Nhà thơ Tản Đà và tập thơ dịch tác giả Lý Bạch, Khổng Tử



Những năm tháng cuối đời, cuộc đời của Tản Đà gặp khá nhiều biến cố. Đó là việc các nhà thơ thuộc phong trào Thơ mới liên tục chê bai thơ của ông. Sau này họ đã không còn đả kích nữa mà nhìn nhận lại một cách khách quan hơn về những cống hiến, đóng góp của nhà thơ. Tiêu biểu là tờ Ngày nay của nhóm Tự lực văn đoàn trước kia cũng chê ông hết lời thì nay lại dành trang báo để đăng các bài dịch thơ Đường của ông. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu các bài dịch thơ Đường của Khổng Tử, Lý Bạch mà Tản Đà đã dành phần lớn thời gian và công sức nhé!

Biểu hữu mai 1 – Khổng Tử

Cây mai rụng
Quả bảy trên cành
Áy ai là kẻ cầu mình
Tính sao cho kịp ngày lành hỡi ai

Biểu hữu mai 2 – Khổng Tử

Cây mai rụng
Trên cành quả ba
Hỡi ai là kẻ cầu ta
Tính sao cho kịp ắt là ngày nay

Biểu hữu mai 3 – Khổng Tử

Cây mai rụng
Nghiêng giỏ nhặt mai
Cầu ta, ai đó hỡi ai
Tính sao cho kịp một nhời bảo nhau

Quan thư 1 – Khổng Tử

Quan quan cái con thư cưu,
Con sống con mái cùng nhau bãi ngoài.
Dịu dàng thục nữ như ai,
Sánh cùng quân tử tốt đôi vợ chồng.

Quan thư 2 – Khổng Tử

Muốn ăn rau hạnh theo dòng,
Muốn cô thục nữ mơ mòng được đâu.
Nhớ cô dằng dặc cơn sầu,
Cho ta dằn dọc dễ hầu ngủ yên.

Quan thư 3 – Khổng Tử

Muốn ăn rau hạnh hái về,
Muốn cô thục nữ nay về cùng ta.
Tiếng chuông tiếng trống vui hòa,
Tiếng cầm tiếng sắt mặn mà yêu đương.

Trúc can 1 – Khổng Tử

Von vót cái cần câu tre
Để câu ở bến sông Kỳ, ta chơi
Xa xôi lắm lắm mày ơi
Phải rằng không nhớ, nhưng đến nơi khó lòng

Trúc can 2 – Khổng Tử

Bên tả thời có Tuyền Nguyên
Sông Kỳ thời ở về bên hữu này
Làm thân con gái xưa nay
Anh em, cha mẹ, có ngày xa xôi

Trúc can 3 – Khổng Tử

Bên hữu thời có sông Kỳ
Ở về bên tả ấy thì Tuyền Nguyên
Ngọc đeo đi đứng ra nền
Hai hàm răng trắng tươi duyên miệng cười

Trúc can 4 – Khổng Tử

Sông Kỳ nước chảy như tuôn
Cái rầm gỗ cối, cái thuyền gỗ thông
Ai ơi đi với ta cùng
Ra chơi đôi chút cho lòng đỡ lo

Yến yến 1 – Khổng Tử

Kìa trông con én nó bay,
Nó sa cành này, nó liệng cành kia.
Gã kia bước chân ra về,
Ta tiễn mình về đến quãng đồng không.
Trông theo nào thấy mà trông,
Nước mắt ta khóc ròng ròng như mưa

Yến yến 2 – Khổng Tử

Kìa trông con én nó bay,
Bay bổng nơi này, bay xuống nơi kia.
Gã kia bước chân ra về,
Ta tiễn mình về, chẳng quản đường xa.
Trông theo nào thấy đâu mà,
Một mình thơ thẩn đừng mà khóc thương.

Yến yến 3 – Khổng Tử

Kìa trông con én nó bay,
Kêu lên tiếng này, kêu xuống tiếng kia.
Gã kia bước chân ra về,
Ta tiễn mình về, xa tiễn sang nam.
Lòng ta vơ vẩn ai làm,
Trông theo chẳng thấy cho thêm nhọc lòng.

Há Giang Lăng – Tảo phát Bạch Đế thành – Lý Bạch

Sớm ra Bạch Đế thành mây,
Giang Lăng nghìn dặm một ngày về luôn,
Hai bờ tiếng vượn véo von,
Thuyền lan đã vượt núi non vạn trùng.

Kinh Hạ Bì Dĩ kiều hoài Trương Tử Phòng – Lý Bạch

Thầy Lương hổ chửa ra oai.
Phá tan của cải gia tài sạch không.
Biển xanh được kẻ anh hùng,
Vua Tần, đánh một dùi đồng thử coi.
Cánh đồng Bác Lãng công toi,
Thù Hàn chưa trả đất trời cũng kinh.
Hạ Bi trốn lánh nương mình,
Khôn ngoan mạnh bạo tài tình lắm thay!
Ta nay cầu Dĩ chơi đây
Nhớ ai thiên cổ lòng đầy kính yêu,
Trong veo nước biếc xuôi chiều,
Mà ông Hoàng Thạch đâu nào có đâu.
Than rằng ai đó đi đâu,
Vắng tanh Từ, Tứ để sầu nước non.

Oán tình – Lý Bạch

Người xinh cuốn bức rèm châu,
Ngồi im thăm thẳm nhăn chau đôi mày.
Chỉ hay ngọt lệ vơi đầy,
Đố ai biết được lòng này giận ai.

Ô dạ đề – Lý Bạch

Mây vàng chiếc quạ bên thành
Nó bay tìm ngủ trên cành nó kêu
Tần Xuyên cô gái buồng thêu
Song sa khói toả như khêu chuyện ngoài
Dừng thoi buồn bã nhớ ai
Phòng không gối chiếc giọt dài tuôn rơi.

Quan san nguyệt – Lý Bạch

Vừng trăng ra núi Thiên San,
Mênh mang nước bể mây ngàn sáng soi.
Gió đâu muôn dặm chạy dài,
Thổi đưa trăng sáng ra ngoài Ngọc Môn.
Bạch Đăng quân Hán đóng đồn,
Vùng kia Thanh Hải dòm luôn mắt Hồ.
Từ xưa bao kẻ chinh phu,
Đã ra đất chiến, về ru mấy người ?
Buồn trông cảnh sắc bên trời,
Giục lòng khách thú nhớ nơi quê nhà.
Lầu cao, đêm vắng, ai mà,
Đêm nay than thở ắt là chưa nguôi.

Sơn trung vấn đáp – Lý Bạch

Hỏi ta: ở núi làm chi ?
Thong dong chẳng nói, cười khì cho vui.
Hoa đào theo bẵng nước trôi,
Có riêng trời đất, cõi người đâu đây.

Tặng nội – Lý Bạch

Ba trăm sáu chục ngày trời,
Ngày ngày say bét như đời con nê.
Vợ chàng Lý Bạch ta kia,
Như ai vợ Thái thường xưa khác gì?

Tặng Uông Luân – Lý Bạch

Sắp đi Lý Bạch ngồi thuyền,
Trên bờ chân giậm, nghe liền tiếng ca.
Nước đầm nghìn thước Đào Hoa,
Uông Luân, tình bác tiễn ta sâu nhiều.

Thái liên khúc kỳ 1 – Lý Bạch

Có cô con gái nhà ai,
Hái sen, chơi ở bên ngòi Nhược Da.
Mặt hoa cười cách đoá hoa,
Cùng ai nói nói mặn mà thêm xinh.
Áo quần mặc mới sáng tinh,
Nắng soi đáy nước rung rinh bóng lồng.
Thơm thơ vạt áo gió tung,
Bay lên phấp phới trong không ngạt ngào.

Thái liên khúc kỳ 2 – Lý Bạch

Năm, ba chàng trẻ nhà nào,
Ngựa hồng rặng liễu, bờ cao bóng người.
Ngựa kêu, lần bước hoa rơi,
Đoái trông ai đó, ngậm ngùi tiếc thương.

Thu tịch lữ hoài – Lý Bạch

Lạnh lùng gió vượt bể thu,
Hồn quê theo gió như vù vù bay.
Chạy dài dãy núi liền mây,
Nước trôi trôi mãi, có ngày về chăng?
Đám mây vút mắt xa chừng,
Đứt tươm khúc ruột dưới vừng trăng soi.
Cỏ thơm đẹp mướt thôi rồi,
Áo may mặc rét giục người móc sa!
Giấc mơ rơi dải Ngân hà,
Sao thưa lác đác tỉnh ra khắp trời.
Đoái thương nước cũ ngậm ngùi
Khóc rơi giọt lệ lau chùi đố ai?

Tống hữu nhân – Lý Bạch

Chạy dài cõi Bắc non xanh,
Thành Đông nước chảy quanh thành trắng phau.
Nước non này chỗ đưa nhau,
Một xa, muôn dặm biết đâu cánh bồng!
Chia phôi khác cả nỗi lòng,
Người như mây nổi, kẻ trông bóng tà.
Vái nhau thôi đã rời xa,
Nhớ nhau tiếng ngựa nghe mà buồn teo.

Tống khách quy Ngô – Lý Bạch

Sông thu ngớt hạt mưa tuôn
Rượu vừa cạn chén, cánh buồm xa bay
Đường đi trải mấy nước mây
Ngồi nằm, ai chẳng khó thay đến nhà
Cây đồi hớn hở ra hoa
Lăn tăn lá liễu thướt tha bên ngàn
Xa nhau rồi những thanh nhàn
Thú chơi quét tấm thạch bàn ngồi câu.

Xuân nhật tuý khởi ngôn chí – Lý Bạch

Ở đời như giấc chiêm bao
Cái thân còn đó, lao đao làm gì?
Cho nên suốt buổi say lì,
Nằm lăn trước cột, biết gì có ta.
Tỉnh thôi đưa mắt sân nhà.
Một con chim hót bên hoa ngọt ngào.
Hỏi xem: nay đó ngày nào?
Ngày xuân gió mát, vui chào tiếng oanh.
Ngậm ngùi cám cảnh sinh tình,
Nghiêng bầu, mình lại với mình làm vui.
Hát ran, chờ tấm trăng soi,
Thoạt xong câu hát thời rồi đã quên.

Xuân tứ – Lý Bạch

Cỏ non xanh biếc vùng Yên
Cành dâu xanh ngả ở bên đất Tần
Lòng em đau đớn muôn phần
Phải chăng là lúc phu quân nhớ nhà
Gió xuân quen biết chi mà
Cớ chi lọt bức màn là tới ai.

Như vậy tập thơ dịch tác giả khác của Tản Đà đã khép lại với hơn 100 bài. Qua các bài thơ này ta cảm nhận được một hồn thơ phong phú cũng như khả năng của ông trong việc sáng tác và dịch thuật. Đó cũng chính là lý do, Tản Đà được đánh giá là một trong những người dịch thơ Đường hay nhất trên văn đàn.

so1vn - Tags: