Nhà Thơ Phan Bội Châu Cùng Tập Thơ Tiếng Việt Đặc Sắc Phần 1



Phan Bội Châu là một nhà thơ nổi tiếng của nước ta. Trong lĩnh vực sáng tác nghệ thuật, thành công của Phan Bội Châu được ghi nhận trên nhiều thể loại của loại văn chương tuyên truyền cổ động cách mạng. Người đọc không thể không nhận ra một tâm hồn,một khí phách lớn và biết bao nỗi niềm trăn trở, suy tư, kỳ vọng

Chất trữ tình đan xen trong toàn bộ thơ của ông là giá trị không thể phủ nhận. Thơ Phan Bội Châu có thể nói chất truyền thống rất đậm đà mà tính hiện đại ngày càng sâu sắc. Những bài thơ của ông được nhiều thế hệ tìm đọc và yêu mến

Hôm nay, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu về tập Thơ Tiếng Việt của ông để cảm nhận sự tài hoa của ông nhé!

I. Đôi Nét Về Nhà Thơ Phan Bội Châu

– Phan Bội Châu 潘佩珠 sinh ngày 26-12-1867 tại làng Đan Nhiễm, xã Nam Hoà, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, cha là Phan Văn Phổ, mẹ là Nguyễn Thị Nhàn, mất ngày 29-12-1940 tại Huế, là một nhà cách mạng Việt Nam trong phong trào chống Pháp.

– Ông đã thành lập phong trào Duy Tân Hội và khởi xướng phong trào Đông Du. Ông vốn tên là Phan Văn San 潘文珊 nhưng vì trùng với tên huý vua Duy Tân là Vĩnh San nên phải đổi thành Phan Bội Châu, hiệu Hải Thụ, về sau đổi là Sào Nam 巢南.

– Ông còn có nhiều biệt hiệu và bút danh khác như Thị Hán 是漢, Phan Giải San, Sào Nam Tử, Hạo Sinh, Hiếu Hán, Độc Kinh Tử, Việt Điểu, Hàn Mãn Tử.

II. Tập Thơ Tiếng Việt Nổi Tiếng

Phan Bội Châu là một nhà lãnh đạo tài giỏi cùng những bài thơ cổ vũ tinh thần chiến đấu được nhiều bạn đọc yêu mến. Ông thực sự là một nghệ sĩ có năng lực biểu hiện phong phú, đa dạng với tấm lòng sục sôi nhiệt huyết. Những bài thơ của ông gửi gắm những suy tư, trăn trở và sự kì vọng của ông. Hãy cùng nhau khám phá tập Thơ Tiếng Việt của Phan Bội Châu ngay bây giờ nhé!

Ái chủng

Lòng ta ta phải yêu nhau,
Đem lời ái chủng mấy câu dặn lòng.
Năm ngàn vạn, họ đồng tông,
Da vàng máu đỏ con dòng Hùng Vương,
Bốn ngàn năm, cõi Viêm phương,
Đua khôn Hoa Hán, mở đường văn minh
Tài anh kiệt, nối đời sinh,
Phá Nguyên mấy lớp, đánh Minh mấy lần.
Mở mang Chân Lạp, Xiêm Thành,
Trời Nam lừng lẫy, dòng thần ở Nam
Ngán thay giống tốt nòi sang,
Bởi đâu sa sút mà mang tiếng hèn?
Xưa sao đứng chủ cầm quyền?
Rày sao nhẫn nhục chịu hèn làm tôi?
Người Tây như thánh như trời,
Người Nam đày đoạ dưới nơi A Tì.
Giang sơn thẹn với tu mi,
Đá kia cũng nát, sóng kia cũng nhàu.
Nào anh, nào chị em đâu?
Họ hàng ta phải bảo nhau thế… nào.
Cùng nhau chung giọt máu đào,
Giống thần minh ấy là đâu bây giờ?
Giống hèn ta phải nên lo,
Giống khôn khi đã ra trò thì thôi
Giống ta nay chẳng dại rồi,
Chân tay cật dạ muôn người cùng nhau.
Muốn cho dòng giống thịnh giàu,
Đi về họp bụng mà mưu chấn hoàng
Mưu sao kéo lại giống vàng.
Uống say máu giặc, ăn tương thịt thù.
Mấy câu ái chủng reo hò,
Chữ đồng tâm ấy phải cho một lòng.

Ái quần

Trời sinh ra một giống ta,
Non sông riêng một nước nhà Việt Nam.
Kể năm hơn bốn nghìn năm,
Ông cha một họ, anh em một nhà.
Giống vàng riêng một mầu da,
Đen răng, dài tóc ai mà khác ai?
Chỉ vì tan tác từng người,
Phen này đến nỗi lạc loài xót xa.
Ai ơi! nghĩ lại kẻo mà,
Kìa gương giống đỏ có xa đâu nào!
Chữ rằng: “đồng chủng, đồng bào”
Anh em liệu tính làm sao bây giờ?
Sao cho nội ngoại tương phù,
Ba mươi sáu tỉnh cũng như một nhà.
Sao cho Nam Bắc hiệp hoà,
Hơn hai mươi triệu mà ra một người.
Chớ cậy thế, chớ tham tài, Bỏ điều lợi nhỏ, tính bài lợi chung.
Chớ ganh khí, chớ khoe công,
Dứt tình ghen ghét, bỏ lòng xai nghi.
Ai ơi, xin sửa mình đi!
Công tư đức ấy hai bề vẹn hai.
Những điều nát nước, tan loài,
Rước voi cõng rắn thì thôi xin chừa.
May ra trời có chuyển cơ,
Anh em ta được như xưa sum vầy.
Họ hàng đông đủ cánh vây,
Chen vai ưu thắng, ra tay cạnh tồn.
Thể đoàn như đá chẳng mòn,
Như thành chẳng lở, như non chẳng dời.
Đừng như đàn quạ giữa trời,
Gặp cơn mưa gió vội rời nhau xa.
Có đàn thì mới có ta,
Đàn là rất trọng, ta là rất khinh.
Dù khi sóng gió bất bình,
Lợi đàn thì dẫu thiệt mình cũng cam.
Làm cho cố kết nghìn năm,
Mới hay rằng bọn người Nam anh hùng.
Làm cho nổi tiếng Lạc Hồng,
Vẻ vang dòng dõi con Rồng cháu Tiên.
Nước nhà cơ nghiệp vẹn tuyền,
Chúng ta, ta giữ lợi quyền của ta.
Mấy câu thuận miệng ngâm nga,
Ai ơi xin nhớ bài ca hợp đàn…

Ái quốc

Nay ta hát một thiên ái quốc,
Yêu gì hơn yêu nước nhà ta.
Trang nghiêm bốn mặt sơn hà,
Ông cha để lại cho ta lọ vàng.
Trải mấy lớp tiền vương dựng mở,
Bốn ngàn năm giãi gió dầm mưa,
Biết bao công của người xưa,
Gang sông, tấc núi, dạ thưa, ruột tằm.
Hào Đại Hải âm thầm trước mặt,
Dải Cửu Long quanh quất miền tây,
Một toà san sát sinh thay,
Bên kia Vân, Quảng, bên này Côn Lôn.
Vẻ gấm vóc nước non thêm đẹp.
Rắp những mong cơ nghiệp dài lâu.
Giống khôn há phải đàn trâu,
Giang sơn nỡ để người đâu vẫy vùng?
Hai mươi triệu dân cùng của hết,
Bốn mươi năm nước mất quyền không.
Thương ôi! công nghiệp tổ tông,
Nước tanh máu đỏ, non chồng thịt cao.
Non nước ấy biết bao máu mủ.
Nỡ nào đem nuôi lũ Sài Lang?
Cờ ba sắc, xứ Đông Dương,
Trông càng thêm nhục, nói càng thêm đau!
Nhục vì nước, mà đau người trước,
Nông nỗi này, non nước cũng oan.
Hồn ơi về với giang san,
Muôn người muôn tiếng hát ran câu này:
“Hợp muôn sức ra tay quang phục.
Quyết có phen rửa nhục báo thù…”
Mấy câu ái quốc reo hò,
Chữ đồng tâm ấy phải cho một lòng.

Bài ca chúc Tết thanh niên

Dậy! Dậy! Dậy!
Bên án một tiếng gà vừa gáy
Chim trên cây liền ngỏ ý chào mừng
Xuân ơi xuân, xuân có biết hay chăng?
Buồn cùng sông, thẹn cùng núi, tủi cùng trăng
Hai mươi năm lẻ đã từng chua với xót
Trời đất may còn thân sống sót
Tháng ngày khuây khoả lũ đầu xanh
Thưa các cô các cậu lại các anh
Trời đã mới người càng nên đổi mới
Mở mắt thấy rõ ràng tân vận hội
Ghé vai vào gánh vác cựu giang san
Đi cho êm, đứng cho vững, trụ cho gan
Dây đoàn thể quyết ghe phen thành nghiệp lại
Ai hữu trí từ nay xin gắng gỏi
Cởi lốt xưa mà tu dưỡng lấy tinh thần
Chẳng thèm chơi, chẳng thèm mặc, chẳng thèm ăn
Đúc gan sắt để dời non lấp bể
Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ
Mới thế này là mới hỡi chư quân
Chữ rằng “nhật nhật tân, hựu nhật tân”

Bài thơ tặng một cô gánh nước

Vì nỗi thương người, phải nhọc mình,
Hai vai một gánh nặng đôi bình.
Sóng vơi giếng cạn, lòng đầy mãi,
Nắng dãi mưa dầm, gót chạy lanh.
Rưới cỏ thêm màu cho đất trắng,
Làm mưa chia sức với trời xanh.
Nhà nhà có nước là vui vẻ,
Chẳng quản công trình, chẳng kể danh.

Bán chữ

Thưa các anh em, các chị em,
Chữ tôi hay lắm phải pha dèm.
Trời e sao đổ ngăn người đọc,
Đất sợ sông nhào đón kẻ xem.
Sấy lửa cha Tần càng quý lắm,
Chữa phong chú Tháo lại kỳ thêm.
Tinh thần một lối văn không mực,
Chả tốn tiền mua cũng đã thèm

Bán mình

Muốn bán mình đi, bán với ai?
Ai mua ta cũng thử rao chơi.
Thân vừa đúng mực hơn năm thước,
Tuổi hãy còn son ngoại sáu mươi.
Miệng tựa chuông đồng vang dậy đất,
Râu ria sao chổi quét ngang trời.
Nếu có ai hỏi: nghề chi rứa?
Tôi đã cồng khua mõ gióng hoài!

Bánh mì

Mì kia gốc phải nước mình không?
Nghe tiếng rao mì thốt động lòng.
Chiếc bánh não nùng mùi đất lạ,
Bát cơm đau đớn máu cha ông.
Văn minh những vỏ chưng ba mặt,
Thấm thía tim gan lệ mấy dòng.
Nhớ lại sáu mươi năm trở ngược.
Say mì lắm kẻ bán non sông.

Bệnh hạ huyết lại phát, có bạn gái cho tiền uống thuốc

Thân này đáng chết sống là thừa,
Bệnh có người thương, thiệt chẳng ngờ!
Bạc giấy mấy tờ, ơn đáng vạn,
Lòng son một tấm, nghĩa từ xưa.
Còn trời ắt hẳn nòi chưa diệt,
Không nước, thôi đành của cũng lưa.
Sẽ mướn nường trăng soi thấu dạ,
Nghìn thu vàng đá mấy hàng thơ

Bệnh trung cảm tác

Đau đi đau lại cứ đau hoài,
Chết quách thời xong, khéo sống dai!
Có lẽ lòng trời khuyên bác gắng,
Hay là gan đất sợ ông xơi?
Chưa mang bộ xác đi theo quỷ,
Hãy vác chòm râu ngạo với đời.
Tính tuổi gần đây vừa bảy chục,
So cùng Bành Tổ hãy còn trai.

Buổi rạng đông

Vui vẻ gì hơn buổi rạng đông,
Chim kêu gà gáy giục vừng hồng.
Mây khoe sắc đẹp trên đầu núi,
Nguyệt chiếu gương bờ dưới đáy sông.
Đánh thức bà con còi mục tử,
Rủ ranh phường bạn tiếng ngư ông.
Người đời hăm hở lo công việc,
Mê ngủ còn ai tỉnh dậy trông!

Cảm tác nhân ngày đệ bát chu niên cụ Phan Tây Hồ

Tám chín năm vắng khách hào hùng
Ngàn bốn mặt non sông chiều tịch mịch
Nếu lúc nọ mang em đi nốt quách
Chốn suối vàng thần tịch chuyện trong ngoài
Anh khuây buồn, anh cũng chung vui
Bao mưa gió thây trời và kệ đất
Phan còn đó, anh đâu sao vắng ngắt
Ngoài rèm thưa lách tách giọt mưa sầu
Rày mai xéo Á, nhà Âu
Trời cao ai chống, bể sâu ai dò
Bạn sống nơi đắng đã, cay no
Kìa mình gầy tai yếu, nọ tai điếc mắt mù
Kéo trời hỏi, tìm đâu, đâu xa lắc
Giấc mê mộng biết bao giờ tỉnh thức
Chuông gọi đời ai khoẻ sức như anh
Non hoành biển Quế đất cao thanh
Trong dường có u linh chang chảng nhỉ
Khóc cũng mệt thôi ta đành hoan hỉ
Xu xác không mà bất tử ấy linh hồn
Hạo nhiên chánh khí trường tồn.

Cảm tác vào nhà ngục Quảng Đông

Vẫn là hào kiệt, vẫn phong lưu,
Chạy mỏi chân thì hẵng ở tù.
Đã khách không nhà trong bốn bể,
Lại người có tội giữa năm châu.
Dang tay ôm chặt bồ kinh tế,
Mở miệng cười tan cuộc oán thù.
Thân ấy hãy còn, còn sự nghiệp,
Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu.

Can anh

I
Anh chớ đi! Anh chớ đi!
Em cố can anh, anh cứ đi!
Anh ơi anh, phải nghĩ suy,
Sau lưng anh đã có những gì?

II
Anh chớ chạy! Anh chớ chạy!
Em cố can anh, anh cứ chạy!
Anh ơi anh, anh phải nghĩ,
Trước mắt những gì anh từng thấy?

III
Anh chớ nóng! Anh chớ nóng!
Em cố can anh, anh cứ nóng!
Anh ơi anh, hãy tự trọng,
Lỡ một nước cờ, muôn việc hỏng!

Câu đối điếu cụ nghè Tập Xuyên Ngô Đức Kế

Chân mây góc biển gần ba chục xuân thu, duyên gặp gỡ chẳng bao lăm, tình già trẻ, nghĩa anh em, hợp hợp ly ly, trách nỗi trời xanh trêu trớ quái;

Gió Á mưa Âu giữa hai mươi thế kỷ, chuyện buồn cười còn lắm nhỉ, cảnh tự do, miền cực lạc, phi phi thị thị, thấy tuồng mặt trắng nhố nha ma

Cây cờ

Ai ơi xin thử ngó cây cờ
Một lá kìa kia dáng phất phơ
Cao thấp quyền về tay kẻ múa
Trắng vàng màu lựa mặt người ưa
Trên cao mấy cửa chiêu bài hão
Xoay đủ tứ bề ngọn gió đưa
Rồi cũng về tay ai nấy phất
Xôn xao dưới bóng bọn vẩy hùa.

Chết

Chết mà vì nước, chết vì dân,
Chết đấng nam nhi trả nợ trần.
Chết bởi Đông Chu hồi thất quốc,
Chết vì Tây Hán lúc tam phân.
Chết như Hưng Đạo, hồn thành thánh,
Chết tựa Trưng Vương, phách hoá thần.
Chết cụ Tây Hồ danh chẳng chết,
Chết mà vì nước, chết vì dân.

Chơi xuân

Quân bất kiến Nam, Xuân tự cổ đa danh sĩ
Đã chơi xuân đừng quản nghĩ chi chi
Khi ngâm nga xáo lộn cổ kim đi
Tùa tám cõi ném về trong một túi

Thơ rằng:
Nước non Hồng Lạc còn đây mãi
Mặt mũi anh hùng há chịu ri
Giang sơn còn tô vẽ mặt nam nhi
Sinh thời thế phải xoay nên thời thế
Phùng xuân hội, may ra ừ cũng dễ
Nắm địa cầu vừa một tí con con
Đạp toang hai cánh càn khôn
Đem xuân vẽ lại trong non nước nhà
Hai vai gánh vác sơn hà
Đã chơi chơi nốt, ố chà chà xuân.

Con đò trên sông

Cái kiếp sinh ra ở giữa vời
Quản bao vào lộng lại ra khơi
Tha hồ giông tố liều theo nước
Nào kể công lao cốt vớt người
Hào hiệp giang hồ đều bạn cả
Kiên trinh tiết tháo có trời soi
Thế gian ai kể tri âm đó
Không nước thôi thời hết ngược xuôi!

Cười mình

Không ngồi, không đứng, cũng không đi,
Cũng giống điên, mà cũng giống si.
Bịt cả đôi tai nghe bể rống,
Nhắm liền hai mắt, thấy trời xoay.
Đương quên mặc áo toan ra chạy,
Trót mới xâu giày, chốc cởi ngay.
Lũ bé thấy ông, nghi bệnh rượu,
Hoá ra nghiện nước, vậy mà say.

Đá tự thuật bài 1

Tên tôi là Đá vẫn trời trao,
Hàn thử phong sương trải biết bao.
Một tấm gan bền thi với đạn,
Muôn cân xương cứng chọi cùng dao.
Đau trời khuyết phải liều thân vá,
Tức biển sâu, nên ném khối vào,
Đoàn thể may còn vô số mạnh,
Ức muôn hòn chất thấy non cao.

Đá tự thuật bài 2

Trót mang lấy tiếng đá từ xưa,
Với sắt thi gan há phải vừa!
Giáng búa nghìn cân thây kệ nó,
Dựng bia muốn thuở phải chờ ta.
Vá trời đặng kín tha hồ luyện,
Ghép đất cho bằng chẳng quản xa.
Phỏng khiến lòng trời là đất cả,
Những tuồng mềm nắn có đâu mà!

Đá tự thuật bài 3

Liếc mắt trên đời chán những tuồng,
Thấy mềm thì nắn, rắn thì buông.
Phải thi gan sắt xông nghìn đạn,
Từng trải lòng son khắp vạn truông.
Hùm mới hiện hình non biết mặt,
Chim đà ngậm giận biển quay luồng.
Chờ thay cuộc mới ta làm khánh,
Nam Bắc vang lừng với tiếng chuông

Đầu mùa hè

Xuân đó mà nay đã hạ rồi,
Bầu sen nghe có khí hương bay
Nắng nung cỏ biếc, màu xanh nhạt,
Gió xác hoa hồng, sắc đỏ phai.
Lửa lựu đầu thềm phơi cánh bướm,
Vườn hè núp bóng tỉnh hồn ve.
Hy Hoàng giấc mộng kìa ai tá?
Thời đại đâu xưa thế giới này!

Đậu thuyền dưới chùa Thiên Mụ, đụng trời mưa

Một ông già một chiếc thuyền con,
Đầu chẳng vui gì cũng chẳng buồn.
Bầu bạn với trời trên mặt nước,
Láng giềng cùng Phật dưới sườn non.
Gió năm ba trận ngang rồi dọc,
Trăng một vài hôm khuyết lại tròn.
Đụng nhịp thình lình, mừng đáo để:
Sau cơn can hạn chốc mưa dồn.

Đề bia Ấu Triệu

Lọ là các cậu, lọ là ông,
Ai bảo rằng thư chẳng phải hùng.
Miệng có chào lòng quên sấm sét,
Gan đành bỏ mạng tiếc non sông.
Dây lưng một dải bền hơn sắt,
Nét máu nghìn thu đậm với hồng.
Ai biết hỏi chăng thời chớ hỏi,
Hỏi hòn đá nọ biết hau không?

Đề cảnh xưa thành Thăng Long

Một đỉnh non cao với một tôi,
Hỏi non non đứng đã bao hồi?
Nổi chìm kim cổ xem mây lượn,
Ấm lạnh xuân thu sẵn đá bồi.
Hồn nước, thề mình son một tấm,
Tuồng đời thây kẻ bạc đôi ngươi.
Ngại ngùng gió bắc kinh đàn nhạn,
Có nhớ nam chăng, nhạn nhạn ôi!

Đề cây hoàng mai ở trước bia cô Ấu Triệu

May sao hoàng chủng trổ ra mày.
Muôn tía nghìn hồng nhượng bậc thầy
Sẵn chất vàng mười chi lọ nhuộm,
Thấy ai trắng nhất chẳng hề say.
Trước mồ liệt nữ chung hồn phách,
Trên bảng khôi nguyên trổ mặt mày.
Ai hỡi! Tìm xuân này sẽ bảo:
Xuân thay, bản sắc chẳng hề thay.

Trên đây, uct.edu.vn đã dành tặng các bạn chùm thơ đặc sắc của nhà thơ Phan Bội Châu trong tập Thơ Tiếng Việt nổi tiếng. Những bài thơ của ông mang nét đặc trưng riêng biệt, sâu sắc chạm trái tim những người yêu thơ. Mời các bạn đón xem phần 2 vào một ngày không xa. Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết của chúng tôi!  

so1vn - Tags: