潘廷逢 (1847-1895) hiệu Châu Phong 珠峰, là một lãnh tụ tiêu biểu của phong trào yêu nước chống Pháp vào cuối thế kỷ 19. Ông xuất thân trong một gia đình nhà nho có tinh thần yêu nước. Ngoài ra mọi người biết đến ông là một thi sĩ nổi tiếng cùng những trang thơ đặc sắc. Ông đã sáng tác một số câu đối và thơ hấp dẫn thu hút bạn đọc. Tác phẩm của cụ cho ta thấy cụ là nhà nho trung nghĩa với dân với nước. Chúng ta cùng nhau điểm danh những trang thơ hào hùng này nhé!

Kiến nguỵ binh thi cảm tác 見僞兵屍感作

爾心原未利名縻,
卻向溪邊作死屍。
監轍誰人應早悟,
到身死後悔還遲。

Kiến nguỵ binh thi cảm tác

Nhĩ tâm nguyên vị lợi danh mi,
Khước hướng khê biên tác tử thi.
Giam triệt thuỳ nhân ưng tảo ngộ,
Đáo thân tử hậu hối hoàn trì.

Dịch nghĩa

Lòng mày nguyên chỉ tham danh lợi
Để đến nỗi làm cái xác chết ở bên khe
Soi vết xe trước đã đổ, ai đó nên sớm tỉnh ngộ
Kẻo đến khi thân chết rồi mới hối hận thì đã muộn

Ký Tô chủ nhân 寄蘇主人 • Gửi Tô chủ nhân

君本姓蘇我姓潘,
君家獵嶺我松山。
無端兵火逢佳遘,
與君酌酒祝平安。

Ký Tô chủ nhân

Quân bản tính Tô ngã tính Phan,
Quân gia Lạp lĩnh ngã Tùng san.
Vô đoan binh hỏa phùng giai cấu,
Dữ quân chước tửu chúc bình an.

Dịch nghĩa

Bác vốn họ Tô, tôi họ Phan
Nhà bác ở núi Lạp, tôi ở núi Tùng
Không dưng có việc binh lửa, nên may được gặp
Cùng nâng chén rượu, chúc nhau bình an

Lâm chung thì tác 臨終時作 • Làm trong khi sắp mất

戎場奉命十更冬,
武略依然未奏功。
窮戶嗷天難宅雁,
匪徒遍地尚屯蜂。
九重車駕關山外,
四海人民水火中。
責望愈隆憂愈重,
將門深自愧英雄。

Lâm chung thì tác

Nhung trường phụng mệnh thập canh đông,
Võ lược y nhiên vị tấu công.
Cùng hộ ngao thiên nan trạch nhạn,
Phỉ đồ biến địa thượng đồn phong.
Cửu trùng xa giá quan san ngoại,
Tứ hải nhân dân thuỷ hoả trung.
Trách vọng dũ long ưu dũ trọng,
Tướng môn thâm tự quý anh hùng.

Dịch nghĩa

Vâng mệnh ở chốn binh nhung đã mười năm,
Mưu lược đánh giặc vẫn chưa nên được việc gì.
Dân chúng cùng đường đói khổ kêu trời như đàn nhạn không có chỗ ở,
Bọn giặc còn đóng đồn như ong khắp mọi nơi.
Xa giá của vua đang ở ngoài quan sơn,
Nhân dân bốn bể như sống trong nước sôi lửa bỏng.
Trách nhiệm càng cao thì mối lo càng lớn,
Nghĩ mình cũng trong cửa tướng, mà riêng thẹn với tiếng anh hùng.

Mậu Tý nguyên đán cảm tác 戊子元旦感作

流鶯庭外語花枝,
花報春歸人未歸。
屏嶺百年思日遶,
鴻山萬里望雲飛。
吾家有教根忠孝,
客地無心怨別離。
佳節是人行樂處,
我逢佳節不塍悲。

Mậu Tý nguyên đán cảm tác

Lưu oanh đình ngoại ngữ hoa chi,
Hoa báo xuân quy nhân vị quy.
Bình lĩnh bách niên tư nhật nhiễu,
Hồng Sơn vạn lý vọng vân phi.
Ngô gia hữu giáo căn trung hiếu,
Khách địa vô tâm oán biệt ly.
Giai tiết thị nhân hành lạc xứ,
Ngã phùng giai tiết bất thăng bi!

Phúc đáp Hoàng Cao Khải 覆答黃高啓

忠孝由來幾得全,
風塵回首淚孱然。
未能一死酬君父,
空費三生學聖賢。
十載魂遊青瑣地,
萬行血淚白雲天。
苦心寥向同心話,
昨夜殘燈獨自憐。

Phúc đáp Hoàng Cao Khải

Trung hiếu do lai kỷ đắc tuyền,
Phong trần hồi thủ lệ sàn nhiên.
Vị năng nhất tử thù quân phụ,
Không phí tam sinh học thánh hiền.
Thập tải hồn du thanh tỏa địa,
Vạn hành huyết lệ bạch vân thiên.
Khổ tâm liêu hướng đồng tâm thoại,
Tạc dạ tàn đăng độc tự liên.

Dịch nghĩa

Từ trước tới nay trung hiếu mấy ai giữ được toàn vẹn cả
Trải phong trần quay đầu nghĩ lại nước mắt đầm đìa
Chưa thể đem một cái chết báo đền ơn vua
Uổng phí công ba sinh học đạo thánh hiền
Mười năm hồn mơ chơi ở nơi cung khuyết
Muôn hàng huyết lệ trông theo mây trắng lên trời
Nỗi khổ tâm muốn nói nhưng vắng bạn đồng tâm
Đêm qua dưới ánh đèn tàn, mình lại thương mình

Tái bộ chủ nhân 再步主人 • Lại hoạ vần thơ của chủ nhân

曾聞洗甲挽天河,
彼是何人我是何。
當道蛇猶遲拔劍,
中原鹿尚費操戈。
三更憂鬱難成夢,
萬里棲遲便是家。
會飲月氏頭上酒,
丹墀爭鬥凱還歌。

Tái bộ chủ nhân

Tằng văn tẩy giáp vãn thiên hà,
Bỉ thị hà nhân ngã thị hà.
Đương đạo xà do trì bạt kiếm,
Trung Nguyên lộc thượng phí thao qua.
Tam canh ưu uất nan thành mộng,
Vạn lý thê trì tiện thị gia.
Hội ẩm Nhục Chi đầu thượng tửu,
Đan trì tranh đấu khải hoàn ca.

Dịch nghĩa

Từng nghe [có thơ]: níu sông trời xuống để rửa áo giáp
Người ấy là ai, còn ta là ai?
Hận còn chậm tuốt gươm chém rắn giữa đường
Uổng vung giáo đuổi hươu ngoài đồng nội
Ba canh lo nghĩ chất chứa, khó có thể ngủ được
Vạn dặm, nơi nào dừng nghỉ nơi ấy là nhà
Sẽ họp mặt uống rượu trên đầu bọn giặc Nhục Chi
Rồi ca khúc khải hoàn trước sân nhà vua

Thắng trận hậu cảm tác kỳ 1 勝陣後感作其一

纔發兵行忽匪來,
余心未定正徘徊。
帳前請戰何人者,
果不時間報捷回。

Thắng trận hậu cảm tác kỳ 1

Tài phát binh hành hốt phỉ lai,
Dư tâm vị định chính bồi hồi.
Trướng tiền thỉnh chiến hà nhân giả,
Quả bất thời gian báo tiệp hồi.

Dịch nghĩa

Vừa mới phái quân đi giặc bỗng kéo đến
Lòng ta còn đương băn khoăn chưa biết tính sao
Trước trướng người xin ra đánh là ai vậy?
Mà trong chốc lát đã có tin thắng trận báo về

Thắng trận hậu cảm tác kỳ 2 勝陣後感作其二

山蓋高兮水蓋深,
每於默將顯英靈。
不然眾果相懸甚,
胡到溪連已失驚。

Thắng trận hậu cảm tác kỳ 2

Sơn cái cao hề thuỷ cái thâm,
Mỗi ư mặc tướng hiển anh linh.
Bất nhiên chúng quả tương huyền thậm,
Hồ đáo khê liên dĩ thất kinh.

Dịch nghĩa

Núi rất cao mà nước rất trong
Chắc là thần linh thầm giúp ta
Nếu không nhiều ít chênh nhau thế
Sao (chúng) đến bên khe đá hoảng khiếp bỏ chạy

Cảm tác 感作 

拭目京城仔細看,
痛心君國淚瀾瀾。
權姦直欲和愚宋,
忠義那為恨報韓。
草木山河非舊主,
王侯第澤已新顏。
閣中弟子今何在,
遙望平山寢不安。

Cảm tác

Thức mục kinh thành tử tế khan,
Thống tâm quân quốc lệ lan lan.
Quyền gian trực dục hòa ngu Tống,
Trung nghĩa na vi hận báo Hàn.
Thảo mộc sơn hà phi cựu chủ,
Vương hầu đệ trạch dĩ tân nhan.
Các trung đệ tử kim hà tại,
Dao vọng Bình Sơn tẩm bất an.

Dịch nghĩa

Gạt nước mắt nhìn kỹ về chốn kinh thành
Đau lòng vì vua vì nước, nước mắt chan chứa
Bọn quyền gian chỉ muốn xui ngu nhà Tống chịu hoà
Người trung nghĩa làm thế nào, vì nước Hàn báo hận
Non sông cây cỏ đều không còn chủ cũ
Phủ đệ vương hầu đã thay bộ mặt mới
Con em các nhà wuyeefn quý hiện giờ ở đâu
Xa xa ngóng về non Bình mà ngủ chẳng yên giấc

Dữ Bá Ngọc xướng hoạ 與伯玉唱和

文章從古有前因,
知識休論舊或新。
科甲我為松嶺主,
詩書君是獵山人。
故能白眼成知己,
遂使天涯若比鄰。
邂遘書中多奇遇,
好將佳作至今春。

Dữ Bá Ngọc xướng hoạ

Văn chương tùng cổ hữu tiền nhân,
Tri thức hưu luân cựu hoặc tân.
Khoa giáp ngã vi Tùng lĩnh chủ,
Thi thư quân thị Lạp sơn nhân.
Cố năng bạch nhãn thành tri kỷ,
Toại sử thiên nhai nhược tỉ lân.
Giải cấu thư trung đa kỳ ngộ,
Hảo tương giai tác chí kim xuân.

Dịch nghĩa

Văn chương từ xưa đã có sự nối tiếp nhau
Đã biết nhau thì đừng bàn cũ hay mới
Về đường khoa bảng, tôi là chủ ở non Tùng
Về mặt thi thư thì ông là người núi Lạp
Cho nên có thể từ xa lạ mà thành tri kỷ
Khiến cho ở tận chân trời mà nên bạn láng giềng
Tình cờ không hẹn mà nên, trong sách đã có nhiều chuyện kỳ ngộ
Để cho có những giai phẩm đến mùa xuân này

Đáp hữu nhân ký thi 答友人寄詩

百年宗社余懷熱,
一片孤忠賊膽寒。
寄語同人知也否,
楚王勢力拔何山。

Đáp hữu nhân ký thi

Bách niên tông xã dư hoài nhiệt,
Nhất phiến cô trung tặc đảm hàn.
Ký ngữ đồng nhân tri dã phủ,
Sở vương thế lực bạt hà san.

Dịch nghĩa

Lòng ta nung nấu nghĩ đến tông xã xây đắp hàng trăm năm
Một tấm cô trung đủ làm cho giặc sợ mất vía
Gửi lời hỏi bạn đồng sự cũ có biết hay không
Thế lực vua Sở đã nhổ được quả núi nào?

Để Tô thị gia 抵蘇氏家 • Đến nhà họ Tô

丁亥春二月,
偶過東安村。
聞有蘇氏家,
忠厚世其門。
昇階是一見,
言語何溫存。
事家重有孝,
兄弟自天倫。
主人愛詩客,
良朋當滿席。
相與談古今,
倡和盈屋壁。
伯玉勉乎哉,
凡書皆世澤。
勉之又勉之,
舁香憑天錫。

Để Tô thị gia

Đinh Hợi xuân nhị nguyệt
Ngẫu quá đông Yên thôn
Văn hữu Tô thị gia
Trung hậu thế kỳ môn
Thăng giai thị nhất kiến
Ngôn ngữ hà ôn tồn
Sự gia trọng hữu hiếu
Huynh đệ tự thiên luân
Chủ nhân ái thi khách
Lương bằng đương mãn tịch
Tương dữ đàm cổ kim
Xướng hòa doanh ốc bích
Bá Ngọc miễn hồ tai
Phàm thư giai thế trạch
Miễn chi hựu miễn chi
Dư hương bằng thiên tích

Đề Tô thị từ đường 題蘇氏祠堂

第室丹墀卜萃英,
客遊到處倍遺情。
逢人試問好山水,
應說蘇家詩禮庭。

Đề Tô thị từ đường

Đệ thất đan trì bốc tụy anh,
Khách du đáo xứ bội di tình.
Phùng nhân thí vấn hảo sơn thuỷ,
Ưng thuyết Tô gia thi lễ đình.

Dịch nghĩa

Ngôi nhà sân đỏ dùng để thờ cúng gia tiên
Khách đi qua vào đây, tình cảm để lại gấp bội
Gặp người, hỏi về những nơi tốt của núi sông
Phải nói, nhà họ Tô là sân nhà thi lễ

Phan Đình Phùng là một gương mặt nổi bật của nền văn học Việt Nam. Ông được mọi người quý mến bởi tính cách cương trực thẳng thắn, ngoài ra ông còn là một vị lãnh đạo nhân dân chống Pháp . Công lao của ông không thể phủ nhận được. Ông để lại chơ đời một trang thơ đặc sắc và giá trị đến ngày nay. Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết này của chúng tôi!