Nhà thơ Phan Bội Châu cũng như nhiều nhà nho yêu nước đương thời, đã dùng thơ văn làm vũ khí chiến đấu. Những dòng thơ biến hóa khôn lường để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng độc giả. Tính chất dậy sóng trong thơ Phan Bội Châu với những biểu hiện tâm tình dưới nhiều dạng, nhiều cung bậc, mức độ khác nhau cứ tiếp tục thấm sâu vào lòng người

Ngoài nội dung tư tưởng cao quí, thơ Phan Bội Châu nhiều khi lại lai láng tình cảm, bay bổng tưởng tượng, bao giờ cũng hùng biện lâm ly, dễ thấm sâu vào lý trí, cõi lòng. Ống đã đóng góp một phần to lớn cho nền văn học Việt Nam

Bài viết trước Nhà Thơ Phan Bội Châu Cùng Tập Thơ Tiếng Việt Đặc Sắc Phần 2,uct.edu.vn đã nhận được sự hưởng ứng tích cực từ phía độc giả. Chính vì thế hôm nay mời bạn đọc đón xem phần 3 ngay bây giờ !

Hoa thuỷ tiên

Tiên trên non mà hiếm đã đành
Chân thị thuỷ trung tiên càng hiếm hiếm
Muôn tía nghìn hồng thây tục phẩm
Năm hồ bốn biển nhớ tiền sinh.
Nét điểm trang con tạo khéo đa tình
Nhuỵ kìa vàng, hoa kìa bạc, lá kìa xanh
Trên mặt nước long lanh trời với bóng
Đố ai biết thần tiên biệt chủng
Mái Hương giang mà tiên động tự nhiên thành
Vô tình mới thật hữu tình
Ơn người giới thiệu cho mình gặp tiên
Cách Bồng Lai, Phương Trượng bấy nhiêu niên
Mừng tái kiến lại não nùng duyên nợ cũ
Trên cung nguyệt Nghê thường khúc múa
Giữa nhân gian hồ dễ mấy người nghe
Tả tình gọi chút lời quê.

Hoài cảm chùa Non Nước

Say non say nước lại say chùa
Mến nước non càng mến cố đô
Đuốc tuệ lưng trời tà muội dẹp
Gươm khôn phất gió quỷ ma trừ
Bùi ngùi tháp cổ trên nền cỏ
Cám cảnh bia tàn trước gió mưa
Vịnh cảnh bao lâu xin hỏi Phật
Có chăng non nước đặng như xưa?

Hỏi trăng

Trăng ơi! Trăng có biết hay chăng?
Non nước cùng ai sẽ nói năng?
Hồn quế chỉ riêng thân chú Cuội?
Lòng gương sao lẻ bóng cô Hằng?
Bao giờ chung cả kho vô tận?
Mấy lúc soi thâu bể bất bằng?
Hoá khuyết nên tròn e cũng dễ?
Cớ chi trăng cũ, cũ hoài trăng?

Hỡi con chim cu kia ơi

Hỡi con chim cu kia ơi!
Khi xưa mày ở trên trời,
Mày bay mày nhảy theo bầu bạn.
Nước, trời sinh ra cho mày uống,
Ruộng, người cày có lúa cho mày ăn,
Cớ làm sao mày quên bản quên căn?
Chốn rừng xanh mày nỡ phụ,
Nơi đồng bằng mày cũng lánh xa!
Mày tham chi chút bả vinh hoa?
Búp tre non mày không đỗ,
Ngọn tre già vắng tiếng mày kêu?
Ở trong lòng mày chỉ gáy choh chủ mày yêu!
Nước đầy vơi mày không quản,
Lúa ít nhiều đã có chủ mày lo!
Ta nghĩ cái phúc mày cũng đã to,
Nước không lo mà cũng mát dạ,
Lúa không lo mà cũng no lòng!
Hỡi con chim cu kia ơi!
Ta nghĩ: Mày không nòi không giống,
Không tổ, không tông… thảy chẳng ra gì!
Mày gáy làm chi cúc cu cu!
Hỡi con chim cu kia ơi!

Khát nước

Vì cớ sao mà khát nước hoài?
Trà đâu? Ta hãy uống mầy chơi
Không Tàu thì Huế tha thồ thú
Pha tục và tiên đặc bỏ đời
Ám lạnh tình đời năm bảy chén
Lạt nồng mùi thế một vài hơi
Trà ơi, còn nước là vinh hạnh
Cháy lưỡi khô môi thảm những mùi!

Khóc báo Dân

Oe oe một tiếng chốc trăm năm,
Trông thấy khôn ngăn giọt luỵ ngầm.
Thần thánh vẫn thiêng sao thảm đạm!
Giang sơn chưa chết há âm thầm?
Vài hồi trống tủi sai đường tính,
Mấy lũ dân đen miệng nó câm.
Còn vợ còn chồng còn đẻ nữa,
Trên đường sự sống phải đồng tâm!

Không đề

Muốn nói nhưng mà nói với ai?
Nín câm, chẳng lẽ nín câm hoài?
Giữa đường gặp mãi người gai mắt,
Ngoài cửa đưa vào chuyện choáng tai.
Tiếng súng Mãn Châu xoay cả đất,
Con tàu Hồng Hải cháy luôn trời.
Dưới đèn ngẫm nghĩ gương kim cổ,
Mình nói mình nghe, khóc lại cười.

Khuê phụ thu hoài

Ngô một lá thình lình khiếp gió,
Giật mình nghe trận tố chiều hôm;
Trăm dâu đổ cả đầu tằm,
Ngậm ngùi thân thế, ăn nằm sao yên?
Tài bồ liễu đã hèn lại vụng,
Bạn chị em may cũng theo đòi;
Lần hồi năm tháng đưa thoi,
Trẻ trung mới đó, chốc ngoài ba mươi.
Nhịp hát múa tư bề gió sấm,
Gái không chồng thôi dám bi ai?
Cơ đồ đã bán cho trời,
Liều thân muốn chuộc một vài về tay.
Từng có lúc dắt bầy kéo bạn,
Chê đường xa không vốn buông chày;
Lạ lùng mấy thuở xưa nay,
Đôi bàn tay trắng vạch mây đấm trời!
Cũng có lúc qua vời vượt núi,
Nặng hai vai một túi quan hà;
Dãi đầu gió táp mưa sa,
Biết nhau một mảnh trăng tà với em.
Cũng có lúc ruột tằm khô ráo,
Khúc vò tơ dần héo quặn đau.
Những là rày ước mai ao,
Vóc thừa mây tía gấm thêu ráng hồng.
May anh chị sẵn lòng tương ái,
Mà con chồng vừa lại nên con;
Hò nhau chung gánh bể non,
Muôn cay nghìn đắng tấc son một niềm.
Đau nông nỗi vì em khờ dại,
Gặp trận buôn thế giới phi thường;
Ngón buông, người đủ trăm đường,
Mà mình hờ hững trễ tràng ra chi!
Từng nhiều lúc vân vi than thở,
Đã dở cười lại dở khóc thêm;
Bóng ai thấp thoáng trước rèm?
Hồn ai lai láng cạnh nằm đêm thu?
Ngồi ngẫm nghĩ mấy câu chuyện cổ,
Nghề bán buôn chợ búa phen này;
Học khôn học khéo cho hay,
Trải phen thất bại là ngày thành công.
Quẹt nước mắt hỡi chồng chồng hỡi,
Thiêng liêng thời thứ tội cho em;
Gớm ghê máu chảy ruột mềm,
Thế anh chị với thân em lâu dài

Một mình ngồi thuyền

Trên nước tiêu dao một chiếc tròng,
Chẳng chi là rắn chẳng chi rồng.
Ông tù đặc biệt lòng trời đất,
Lão ngốc vô danh bóng núi sông.
Ba chục năm xưa chim mặt biển,
Bảy mươi tuổi mới cọp trong lồng.
Sầu vài ly rượu gì gì nữa,
Đôi nắm xương tàn vạn sự xong.

Mừng Đông Dương tạp chí

Đọc hai câu thơ ấy, vội mừng ngâm.
Đêm năm canh ảm đạm âm thầm
Gáy một tiếng vang ầm ba bốn mặt!
Thôi giục vừng hồng trên quả đất,
Sau tiếng gà gáy bỗng thấy mặt trời lên.
Màn mây mù quét sạch, hiện thanh thiên,
Luồng đau khổ đánh tan, trình hỉ khí.
Nào bạn lao nông, nào nhà chính trị,
Nào làng văn sĩ, nào cửa thần quyền.
Thời thế ấy quyết vai liền cánh rập.
Nước quạnh non khơi dầu mấy lớp,
Máu chung ruột thịt há đôi đường?
Gì danh, gì lợi, chi màng!
Đồng tâm hai chữ đá vàng chẳng phai!
Ai ơi! Đông dã dựng rồi,
Rập nhau ta dựng vũ đài ta lên!
Chí bền, vạn sự phải nên!

Mừng Tết

Mừng lúc gặp tam đương thai thái,
Cờ gió đông phấp phới trước thềm hoa.
Đàn chim oanh cất tiếng nhặt khoan.
Xui giục khách mở màn ngồi dậy nói.
À Tết, Tết rày đà tới đó,
Tết những gì xin hỏi họ nhà ta?
Kìa nhà pháo nổ, kìa cửa treo hoa;
Kìa xôi thịt heo gà mâm cỗ trực,
Rằng vui vẻ, ừ vui vẻ thật.
Gánh cu ly chưa vứt, tính sao đây?
Tết sao Tết lại Tết đi!
Tết bầy nô lệ ấy thì Tết ta!
Tết dân chủ cộng hoà kìa Tết hộ,
Tết ma vương ai trông ngó vào đâu?
Rồi đây lại cuộc bể dâu,
Xin ai ngó lại về sau kẻo mà!
Mấy câu mừng Tết gọi là…

Mười bài thơ Tết – Công thương

Loanh quanh ngày tháng sống qua thì
Còn vắt tiền mua cái tiếng “si”
Bạc nợ nhà băng đòi riết tới
Vốn nhà phố xá bán không đi
Giàu sang mừng thấy vui xuân mới
Túng bấn thêm cho tháng nhuận trì
Thôi lại tết cùng ba chén rượu
Còn trời còn đất mặc chi chi!

Mười bài thơ Tết – Lao động

Nghĩ tới anh em phải choáng đầu
Tết ai, nào phải Tết mình đâu ?
Kiếm cơm năm suốt mười hai tháng
Bán sức ngày vừa ít chục xu
Con đói vì khô hai vú sữa
Thân còm than cực mấy phen xâu
Tết hoài, Tết huỷ vui gì há ?
Pháo láng giềng kêu tởm điếc mù.

Mười bài thơ Tết – Nhà giàu

Than trách thây ai trẻ với già
Ta vui cái thú sống riêng ta
Xe hơi chen chúc dừng đầy ngõ
Áo gấm vào ra rộn cả nhà
Tiếng chúc tiếng mừng xen tiếng pháo
Câu cười, câu tán lẫn câu ca
Tết như thế mãi vui đâu hết
Sông biển mây rừng chán ngó xa

Mười bài thơ Tết – Nhà văn

Tết mới đi qua Tết lại về
Nghe người Tết Tết, khiến mình ghê
Bếp không pháo láo ngoài sân nổ
Bụng trống thơ điên trước cửa đề
Say gượng chén trà mua thú mướn
Ngồi mềm đầu óc bán bài thuê
Tết như thế hử ? Âu không Tết
Bốn bể năm Châu nợ bộn bề.

Mười bài thơ Tết – Thầy tu

Rằng Tết thời vui chẳng mấy ai
Duy mình vui Tết nhất trên đời
Hương hoa vô số người mê cúng
Chè oản tha hồ phật sống xơi
Sướng tột là không xâu thuế tới
Giờ thừa lại có kiệu cờ chơi
Rày nghe hội Phật cùng lan khắp
Cứ việc Nam mô tụng niệm hoài

Mười bài thơ Tết – Thợ thuyền

Biết bao máy móc cướp trơn nghề
Tết lấy gì đây ? Sợ Tết về
Tiền bạc bọn trong mười ngón ép
Tháng ngày qua trọn một đời thuê
Mua vui nhưng tởm ma trêu chọc
Bán dại còn e nợ bộn bề
Cặm cụi lo co xong mấy bữa
Tết gì cực quá hỡi xanh tê!

Năm hết Tết đến

Cờ thế sự tốt đương toan giục,
Chốc ba trăm sáu chục lại năm ngày.
Xa chưa ra, mã chưa tới, pháo chưa bay,
Thoắt ngoài cửa trông vào, đông đã đến!
Đau vạn sự hoa tàn nguyệt khuyết,
Mừng tân cơ đông hết lại xuân về!
Bâng khuâng chuông sớm đêm khuya,
Mai đưa tin gió, hạnh chia mối tình.
Trót duyên nợ ba sinh đành phải trả.
Tuổi càng cao, vai càng nở, lưng càng tỏ.
Da chưa mồi, đầu chưa bạc, tai chưa điếc, mắt chưa mù.
Nợ non nước phải tính sao cho xong xả.
Nhất thiết chúng sinh đô thị ngã
Bách chư khổ thống nhẫn khang nhân
Đã đày thân xuống giữa cõi trần,
Dầu chẳng phật cũng xả thân vì đại chúng.
Ai pháo nổ, ai nêu cao, ai hương dân hoa cúng?
Tấc son mình e cũng thấu thần minh,
Xuân xanh với bạn đầu xanh,
Mới thời mới mãi cho mình mới theo.
Ước ao người muốn, trời chiều.

Năm mới 1936

Thì giờ là của báu,
Đi mau như nước chảy lau lảu.
Mới năm một ngàn chín trăm ba mươi lăm,
Đã thấy năm một ngàn chín trăm ba mươi sáu.
Năm cũ không ra sao!
Năm mới sẽ thế nào?
Trái Đất quay hoài không biết mệt,
Con ma “khủng hoảng” không chịu chết.
Duy có người đời khéo nhố nhăng,
Tết lại Tết đi cứ dặng Tết.
Cái Tết mặt trời,
Đi lại mừng tuổi ầm xe hơi!
Rồi đây Tết mặt trăng,
Danh thiếp chúc năm gửi lăng xăng!
Mỗi năm mỗi lần rộn như vậy,
Không biết khi nào Trái Đất kia thôi chạy!

Ngày mồng 5 tháng 5

Còn lại nhân gian hãy bấy lâu,
Sáu phen Đoan Ngọ ở Thần Châu,
Sông yêu khách lạ đưa trăng biếu,
Non nhớ người xưa khiến gió hầu.
Vắng bạn say liều khuyên bóng múa,
Ngạo đời, hát bướng bảo trời chầu.
Thiên Thai nghe nói gần đâu tá,
Thăm hỏi Lưu đâu với Nguyễn đâu?

Ngâm trong khi ốm

Vóc hạc xương mai tuyết nặng nề,
Hồn thơ như tỉnh lại như mê.
Trong đau dòng giống, mây tan tác,
Ngoài cảm non sông, bụi bốn bề.
Thần thánh mơ màng trời giấc mớ,
Ma tà lồng loạt nguyệt canh khuya.
Đông qua có lẽ xuân về chóng,
Ai chớ lòng chồn để xác ve.

Nghe cuốc kêu

Thương vì ai nhỉ, tiếc gì ai?
Khắc khoải năm canh cuốc cuốc hoài
Ún máu chứa chan hồng mặt đất,
Kêu hồn reo rắt thấu tai trời,
Khóc tàn mưa gió chưa khan tiếng,
Thở chuyển non sông chẳng hết hơi.
Tâm sự này ai, ai biết tá?
Bóng trăng chiều tối, bóng chiều mai!

Ngồi dưới cây tùng tức cảnh bài 1

Say nhìn lơ lửng bóng cây tùng,
Dì gió tình cờ lại bỡn ông.
Đưa tới mùi hoa, hương thấu não,
Thổi tan hơi nắng, mát đầy hông.
Mây khoe tuồng mới đàn lá gấm,
Chim nhớ duyên xưa hót núi sông.
Thoạt nghĩ ba mươi năm trở ngược,
Dốc hồ, gọi bể, với trời không.

Ngồi dưới cây tùng tức cảnh bài 2

Hỏi trời, ông có hiểu chăng ông?
Lão ấy là ai? Bạn với tùng.
Lạnh chẳng sờn gan, sương hết phép,
Nóng càng tươi lá, nắng ghê lòng.
Bao phen gió sấm từng nuôi hạc,
Chờ dịp mây mưa sẽ hoá rồng.
Trời cũng cười cho đời tẻ nhỉ?
Một cây cổ thụ, một thằng ngông.

Ngồi dưới cây tùng tức cảnh bài 3

Một ông đầu bạc cạnh tùng xanh,
Ngắm cũng vô tình, cũng hữu tình.
Trước mặt non cao trơ trọi lá,
Sau cơn gió dữ lẻ loi mình,
Lòng mười phần đỏ gương trời dọi,
Sóng bốn mùa reo phách quỷ kinh.
Thế giới nắng nồng, riêng mát mẻ,
Mây râm màn phủ khắp xung quanh.

Ngồi thuyền đụng trời mưa, trách trời

Một chiếc tròng con đủng đỉnh chơi,
Ông còn mang nước xối vào tôi!
Thánh hiền ba chén con chi thú?
Mây mạng tư bề ngán quá đời!

Nhà nông than bão lụt bài 2

Hỏng tháng mười rồi ngóng tháng ba!
Nhưng ông lụt mãi, tính sao mà?
Long vương chiếm cả vườn và ruộng,
Phong bá xô toang cửa lẫn nhà.
Non nước vẫy vùng tôm ếch cá,
Đói cơm khóc lóc trẻ trai già.
Ông ơi! Thương nể quân mình với!
Sống sót còn xương bọc lấy da!

Nhàn ngâm bài 1

Như mình thong thả có ai đâu,
Thong thả càng thêm tức nỗi đau.
Hồn Thục kêu hoài khan giọng cuốc,
Cung cầm, đàn mãi lãng tai trâu.
Khúc cầu duyên cũ hoa rơi lụy,
Kể chuyện đời nay, đá lắc đầu.
Muốn kéo nường trăng xuôi cạnh gối,
Nường trăng gai tởm đạn phương Âu.

Trên đây uct.edu.vn đã tiếp nối bài viết Nhà Thơ Phan Bội Châu Cùng Tập Thơ Tiếng Việt Đặc Sắc Phần 2 bằng những bài thơ đặc sắc nhất của nhà thơ tài hoa Phan Bội Châu. Mời quý độc giả đón xem Phần 4 vào một ngày không xa. Hãy theo dõi uct.edu.vn để cập nhật những bài viết đặc sắc hơn nhé! Thân Ái!