
Tính mệnh an khả hoài?
Phụ mẫu thả bất cố,
Hà ngôn tử dữ thê?
Danh biên tráng sĩ tịch,
Bất đắc trung cố tư.
Quyên khu phó quốc nạn,
Thị tử hốt như quy.

Dịch nghĩa
Bạch mã đeo cương vàng,
Rong ruổi lên tây bắc.
Hỏi thử con nhà ai,
Người tráng sĩ đất U, Tinh kia.
Khi thiếu niên đã rời quê,
Nổi danh ở vùng sa mạc biên ải.
Sớm chiều đều mang chiếc cung tốt,
Và tên làm bằng cây hộ nhiều bên người.
Dương dây vỡ đích bên trái,
Bắn bên phải nát mục tiêu.
Giơ tay ngẩng mặt cũng bắn trúng,
Cúi người cũng bắn trúng.
Nhanh nhẹn hơn khỉ vượn,
Lanh lợi như báo và thuồng luồng.
Thành ngoài biên ải nhiều cảnh báo gấp,
Giặc Hồ bắt đầu xâm nhập.
Hịch chiêu mộ từ phương bắc tới,
Đánh ngựa lên đê cao.
Đuổi dài giẫm đạp giặc Hung Nô,
Phía tả đánh đuổi Tiên Ty.
Hy sinh đầu ngọn giáo,
Tính mệnh có đáng xót thương?
Cha mẹ cũng không thể chăm sóc được,
Còn nói gì đến vợ con.
Tên ghi vào danh sách tráng sĩ,
Đâu thể màng tới chuyện riêng.
Bỏ thân vì quốc nạn,
Xem cái chết cũng như trở về.

Dã điền hoàng tước hành 野田黃雀行

Cao thụ đa bi phong,
Hải thuỷ dương kỳ ba.
Lợi kiếm bất tại chưởng,
Kết giao hà tu đa!
Bất kiến ly gian tước,
Kiến diêu tự đầu la.
La gia kiến tước hỉ,
Thiếu niên kiến tước bi.
Bạt kiếm sao la võng,
Hoàng tước đắc phi phi.
Phi phi ma thương thiên,
Lai hạ tạ thiếu niên.

Dịch nghĩa
Cây cao nhiều gió thét gào,
Biển lớn dễ nổi sóng gió.
Kiếm sắc không có trong tay,
Sao lại kết giao nhiều.
Không thấy chim sẻ trong bụi giậu,
Vì trốn chim điêu mà (chui vào giậu nên) bị mắc lưới.
Ông chủ lưới thấy chim sẻ thì vui mừng,
Cậu thiếu niên thấy sẻ thì buồn.
Vung kiếm chém rách lưới,
Chim sẻ vàng được bay ra.
Bay lên đến trời xanh,
Rồi lại bay xuống cảm tạ thiếu niên.

Danh đô thiên 名都篇 • Danh đô

Danh đô thiên
Danh đô đa yêu nữ,
Kinh Lạc xuất thiếu niên.
Bảo kiếm trực thiên kim,
Bị phục quang thả tiên.
Đấu kê đông giao đạo,
Tẩu mã trường thu gian.
Trì khu vị năng bán,
Song thố quá ngã tiền.
Lãm cung tiệp minh đích,
Trường khu thướng Nam sơn.
Tả vãn nhân hữu phát,
Nhất túng lưỡng cầm liên.
Dư xảo vị cập triển,
Ngưỡng thủ tiếp phi diên.
Quan giả hàm xưng thiện,
Chúng công quy ngã nghiên.
Quy lai yến Bình Lạc,
Mỹ tửu đẩu thập thiên.
Khoái lý, tuyến thai hà,
Pháo miết, chích hùng phiền.
Minh trù, khiếu thất lữ,
Liệt toạ cánh trường diên.
Liên phiên kích cúc nhưỡng,
Xảo tiệp duy vạn đoan.
Bạch nhật tây nam trì,
Quang cảnh bất khả phan.
Vân tản hoàn thành ấp,
Thanh thần phức lai hoàn.

Dịch nghĩa
Danh đô có nhiều gái đẹp,
Thành Lạc Dương có nhiều trai trẻ (tài giỏi).
Bảo kiếm đeo trị giá ngàn vàng,
Trang phục sáng và mới mẻ.
Chọi gà ở đường ngoài thành phía đông,
Cưỡi ngựa qua đường dài những cây thu.
Rong ruổi chưa được nửa đường,
Thì có một đôi thỏ chạy qua trước mặt.
Lấy cung giương lên ngắm,
Rồi đuổi theo chạy tới núi Nam.
Kéo cung bắn phía bên trái,
Một phát trúng cả hai con.
Tài bắn chưa kịp thi triển hết,
Giơ tay đã bắn chết một con diều hâu.
Người xem trầm trồ khen giỏi,
Những kẻ bắn tranh nhau mình tài.
Trở về mở yến tiệc tại Bình Lạc,
Rượu ngon một đấu giá mười ngàn quan tiền.
Cá chép mỏng, tôm béo có trứng,
Ba ba, chân gấu nướng.
Gọi thêm bạn bè cùng tới,
Người ngồi khắp trên chiếu dài.
Tiệc xong lại chơi trò đá cầu, ném que,
Khéo léo thật khôn lường.
Mặt trời từ từ lặn về tây nam,
Không thể lưu giữ lại ánh sáng.
Người như mây tản về thành,
Sáng sớm mai ra lại quay lại.

Dự Chương hành kỳ 1 豫章行其一

Cùng đạt nan dự đồ,
Hoạ phúc tín diệc nhiên.
Ngu Thuấn bất phùng Nghiêu,
Canh vân xứ trung điền.
Thái Công vị tao Văn,
Ngư điếu chung Vị xuyên.
Bất kiến Lỗ Khổng Khâu,
Cùng khốn Trần Sái gian.
Chu Công hạ bạch ốc,
Thiên hạ xưng kỳ hiền.

Dịch nghĩa
Đường (sự nghiệp) cùng hay đạt khó thể dự đoán,
Hoạ hay phúc cũng không thể tin được.
Ngu Thuấn nếu không gặp Nghiêu,
(Thì) cày và làm cỏ ở ruộng.
Thái Công nếu chưa gặp Văn,
(Thì) vẫn mãi ngồi câu cá ở sông Vị.
Chưa gặp Khổng Khâu (Khổng Tử) ở nước Lỗ,
Bị cùng khốn giữa nước Trần và nước Sái.
Chu Công chịu làm hàn sĩ,
Thiên hạ tôn làm thánh hiền.

Dự Chương hành kỳ 2 豫章行其二

Uyên ương tự bằng thân,
Bất nhược tỷ dực liên.
Tha nhân tuy đồng minh,
Cốt nhục thiên tính nhiên.
Chu Công mục Khang Thúc,
Quản, Sái tắc lưu ngôn.
Tử Tang nhượng thiên thặng,
Quý Trát mộ kỳ hiền.

Dịch nghĩa
Chim uyên ương dù thân thiết,
Cũng không như chim liền cánh.
Người ta tuy là đồng minh,
Nhưng cũng không như ruột thịt vốn là thiên tính.
Chu Công hoà thuận với Khang Thúc,
Mà Quản Thúc và Sái Thúc lại gièm pha.
Tử Tang nhường lại nước ngàn cỗ ngựa,
Quý Trát mến người hiền ấy.

Đồng Tước đài phú 銅雀臺賦 • Phú đài Đồng Tước

Tòng minh hậu dĩ hì du hề,
Đăng tằng đài, dĩ ngu tình.
Kiến thái phủ chi quảng khai hề.
Quan Thánh đức chi sở dinh
Kiến cao môn chi tha nga hề,
Phù song khuyết hồ Thái thanh.
Lập trung thiên chi hoa quan hề,
Liên phi các hồ Tây Thành.
Lâm Chương thuỷ chi trường lưu hề,
Vọng viên quả chi tư vinh.
Lập song đài ư tả hữu hề,
Hữu Ngọc Long dữ Kim Phụng.
Liên nhị kiều ư đông tây hề,
Nhược trường không chi đế đống.
Phủ hoàng đô chi hoành lệ hề,
Khám vân hà chi phù động.
Hán quần tài chi lai tuỵ hề.
Hiệp phi hùng chi cát mộng.
Ngưỡng xuân phong chi hoà mục hề.
Thính bách điểu chi bi minh.
Vân thiên tuyên kỳ ký lập hề,
Gia nguyện đắc hồ song sinh.
Dương nhân hoá vu vũ trụ hề,
Tận túc cung vu thượng kinh.
Duy hoàn, văn chi duy thịnh hề,
Khởi túc phương hồ thánh minh.
Hưu hỹ! Mỹ hỹ!
Huệ trạch viễn dương.
Dực tá ngã hoàng gia hề.
Ninh bỉ tứ phương.
Đồng thiên địa chi quy lượng hề.
Tề nhật nguyệt chi huy quang.
Vĩnh quý tôn nhi vô cực hề.
Đẳng quân thọ ư đông hoàng.
Ngự long kỳ dĩ ngao du hề
Hồi loan giá nhi chu chương.
Tư hoá cập hồ tứ hải hề,
Gia vật phụ nhi dân khang.
Nguyện tư đài chi vĩnh cô hề,
Lạc chung cổ nhi vị hương!

Giới lộ hành 薤露行 • Bài ca sương trên lá hẹ

Giới lộ hành
Thiên địa vô cùng cực,
Âm dương chuyển tương nhân.
Nhân cư nhất thế gian,
Hốt nhược phong xuy trần.
Nguyện đắc triển công cần,
Thâu lực ư minh quân.
Hoài thử vương tá tài,
Khảng khái độc bất quần.
Lân giới tôn thần long,
Tẩu thú tông kỳ lân.
Trùng thú do tri đức,
Hà huống ư sĩ nhân.
Khổng thị san Thi, Thư,
Vương nghiệp xán dĩ phân.
Sính ngã kính thốn hàn,
Lưu tảo thuỳ hoa phân.

Dịch nghĩa
Trời đất vô cùng cực,
Mặt trăng, mặt trời xoay chuyển theo nhau.
Người sống trong một cuộc đời,
Gấp gáp như gió cuốn bụi bay.
Nguyện được lập công kiến nghiệp,
Tận lực vì vua sáng.
Ôm trong mình tài năng phò tá vua,
Mạnh mẽ một mình không ai sánh.
Loài dưới nước tôn rồng là tổ,
Loài thú chạy thì tôn lân.
Các loài vật còn biết thế nào là đức,
Huống chi những người có học.
Khổng Tử san định Thi kinh và Thượng thư,
Làm cho vương nghiệp phân định rõ ràng.
Ta muốn vung tấc bút lên,
Viết thành văn chương lưu lại hương thơm mãi mãi.

Hỉ vũ thi 喜雨詩 • Thơ mừng mưa

Thiên phúc hà my quảng,
Bao dục thử quần sinh.
Khí chi tất tiều tuỵ,
Huệ chi tắc tư vinh.
Khánh vân tòng bắc lai,
Uất thuật tây nam chinh.
Thời vũ trung dạ giáng,
Trường lôi chu ngã đình.
Gia chủng doanh cao nhưỡng,
Đăng thu tất hữu thành.

Dịch nghĩa
Trời xanh bao trùm thực rộng lớn,
Bao quát nuôi dưỡng mọi loài.
Nếu ruồng bỏ loài gì ắt sẽ bị tiều tuỵ,
Nếu ban ơn lộc cho loài gì ắt sẽ được tốt tươi.
Mây lành từ phía bắc tới,
Ùn ùn trôi về tây nam.
Mưa kịp thời trong đêm xuống,
Sấm dài xung quanh sân.
Giống tốt gieo trong đất phì nhiêu,
Tới mùa thu ắt sẽ bội thu.

Hu ta thiên 吁嗟篇 • Thiên tự than thân

Hu ta thiên
Hu ta thử chuyển bồng,
Cư thế hà độc nhiên.
Trường khứ bản căn thệ,
Túc dạ vô hưu nhàn.
Đông tây kinh thất mạch,
Nam bắc việt cửu thiên.
Tốt ngộ hồi phong khởi,
Xuy ngã nhập vân gian.
Tự vị chung thiên lộ,
Hốt nhiên há trầm uyên.
Kinh tiêu tiếp ngã xuất,
Cố quy bỉ trung điền.
Đương nam nhi cánh bắc,
Vị đông nhi phản tây.
Đãng đãng đương hà y,
Hốt vong nhi phục tồn.
Phiêu diêu chu bát trạch,
Liên phiên lịch ngũ san.
Lưu chuyển vô hằng xứ,
Thuỳ tri ngô khổ gian.
Nguyện vi trung lâm thảo,
Thu tuỳ dã hoả phần.
My diệt khởi bất thống,
Nguyện dữ căn cai liên.

Dịch nghĩa
Thương thay thân ta phiêu bồng,
Ở trên đời này cô độc sao.
Rời bỏ nơi gốc gác,
Ngày đêm chẳng được nghỉ ngơi.
Đông tây qua bảy đường,
Nam bắc vượt chín lối.
Bỗng gặp trận cuồng phong nổi lên,
Thổi ta lên trời mây.
Vừa mới lên đến trời,
Bỗng lại rơi xuống vực.
Gió lớn cuốn ta ra,
Khiến ta rơi xuống cánh đồng nọ.
Đang nam bỗng lại thành bắc,
Tưởng đông mà hoá lại là tây.
Thật ghê gớm làm sao,
Bỗng như sống như chết.
Phiêu diêu qua tám đầm,
Bay qua năm ngọn núi.
Lưu chuyển không có nơi cố định,
Có ai hay ta khổ cực.
Nguyện làm cỏ trong rừng,
Mùa thu cháy theo lửa hoang.
Bị thiêu cháy lẽ nào không đau,
Chỉ mong rễ vẫn còn liền.

Khí phụ thi 棄婦詩 • Thơ về người vợ bị bỏ

Khí phụ thi
Thạch lựu thực tiền đình,
Lục diệp dao phiêu thanh.
Đan hoa chước liệt liệt,
Thôi thái hữu quang vinh.
Quang vinh diệp lưu ly,
Khả dĩ xử thục linh.
Hữu điểu phi lai tập,
Phụ dực dĩ bi minh.
Bi minh phù hà vị?
Đan hoa thực bất thành.
Phụ tâm trường thán tức,
Vô tử đương quy ninh.
Hữu tử nguyệt kinh thiên,
Vô tử nhược lưu tinh:
Thiên nguyệt tương chung thuỷ,
Lưu tinh một vô tinh.
Thê trì thất sở nghi,
Hạ dữ ngoã thạch tịnh.
Ưu hoài tòng trung lai,
Thán tức thông kê minh.
Phản trắc bất năng mị,
Tiêu dao ư tiền đình.
Trì trù hoàn nhập phòng,
Túc túc duy mạc thanh.
Khiên duy cánh nhiếp đới,
Phủ huyền điệu minh tranh.
Khảng khái hữu dư âm,
Yếu diệu bi thả thanh.
Thâu lệ trường thán tức,
Hà dĩ phụ thần linh?
Chiêu Dao đãi sương lộ,
Hà tất xuân hạ thành.
Vãn hoạch vi lương thực,
Nguyện quân thả an ninh.

Dịch nghĩa
Cây thạch lựu trồng trong sân trước,
Lá xanh tươi nhẹ nhàng đu đưa.
Ra hoa màu đỏ như lửa,
Sắc rực rỡ lung linh.
Màu sắc như ngọc lưu ly toả ra,
Có thể là nơi loài vật thiêng trú ngụ.
Có chú chim bay tới đậu,
Vỗ cánh buồn hót.
Buồn hót bởi vì cớ gì?
Vì ra hoa đỏ mà không thành quả.
(Người vợ) vỗ bụng buồn rầu than thở,
Không có con nên bị đuổi về.
Có con như trăng sáng ngang trời,
Không con như sao mờ trôi qua.
Trăng sáng cùng trời trước sau chỉ có một cùng nhau,
Sao mờ trôi qua rồi lặn mất.
Sinh hoạt, ăn ở không được tuỳ nghi theo ý mình,
Thấp hèn như gạch ngói.
Nỗi ưu hoài cứ nối mãi không hết,
Than thở tới khi gà gáy sáng.
Trăn trở không ngủ được,
Dạo bước ra sân trước.
Bồi hồi lại trở về phòng,
Gió thổi vào màn phe phẩy.
Vén màn, thắt đai áo,
Gảy một điệu đàn tranh.
Âm thanh khảng khái không ngừng,
Vi diệu phát ra những tiếng buồn.
Thu lệ than thở hoài,
Vì cớ gì phụ lòng tốt của loài vật linh thiêng?
Cây quế đợi sương móc mùa thu mới ra quả,
Đâu nhất thiết phải ra phải vào mùa xuân, hạ.
Quả quế ra muộn thì ăn ngon,
Mong chàng hãy cứ an lòng.

Trên đây, uct.edu.vn đã chia sẻ đến bạn những bài thơ đặc sắc của nhà thơ Tào Thực. Thơ ông thấm đẫm chất triết lý, thể hiện lòng xót thương cho đất nước và số phận những người phụ nữ bất hạnh trong thời kì đất nước loạn lạc. Hy vọng các bạn hài lòng với bài viết của chúng tôi. Hẹn gặp lại các bạn phần 2 vào một ngày không xa. Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết của chúng tôi!