Nhà Thơ Phan Bội Châu Cùng Tập Thơ Tiếng Việt Đặc Sắc Phần 5



Phan Bội Châu trở thành nhà khai sáng của văn chương Việt Nam thế kỷ XX với những bài thơ độc đáo thể hiện nỗi niềm , tâm sự của mình về cuộc đời và thế sự. Ông là người yêu nước, người anh hùng kiêm nhà cách mạng, nhà duy tân, xả thân vì độc lập tự do.Bên cạnh đó ông có một kho tàng thơ đồ sộ được xếp vào danh sách những bài thơ huyền thoại của đất nước

Bạn là một người yêu thơ, chắc chắn sẽ không thể bỏ qua những tập thơ hấp dẫn, cuốn hút như thế này phải không? Hãy cùng uct.edu.vn cảm nhận những bài thơ đặc sắc này nhé!

Thiên vấn phú

Trời cao mênh mông
Này tôi hỏi ông?
Nước Việt Nam tôi,
Một góc Á Đông.
Dân Việt vẫn con trời thảy, cỏ cây vẫn đội trời chung;
Ai vắt nên hình chữ S, ai ban cho hiệu con Rồng?
Chẳng Mường Mọi, sao kêu bằng Lạc?
Chẳng cánh lông, sao gọi bằng Hồng?
Sao dài dặc hơn bốn ngàn năm, sống chẳng sống, chết chẳng chết?
Sao so với năm châu muôn nước, có chẳng có, không chẳng không?
Mở pho dân tộc toàn cầu, họ dân tôi sao lộn xộn chẳng vàng chẳng trắng;
Xem bức địa đồ thế giới, sắc nước tôi sao lem nhem, chẳng lục chẳng hồng?
Vẫn từng nghe thiên đạo chí công, há lẽ cường phù nhược ức?
Vẫn cũng biết thiên ân phổ biến, vì sao bỉ sắc tư phong?
Tôi quá nghi ông!
Này tôi xin kể
Sử cũ nước tôi
Nhiều trang sứt mẻ:
Thục An Dương Vương, có đức gì mà vương?
Triệu Uý Đà có công gì mà đế?
Sao lờ mờ sử Việt, hơn hai ngàn năm xưa,
Mà tên họ người Nam, không một trang đếm xỉa?
Tới Trưng Trắc bắt đầu dựng nước,
Thiệt tổ tiên tôi đó, sao ông quá ác không cho?
Bà vạn đại xưng vương?
Kìa Mã Viện thạo ngón cướp người,
Là thù địch của tôi, sao ông bất nhân đã giúp nó nhất thời đắc thế?
Núi Tản, sông Lô mây nghịt nghịt tức tối vì ai?
Cẩm Khê, Lãng Bạc máu ròng ròng thảm thương chăng nhỉ?
Lại như sử Lý, Trần, Lê máu pha giọt mực,
Thủ lĩnh Hán mười thằng chín ác, sao ông còn chắp cánh cho hùm?
Đô hộ Đường ba bị chín quai, sao ông còn dẫn đường đưa giặc?
Lý Thường Kiệt nhiều phen đánh Tống, rất có công cùng chủng tộc, thì sao thân bách chiến, ông đành cho chịu cung hình?
Ngô Vương Quyền độc lập thoát Tàu đáng thịnh thọ sơn hà, mà sao mới sáu năm, ông vội bắt về thiên quốc?
Tám đời Lý, cha con thầy tớ, chung vai gánh non sông bốn mặt, lẽ đáng thương là trọn, sao thình lình đẻ mụ Lý Chiêu Hoàng?
Một nhà Trần, ông cháu cha con, hùn sức lùa beo cọp trăm bầy, há để giống nào lai, sao cắc cớ sinh thằng Trần Ích Tắc?
Quý hoá thay! Trần Bình Trọng hăng hái thề làm Nam quỷ, sao ông chẳng tiếc, nỡ để chết dưới ngọn dao Nguyên?
Tàn ác thay! Giặc Thoát Hoan lăm le giết sạch Nam dân, ông sao quá thương, để nó sống về bên đất Bắc?
Mấy ngàn quân trung thành với nước, trên tay đề “Sát Thát” vẫn phục tùng mệnh ông đó, sao ông để Mã Nhi, Lỗ Xích vằm xẻo sướng tay?
Mấy triệu dân tức giận vì thù, đầy ruột chứa “Bình Ngô” há chênh lệch đạo ông đâu, sao ông dung Trương Phụ, Liễu Thăng giày bừa phỉ sức?
Phục Trần nọ, những phường xỏ lá, chắc ông dư biết, sao ông quá chiều lòng giặc, cha con Hồ, thảy nhét miệng kình;
Tôn Lê kia, những lũ bẻ măng, sao ông dở say, nỡ bắt đày đoạ trời Minh, vua tôi Việt, hồn đau tiếng quốc!
Tôn Sĩ Nghị, thiệt tay gian xảo, đáng xương băm đất Việt, sao ông cho nách xéo khỏi Nam Quan?
Nguyễn Quang Trung, thiệt đấng anh hùng, đáng bia tạc trời Nam, sao ông lại vu oan bằng Tây tặc?
Tôi dám xin ông,
Trả lời cho sáng!
Ngôi ông vẫn cao,
Đức ông vẫn rạng.
Có lẽ ông quá già chăng nọ, gương nhật tinh hồ loạn thị phi,
Những mong ông cải cách chóng cho, uy lôi điện phân minh hình thưởng.
Non nước ấy vẫn còn non nước cũ, bao tá thánh hiền hào kiệt, xin ông nay mở lượng tài bồi;
Đồng bào tôi cũng như đồng bào ai, thảy là con cháu chắt chiu, nhờ ông hãy rộng đường lai vãng.
Đợi đợi… Chờ chờ… Năm năm… Tháng tháng…!

Thơ viết trong tù bài 1

Nếu chết xong đi cái cũng hay,
Còn ta ta lại tính cho mày.
Trời đâu có ngục chôn thần thánh?
Đất há không đường ruổi gió mây?
Tát cạn bể Đông chèo tấc lưỡi,
Mở quang ngàn Bắc vẫy đôi tay.
Anh em ai nấy xin thêm gắng,
Công nghiệp ngàn thu há một ngày!

Thơ viết trong tù bài 2

Xuống sáu mươi năm ở cõi đời,
Hôm nay duyên nợ thế là thôi!
Bình sinh chí khí ra sao nhỉ?
Trăng dưới dòng sông mây giữa trời.

Thuyền đêm trời lụt tứ tuyệt bài 1

Dưới đèn bên gối gió thu vào,
Chào bạn lâu nay ở chốn nào?
Một tiếng hát chài kinh thột dậy,
Té ra trời biển cách xa nhau!

Thuyền đêm trời lụt tứ tuyệt bài 10

Dưới cầu Bến Ngự dựa cây sung,
Một chiếc thuyền con sóng tứ tung.
Giữa kiếp trầm luân ôi các bạn,
Gánh non lấp bể gắng nhau cùng!

Thuyền đêm trời lụt tứ tuyệt bài 2

Gió đêm cuốn bể dựng non triều,
Thoát mới nghe ra tưởng đất reo,
Đau đớn những ai say giấc quá,
Bên tai sấm sét cố nằm liều.

Thuyền đêm trời lụt tứ tuyệt bài 3

Tuồng lụt tuồng mua diễn quá hay,
Ếch lên giành núi, cá giành cây.
Cơ trời xoay chuyển mưa rồi nắng,
Cây núi đâu mà chứa bọn mày?

Thuyền đêm trời lụt tứ tuyệt bài 4

Khát nước lâu ngày nước lại no,
Cua bơi cá nhảy, bấy tha hồ!
Rồng thiêng đủng đỉnh trên mây bạc,
Ngó xuống nhân hoàn biển chửa to.

Thuyền đêm trời lụt tứ tuyệt bài 5

Ma lụt gù nhau nuốt núi sông,
Lại toan cướp tuốt chiếc thuyền ông.
Liều gan chống thử cùng mưa gió.
Thua được chờ xem lúc cuối cùng.

Thuyền đêm trời lụt tứ tuyệt bài 6

Bạn gió cùng trăng trải bấy nay,
Chào ông thần sóng lại phen này.
Biển non chìm ngấm về tay Cổn,
Hạ Võ nào đâu xuất hiện ngay.

Thuyền đêm trời lụt tứ tuyệt bài 7

Biển kêu như sấm nước như trời,
Kìa chiếc thuyền ai lủng lẳng bơi,
Một lão ba thằng cười khúc khích,
Bầy ma thấy cũng vỗ tay cười.

Thuyền đêm trời lụt tứ tuyệt bài 8

Ôi lũ con đen lút tới cùng,
Còn ai tai mắt đỡ đầu ngong?
Thuyền ai còn đó e rồi nữa,
Đẩy một bè xương tới biển đông.

Thuyền đêm trời lụt tứ tuyệt bài 9

Rồng thiêng không nước lấy gì bay?
Được lụt xem chừng có lẽ may,
Vi vảy sẵn sàng chờ biến hoá,
Trong ao vừa đó đã lên mây,

Tình tự với rượu bài 1

Buồn tẻo, buồn teo, hỡi chị men,
Thôi thời với chị kể nhân duyên.
Non sông nợ cũ đền chưa trắng,
Gió sấm luồng xưa rủi đã đen.
Thân vẫn còn đây trời ngó xuống,
Đời như sáo nữa đất bùng lên.
Ừ năm ba chén cười hay khóc,
Khóc lại cười ư cũng đảo điên.

Tình tự với rượu bài 2

Mưa khéo trêu nhau gió chọc nhau,
Núi sông bỏ chặt những dây sầu.
Bà đâu vắng ngắt bà cùng chén,
Bạn luống trông hoài, bạn với bầu
Khấn nguyện đàn sau chim đỉnh núi.
Kêu rêu hồn nước cuốc đêm thu.
Trời ơi, chớ bảo say là quấy!
Trời nếu như tôi cũng gật gù.

Tình tự với rượu bài 3

Toan đuổi ma sầu, ma lại đến.
Có sống thôi đi đỡ với đời,
Chẳng say thời cũng chi hơn chén.
Văn minh nhảy nhót gái xô trai,
Phấn đấu lung tung vàng lẫn vện.
Giốc hồ đạp án nói trời kêu,
Này ta quyết với trời già, kiện!

Trách trời hạn bài 1

Hạn bắc rồi nam hạn hạn hoài,
Hạn sao ngông thế hỡi ông trời!
Đồng phơi xương trắng no đàn chó,
Giếng thấy bùn đen vắng tiếng người.
Già trẻ xôn xao trơ mắt khóc,
Trâu bò đủng đỉnh ngó nhau cười.
Dân e chết ráo ôi trời hỡi!
Trơ trọi mình ông sướng với ai?

Trách trời hạn bài 2

Hạn mãi trời toan giết chúng con,
Mấy lâu mong nước, nước đâu còn!
May chi cô cóc chưa khan tiếng,
Tội quá thân lươn dám quản bùn.
Khô quá đồng vàng trên sáu thẻ,
Rồi đây giá gạo dưới ba lon.
Nếu ông cứ hạn này mãi mãi,
Dốc cả sông mà chảy cả non.

Trách trời hạn bài 3

Thần hạn rồi đây đến thế nào?
Mỡ dầu trăm họ rẻ hơn bèo.
Nam phương hoá đức càng dong tới,
Đông để xuân phong lựa dịp vào.
Mây luống bồi hồi rồng dưới giếng,
Lửa e chan chứa cá trong ao.
Nếu hi sinh lão mà mưa tới,
Chi chút thân già dám tiếc sao?

Trận mưa thình lình

Ông mưa ônng chẳng bảo cho hay,
Bỗng chốc mê man bốn bể đầy,
Nhà dột ba gian thành nước ngập,
Rèm thưa mấy lớp thấy rồng vây.
Căng dù ngồi giữ vài chồng sách,
Đội nón ra xem mấy khóm cây.
Khô hạn bấy lâu khao khát vũ,
Phen này ông Vũ mới ra tay.

Trông mưa

Ông nhác ông mưa, lại giả mưa,
Vừa mừng vừa sợ bị ông lừa.
Đồng điền ba tháng thiêu như lửa,
Chày cối liền năm lặng tựa tờ.
Thở ngốt hơi trâu phường chợ búa.
Kêu khan giọng cuốc bạn cày bừa.
Bắc thang lên tột xanh xanh hỏi:
Keo nước làm chi mãi bây giờ?

Tu hú đẻ nhờ

Ổ mi nào phải của chi mi
Sao ổ ai mà đến chiếm đi
Chồng vợ tôi đành công chịu khó
Bố con bác chớ bợm làm lỳ
Tưởng rằng ở đậu đôi ba bữa
Ai biết chơi luôn tám chín kỳ
Thiên hạ có đâu kỳ quái dữ
Không mời mà đến, đuổi không đi.

Tuyệt cú bài 1

Ba gian nhà dột trời soi bụng,
Năm tấm rèm chong gió chọc đầu.
Sớm tưới ngành hoa mây tới phủ,
Đêm xem kinh Phật nguyệt vào hầu.

Tuyệt cú bài 2

Ông lão ngồi trơ say trót tháng,
Đứa con ngủ gật mớ luôn năm.
Lòng quê muôn dặm sườn mây Bắc,
Tin bạn ba hàng cánh nhạn Nam.

Tuyệt cú bài 3

Gạo hút[2] nhờ trời cho giá rẻ
Nước trong cậy tới sẵn vai khiêng
Chó khôn bìu ríu ông nhà chủ,
Mèo đói lăm le chuột láng giềng.

Tuyệt cú bài 4

Ba mươi năm trước đành như vậy,
Bảy chục xuân gần đã chắc chi.
Trước một quyển kinh kêu Phật hỏi,
Sau vài cốc rượu kéo trời say.

Tuyệt cú bài 5

Trên bàn đức Khổng ba pho sách,
Dưới tượng ông Lê một tấm lòng.
Ngó bốn bề quanh không vũ trụ.
Mong nghìn thu nữa có non sông.

Tuyệt cú bài 6

Máy chuyển tư mùa xuân hạ chóng,
Gương treo muôn dặm Bắc Nam soi.
Thân già lận đận ôm đầu chịu,
Bạn trẻ hung băng mở mắt coi.

Tuyệt cú bài 7

Đợi sáng dậy xem vừng nhật mọc,
Suốt đêm nằm lắng ngọn triều lên.
Đầy vơi hiền thánh ba chung rượu.
Mờ tỏ thần tiên một ngọn đèn.

Trên đây, uct.edu.vn đã tiếp tục bài viết tuần trước Nhà Thơ Phan Bội Châu Cùng Tập Thơ Tiếng Việt Đặc Sắc Phần 4. Hy vọng các bạn sẽ cảm nhận được những triết lý sâu xa mà nhà thơ gửi gắm trong những tác phẩm này. Mời các bạn đón xem phần 6 với những bài thơ còn lại của Phan Bội Châu nhé. Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết của chúng tôi! 

so1vn - Tags: