Nguyễn Trọng Tạo nổi tiếng với khả năng sáng tác thơ trời phú được nhiều người ngưỡng mộ. Thơ ông có những nét đặc biệt không một nhà thơ nào có được đó chính là sự sáng tạo cùng những chiêm nghiệm về cuộc đời của ông. Ông là một trong những người tiên phong trong giai đoạn đổi mới văn học

Ông đã khẳng định được tài năng của mình qua những tác phẩm vang dội. Nguyễn Trọng Tạo đã đóng góp một số lượng thơ giá trị đặc biệt trong nền văn học đổi mới. Thơ ông được nhiều bạn đọc yêu mến và quan tâm. Những bài thơ đã gắn bó với rất nhiều thế hệ bạn đọc

Mời các bạn đón xem tập thơ Biển Mặn của Nguyễn Trọng Tạo ngay bây giờ để có thể cảm nhận sâu sắc sự tinh tế trong thơ ca của ông nhé!

I. Đôi Nét Về Nhà Thơ Nguyễn Trọng Tạo 

– Nguyễn Trọng Tạo (25/8/1947 – 7/1/2019) là nhà thơ, nhà văn, kiêm nhạc sĩ, hoạ sĩ, sinh tại Diễn Châu, Nghệ An, đi lính năm 1969, học Đại học viết văn Nguyễn Du khoá 1, làm thơ từ năm 14 tuổi.

– Ông là Uỷ viên Hội đồng thơ của Hội nhà văn Việt Nam, Trưởng ban biên tập báo Thơ (2003–2004), từng được các giải thưởng thơ của Nghệ An năm 1969, và giải thơ của các báo Văn nghệ, Văn nghệ quân đội, Nhân dân (1978), hai lần được Giải thưởng Văn học nghệ thuật cố đô (Huế), Giải thưởng Văn học nghệ thuật Hồ Xuân Hương, Giải thưởng Uỷ ban toàn quốc các hội văn học nghệ thuật Việt Nam về thơ và văn xuôi.

– Thơ và truyện ngắn của ông dịch ra tiếng Pháp, Anh, Nga, Tây Ban Nha…

– Ngoài thơ, ông còn là nhạc sĩ, công tác tại Tạp chí Âm nhạc và Thời đại của Hội nhạc sĩ Việt Nam, đã có 8 giải thưởng âm nhạc.

+ Các album đã phát hành:
– Tình khúc bốn mùa (NXB Âm nhạc và Hội Nhạc sĩ Việt Nam, 1996)

+ Các bài hát nổi tiếng:
– Làng quan họ quê tôi (lời thơ của Nguyễn Phan Hách)
– Đôi mắt đò ngang
– Khúc hát sông quê (lời thơ của Lê Huy Mậu)

+ Ông đã vẽ khoảng 500 bìa sách, trong đó có:
– Chuyện kể năm 2000 (Bùi Ngọc Tấn)
– Vẽ nhiều minh hoạ trên báo, tạp chí, và trình bày mỹ thuật tạp chí Cửa Việt bộ đầu tiên (1990-1992), báo Thơ, mẫu măng-sét tạp chí Sông Hương, Hồng Lĩnh, Sông Lam, v.v…

+ Các tác phẩm chính:
– Thơ: Gửi người không quen, Sóng thuỷ tinh, Đồng dao cho người lớn, Thư trên máy chữ, Tản mạn thời tôi sống, Nương thân, Thơ trữ tình, Thế giới không còn trăng,…
– Trường ca: Con đường của những vì sao, Tình ca người lính.
– Văn xuôi: Miền quê thơ ấu, Ca sĩ mùa hè, Chuyện ít biết về văn nghệ sĩ, Văn thơ nhạc tuổi thơ,…
– Tiểu luận phê bình: Văn chương cảm và luận

II. Tập Thơ Biển Mặn Hấp Dẫn 

Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo luôn khát khao hướng đến những gì tốt đẹp nhất cho thơ ca. Cả một đời ông gắn bó với nghệ thuật. Chính vì thế mà ông đã cống hiến cho văn học nước ta những tác phẩm vang dội gây chấn động đối với làng thơ ca Việt Nam. Sau đây, mời các bạn hãy cảm nhận và chia sẻ cùng uct.edu.vn về tập thơ Biển Mặn của Nguyễn Trọng Tạo

I. Mặn hơn muối

Tôi ăn biển hàng ngày từng hạt muối trắng tinh
Tôi ăn bình minh mọc lên nắng mặn
Tôi ăn gió thổi về từ biển
Tôi ăn rì rầm sóng
Và sữa Mẹ nhiều khi mặn đắng
Chan nước mắt biển Đông
Đôi vai cha lấp lánh lân tinh
Mồ hôi muối
Áo quầng quầng vết trắng
Bà nội nhai trầu đung đưa võng
Kể chuyện xửa chuyện xưa
Có ông tướng cụt đầu hoá núi đá cụt đầu cắm ngoài biển cả
Nước mắt vợ thành sông chảy ra biển tìm chồng
Nước mắt mặn từ lòng
Nước biển mặn từ yêu…

Những đứa con theo mẹ đi tìm cha
Tràn về phía biển
Những đứa con như cây lim cây sến
Từ rừng đổ xuống
Từ châu thổ trồi lên
Những đứa con xẻ gỗ đóng thuyền
Rút dây rừng đan lưới
Tiếng hò dô hoà tiếng sóng dong khơi
Cá quẫy trắng trời
Cánh tay trần cuộn sóng
Cá ngừ đại dương ăn sống
Cá thu cá bóp nướng than hồng
Cá trích cá chim cá thèn cá mực
Cá mú đỏ cá tắc kè cá bò hòm cá nục
Cá kho tương cá muối mắm thơm lừng
Cá phơi khô mùa nắng trải đầy thuyền
Cá mũ đỏ bên tôm hùm thắp lửa
Những con thuyền băng lướt qua bầy sứa
Những cánh buồm bay theo cánh hải âu…

Đi tìm cha trên sóng nước đục ngầu
Đi tìm cha đêm trăng xanh biển lặng
Gặp đảo đá cụt đầu bước đi trên sóng trắng
Vung cánh tay khổng lồ ném đá xuống biển sâu
Đá ném xa thành đảo chìm đảo nổi
Những đảo đá san hô những đảo đá cát vàng
Những đảo đá mọc cây xanh miên man
Những đảo đá xếp thành hòn trống mái
Những đảo đá chuyền nhau tiếng gọi
Những đứa con lớp lớp tụ về
Thành dân đảo bao đời không nhớ nữa…

*

Tôi đi dọc bãi bờ chữ S
Đất bên tây và nước bên đông
Những dòng sông tuôn mạch máu không ngừng
Những mạch đá xoè xương sườn ôm ấp
Đất Nước tôi nắng mưa hay bão táp
Hạnh phúc khổ đau tôi gọi Đất Nước ơi!…
Đất và biển và trời xanh đắm đuối
Giữa mênh mông hiển hiện những Con Người
Có tiếng khóc tiếng cười
Có nước mắt mồ hôi
Mặn hơn muối mặn

ĐIỆP KHÚC TIẾNG SÁO:
Nhặt lên viên sỏi tuổi thơ
Ném ra biển cả nào ngờ sóng dâng
Mọc lên lớp lớp tầng tầng
Đảo chìm đảo nổi đá ngầm san hô
Những vùng biển đẹp như mơ
Trường Sa cát trắng Hoàng Sa cát vàng…

Nhặt lên hạt muối, thưa rằng:
Một phần biển mặn. Mấy phần máu xương…

II. Những cột mốc sống

Không nhớ con thuyền nào đã phát hiện Hoàng Sa, Trường Sa, Côn Lôn, Phú Quốc
Chỉ nhớ những ngư dân đánh cá tận trùng khơi
Đảo dựng đá chắn che ngày bão lớn
Những đảo hoang bỗng ấm áp hơi người.
Ôi tiếng Việt bay qua đầu sóng dữ
Nói râm ran trên đảo đá chơi vơi.

Không nhớ người lính nào đã đặt bước chân đầu tiên lên đảo
Chỉ nhớ Hải đội Hoàng Sa vâng lệnh Chúa lên đường
Những người lính chụm vai làm cột mốc
Tờ nhật trình Chúa Nguyễn vẫn lưu hương

Bốn thế kỷ đi qua cột mốc giữa trùng dương
Những Hải đội Hoàng Sa nhập hồn vào sóng nước
Nhập vào đá san hô
Nhập vào Tổ quốc
Vẫn còn đến hôm nay tục tế lễ sân đình
Tế lễ khao quân
Tế sống lính lên đường
Những hình nộm chết thay cho người lính
Cầu an bình cho mọi chuyến hành hương.

Và sản vật được thu về dâng Chúa
Ốc tai voi cùng với ốc xà cừ
Những hải sâm, hải ba, đồi mồi, san hô đỏ
Những bạc vàng trôi dạt tráp thương gia.

Không biết bao nhiêu máu mồ hôi đã đổ
Chỉ biết những “cân”, “thoi”… sách sử vẫn còn ghi:

Lê Quý Đôn, hồi làm Hiệp Trấn Thuận Hoá, đã viết: “tra khảo sổ biên của cai đội Thuyên Đức Hầu”, người chỉ huy Đội Hoàng Sa, trong nhiều năm đã vào Phú Xuân nộp các sản vật thu lượm được từ Hoàng Sa, cụ thể như sau:
– Năm Nhâm Ngọ (1702), Đội Hoàng Sa lượm được 30 thoi bạc.
– Năm Giáp Thân (1704), lượm được thiếc 5100 cân.
– Năm Ất Dậu (1705), lượm được 126 thoi bạc.
Từ năm Kỷ Sửu (1709) đến năm Qúi Tỵ (1713), tức là trong khoảng 5 năm, thỉnh thoảng họ cũng lượm được mấy con đồi mồi và hải sâm. Cũng có lần họ chỉ lượm được mấy khối thiếc, mấy cái bát đá và hai khẩu súng đồng.

Không biết bao nhiêu việc công, Đội Hoàng Sa đảm nhiệm
Chỉ thấy còn đây lời Vua Nguyễn đã ban:
“Không cứ đảo nào, cửa bể nào thuyền chạy đến, sẽ đo nơi ấy chiều dài, chiều ngang, bề cao, bề rộng, chu vi bao nhiêu, rà bên bờ nước bể nông hay sâu. Có cát ngầm, đá mỏm hay không, ở tình thế hiểm trở hay bình thường, xem đo tỏ tường vẽ thành đồ bản, chiếu khi khởi hành, do cửa bể nào ra bể, trông phương hướng nào mà lái đến nơi ấy, cứ theo đường thuỷ đã đi khấu tính ước được bao nhiêu dặm đường? lại ở chốn ấy trông vào bờ bể đối thẳng là tỉnh hạt nào? và phương hướng nào? Ước lượng cách bờ bao nhiêu dặm đường? Ghi nói minh bạch trong hoạ đồ để về trình lên. Lại từ năm nay trở về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, chiếu theo lệ ấy mà làm”.

Việc đo đạc thuỷ trình, hải trình đã trở thành thông lệ
Những hòn đảo vô danh đã thành danh trong những tấm bản đồ
Đời trước truyền đời sau
Đời sau truyền đời sau nữa
Đời đời ghi tạc
Xương thịt vùi sâu trong ngôi mộ san hô…

Tôi trên con thuyền ra khơi vào lộng
Từ Móng Cái đến Hà Tiên
Bạch Long Vỹ, Vịnh Hạ Long
Hoàng Sa, Trường Sa, Côn Lôn, Phú Quốc
Biển lắng máu cha ông biển xanh biêng biếc
Biển nghĩ suy sóng biển trắng mái đầu
Sóng đi đâu, sóng về đâu
Những ngọn đèn thao thức
Những trái tim thắp lửa phía đất liền
Những trái tim của Mẹ của Em
Sau bờ bãi phi lao phập phồng gió hú

Tôi trên con thuyền bình minh nắng đỏ
Nắng trên trời nắng dưới nước lung linh
Nắng ngàn sao trong mẻ lưới tung lên
Nắng lấp loá oằn mình con cá quẫy
Nắng từ cát hắt vàng hươm chân đảo
Nắng từ lòng người cất tiếng hát bay cao

Tôi trên con thuyền hoàng hôn buông neo
Ánh ngày chưa chịu tắt
Ngày ở biển dài hơn ngày mặt đất
Những cuộc đời dài ngắn bá vai nhau
Đêm mông lung trong chén rượu quê nghèo
Ly bồng bềnh cùng thuyền
Người bồng bềnh cùng sóng
Ngàn sao sa trong đêm biển bồng bềnh…

Tôi trên con thuyền ngày sóng dữ
Hải tặc ráp vây thuyền
Súng ống
Dùi cui
Choang
Xoèng
Ực
Huỵch
Những con cá ngáp khan trong lưới
Mắt không mở được
Tiếng la
Tiếng thét
Tiếng bồm bộp dùi cui
Tiếng lạnh tanh qui-lát
Tiếng chân bước nặng nề
Từ thuyền này sang tàu kia
Từ tàu kia sang thuyền này
Từ thuyền này sang tàu kia
Oằn lưng răng rắc…

Không thể nào mở mắt
Loang loáng dao găm, lưỡi lê
Tôi nghe mình nói mê
Trên hoang đảo một miền nào xa lắm
Những con cá bị cướp
Hội họp căm thù
Những con tôm bị cướp
Duỗi thẳng lưng đứng lên
Rồi tất cả bị mũi dày đè bẹp

Tanh tởm ngoại ngữ quen nghìn năm
Nhai xác…

Tôi nghe sóng Hoàng Sa uất ức
Gầm vang
Tôi nghe hồn Hoàng Sa nghiêng bóng thuyền, che chở
Các bạn thuyền chụm vào nhau trên con thuyền rách nát
Tiếng rên thành bản nhạc chiêu hồn
Có người chết mà tôi không khóc được
Không nói được
Không làm gì được
Tôi chìm vào những bàn tay
Ngày ngày cầm nắm
Những bàn tay xoa dịu
Những bàn tay vuốt ve Sói Biển
Những bàn tay bảo tôi: Nhớ lấy!

Tôi con thuyền bị đâm trên biển của mình
Những xương sườn gãy nát
Ứa máu ngư dân
Ứa máu ngư trường
Bọn cướp biển là ai? Tôi đã nhìn rõ mặt
Chúng lén lút
Chúng ngang nhiên
Chúng hằm hằm
Chúng sằng sặc
Chúng nguỵ trang áo mặc
Chúng trá hình dân đen
Chúng giả bạn giả anh em
Giả tình giả nghĩa
Chúng phản bội cả đàn cừu lột lông và xẻo thịt
Phản bội những con thuyền đánh đắm cả yêu thương

Tôi con thuyền gãy nát cột buồm
Tâm hồn làm phao biển
“Không thể dìm được phao”
Bọn cướp biển hiểu chăng điều đơn giản
Những chiếc phao tâm hồn trong bão tố lớn lên
Mang những chiếc thuyền về bến
Dù vỡ nát
Không thể nào chìm xuống….

Tôi mảnh ván tả tơi lại mọc thành cây
Thành rừng xanh
Thành cổ thụ
Lại xẻ ván đóng thuyền
Lại đợi ngày hạ thuỷ
Lại tế lễ sân đình
Lại đánh trống khao quân
Lại tuyên thệ sống còn vì biển đảo
Những con thuyền tung bay cờ đỏ
Lại rẽ sóng ra khơi…
Sừng sững giữa biển trời.

Những ngư dân trên đất nước tôi
Nguyện làm “cột mốc sống”
Ngàn vạn “cột mốc sống”
Cả triệu “cột mốc sống”
Trên biển sóng
Trên đá ngầm
Trên đảo chìm đảo nổi
Trên tự do lãnh hải Việt Nam tôi!

ĐIỆP KHÚC TIẾNG SÁO:
Nhặt lên viên sỏi tuổi thơ
Ném ra biển cả nào ngờ sóng dâng
Mọc lên lớp lớp tầng tầng
Đảo chìm đảo nổi đá ngầm san hô
Những vùng biển đẹp như mơ
Trường Sa cát trắng Hoàng Sa cát vàng…

Nhặt lên hạt muối, thưa rằng:
Một phần biển mặn. Mấy phần máu xương…

III. Lính biển

Mặc bộ quân phục hải quân hai màu xanh và trắng
Như sóng biển hai màu
Tôi thành lính biển

Mẹ lại tiễn con đi
Những người mẹ như đất liền như núi non ngước nhìn ra biển cả
Tôi chép lại bài thơ của cha
Viết ngày giặc dã:

“Những người lính đi qua thành phố
Màu áo xanh dễ nhận giữa bao người
Màu áo xanh gần gũi chợt xa vời
Lại chợt hiện vội vàng qua năm tháng

Những người lính dễ làm ta xúc động
Mắt long lanh đứng ngắm dãy nhà cao
Ba lô sau lưng như cùng ngước nhìn theo
Ngỡ thành phố nghiêng mình giây phút ấy

Cổng vườn hoa nhiều lần ta bỗng thấy
Màu áo xanh người lính lẫn bóng màu
Lẫn lứa đôi cười nói dắt tay nhau
Anh háo hức bước lên xe điện cũ

Những người lính đi qua thành phố
Người trẻ măng, người tóc bạc phơ
Chân dép lốp hay chân giày cao cổ
Chẳng nhiều đâu nhưng chưa vắng bao giờ…

*

Người lính đi qua kỷ niệm tuổi thơ
Qua bao tết xa nhà, qua bao mùa rụng lá
Qua bom đạn, chia tay gặp gỡ
Bao cát vàng, đất đỏ, đá mòn trơn

Người lính đi, bước nhớ lại bước thương
Tiếng chim hót ngỡ ngàng khu rừng cháy
Khát se môi, thèm suối oà nước chảy
Bỗng biển đề: “Suối độc” – lội qua nhanh

Người lính đi qua mấy cuộc chiến tranh
Nói về súng dẫu nhiều – chưa nhàm cũ
Nói mất mát, hy sinh dẫu cạn lời – chưa đủ
Núi lặng thầm khóc bạn dưới sao khuya

Người lính đi, kiên nhẫn tự bao giờ
Qua trận thắng lại đến cùng trận đánh
Qua cái chết lại đến cùng bom đạn
Bao lá cờ cắm mốc dọc đường qua…

Người lính đi xáp mặt bao kẻ thù
Bao loài hoa đã nở và đã rụng
Núi rừng đỏ mẫu đơn, bưng biền bông súng trắng
Vai đậu đầy Thốt Nốt, nhớ Chăm Pa…

*

Em ơi em, em trong trắng vô tư
Nếu em đã đem lòng yêu người lính
Giờ tan ca đừng mong người yêu đón
Ngước sao trời hãy tin đấy là anh!

Nếu em là vợ lính, dẫu thời bình
Hãy xem bài cho con sau mỗi lần tan học
Con khó bảo đừng một mình ngồi khóc
Đừng đợi anh xách nước thổi cơm chiều

Mẹ già ơi thương nhớ dẫu dâng trào
Mẹ cứ nhắc tên con, đừng lo con vấp ngã
Lối con đi – nào lối mòn thuở nhỏ
Và mẹ là Mẹ Lính – dễ dàng đâu!…

*

Người lính đi qua lòng mình thẳm sâu
Qua cắn rứt đời thường những ngày gian khó nhất
Ấm áp kề bên, kề bên rét buốt
Cái sống và cái chết – giữa là anh

Giữa cái còn, cái mất quá mong manh
Như sợi tóc, mảnh mai hơn sợi tóc
Với kẻ thù vô hình, không thể dùng súng được
Chút yếu mềm – cây cứng gió thổi bay

Người lính đi nhẹ nhõm bất ngờ thay
Khiến bên đường bao mắt nhìn ngơ ngác
Khiến vòm cao gió ngân lên âm nhạc
Tiếng ve dâng trong vắt thuở ban đầu…..

*

Phía sân ga những người lính lên tàu
Những người lính đi qua thành phố
Tiếng bánh sắt rung kính bao cửa sổ
Tiếng còi chào xoáy ốc cuối trời xa

Con tàu mang người lính chúng ta đi
(Chưa hết giặc chưa thể nào khác được)
Rồi con tàu lại về ga xuất phát
Người lính đi – áo xanh rợp chiến hào

Thành phố ngước nhìn theo những ngọn núi thật cao!”

Cha đã lính. Bây giờ con lại lính
Những thế hệ nối theo nhau đi giữ nước non nhà
Xưa cha Trường Sơn Rừng
Nay con Trường Sơn Biển
Những hòn đảo dựng vòng cung phòng tuyến
Dựng tin yêu từ phía mặt trời lên.

Tự bao giờ đã biển xanh
đã đảo khơi đứng soi mình – và chim
để nghe huyền thoại, tôi tin
đảo là con của Đất liền, đẹp trai
biển là tiên nữ nhà Trời
yêu nhau về ở trọn đời bên nhau
(và loài chim biển từ lâu
từng mang những lá thư màu tình yêu)

Để khi tôi khóc chào đời
lắng trong tiếng biển ru hời dịu êm
tuổi thơ cùng sóng trốn tìm
tiếng cười tôi – sóng giữ gìn âm vang
một mai tôi bỗng ngỡ ngàng
ngụp trong biển, sóng mơn man thân hình
và khi biết tỏ lời tình
biển xanh trong mắt em nhìn ngất ngây

Để khi tôi đã ngủ say
thềm nhà biển đợi – sóng lay cát vàng
để khi tôi chợt mơ màng
biển tràn song cửa chín vàng ánh trăng
và khi thức giấc, chân trần
tôi lao ra biển – sóng gầm xa xôi…

(Sao mình không là đảo khơi
để tôi nghe hết những lời biển xa?)

Bây giờ trên đảo tuần tra
sau mưa, tôi lẫn chan hoà nắng lên
nắng như nắng nhớ đất liền
tôi như tôi chẳng xa em bao giờ
bởi tôi tin tự trong mơ
em là biển biếc, bãi bờ là tôi…

Chẳng lẽ anh yêu đất cằn và đá cỗi
nắng cháy da và rét buốt xương
gió xé rách áo quần
mưa ném nghiêng mũ cối
chẳng lẽ anh yêu sóng biển gào dữ dội
át cả tiếng em từ phía đất liền?

Công sự anh đào xuyên ngày, xuyên đêm
đào vào đá (lưỡi xẻng thay mấy bận)
những cánh tay kéo pháo hai ba tấn
lên điểm cao, dốc dựng lệch trời xanh
chẳng lẽ anh yêu đá cào tướp bàn chân
dày cao cổ rách rồi, tay con trai lại vá?

Sống giữa biển mà lắm khi thèm cá
luống rau trồng trong lưới ngăn chim
nước biển nhiều mà chẳng thể nấu cơm
(phuy nước ngọt để dành khi giặc giã)
chẳng lẽ anh yêu đêm liên hoan văn nghệ
có chàng trai sắm vai gái diễn chèo?

Chẳng lẽ anh yêu những đêm ngủ hầm kèo
báo đến chậm hai tuần vẫn gọi là “báo mới”
lá thư tình đọc chung cùng đồng đội
lúc nghe đài là lúc gặp quê hương
chẳng lẽ anh yêu những ngày tháng thẳng căng
đêm bật dậy mấy lần báo động?

Nhưng em ơi, giữa muôn trùng biển sóng
anh đã yêu như vậy ngày ngày
như yêu em đắm say
yêu giấc ngủ hằng mơ về bờ cát
bởi anh biết:
nếu lòng mình đổi khác
giặc sẽ tràn qua đảo của mình đây!…

ĐIỆP KHÚC TIẾNG SÁO:
Nhặt lên viên sỏi tuổi thơ
Ném ra biển cả nào ngờ sóng dâng
Mọc lên lớp lớp tầng tầng
Đảo chìm đảo nổi đá ngầm san hô
Những vùng biển đẹp như mơ
Trường Sa cát trắng Hoàng Sa cát vàng…

Nhặt lên hạt muối, thưa rằng:
Một phần biển mặn. Mấy phần máu xương…

IV. Hải chiến

Họ đã ghé Hoàng Sa xin nước uống
Những người lính Việt Nam đã san sẻ nghĩa tình
Họ đã dạt vào đây trong bão lớn
Nhường áo sẻ cơm cho họ đỡ đói lòng
Họ đã bị thương cần cứu giúp
Lính quân y lên tàu cấp cứu những nạn nhân…

Họ đâu phải dân mình
Họ là dân Trung Quốc
Nhưng tình người, hoạn nạn biết sẻ chia
Rồi bắt tay
Rồi lưu luyến tiễn đưa
Rồi hò hẹn
Rồi “cám ơn” rối rít…

… Rồi một ngày họ thành “quân xâm lược”…

HOÀNG SA 1974

Ngày 16 tháng 1 năm 1974, Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ-16) phát hiện hai ngư thuyền nguỵ trang số 402 và số 407 của Hải quân Trung Quốc gần đảo Hữu Nhật đồng thời phát hiện quân Trung Quốc chiếm đóng đảo Quang Hoà và cắm cờ Trung Quốc tại các đảo Hữu Nhật, Duy Mộng, Quang Ảnh.
Ngày 17 tháng 1 năm 1974, Khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ-4) đến Hoàng Sa chở theo một toán người nhái (biệt hải) và một đội hải kích đổ bộ xuống Hữu Nhật, Duy Mộng, Quang Ảnh để nhổ cờ Trung Quốc, dựng cờ Việt Nam.

Và Trung Quốc đã quyết dùng vũ lực
Mao đã phê “Đồng ý đánh trận này!”
Đặng Tiểu Bình sau 7 năm “bóc lịch”
Quyết lấy Hoàng Sa xá tội với quan thầy.

Những tàu chống ngầm
Những chiến hạm nổi
Những thuyền nguỵ trang lính giả ngư dân
Những trung đoàn hải quân lục chiến
Những tàu nhỏ tàu to, phản lực cơ tăng viện
Ngang nhiên tiến vào hải phận Việt nam

*

Tin dội về: Biển đảo bị xâm lăng
Thề giữ đảo, giữ yên từng tấc sóng
Những người lính hiên ngang cùng chiến hạm
Những con tàu thẳng hướng Hoàng Sa
Những con tàu mang lịch sử xông pha
Lý Thường Kiệt
Trần Bình Trọng
Trần Khánh Dư
Nhật Tảo…

Tín hiệu hoà bình phát đi không thể nào xua đuổi
Những chiến hạm xâm lăng.
Lệnh “khai hoả” vang lên – lời tuyên bố chủ quyền
“Biển đảo Việt Nam người Việt Nam là chủ”
Và súng nổ
Súng gầm lên giận dữ
Trút hờn căm vào chiến hạm quân thù…

*

Lửa đã cháy
Và biển xanh dâng sóng
Tàu địch ngả nghiêng đáp trả điên cuồng
Đạn phóng đi những cột nước dựng lên
Đạn vây bủa những con tàu giữa biển
Những chiến hạm hai bên đều dính đạn
Lính bị thương
Lính tử trận
Lính can trường…

Nhưng cuộc chiến đã không hề cân sức
Tàu địch đông, áp đảo những gọng kìm
Trung Nam Hải chủ trương thành chiến dịch
“Đánh trận này chiếm quần đảo Hoàng Sa”.

Những con tàu HQ không tiến được
Phải rút lui dưới hoả lực quân thù
Tàu Nhật Tảo chìm dần trong lửa khói
Biển ôm vào lòng nức nở tiếng sóng ru…

Chiều 19 tháng 1.1974 hải chiến Hoàng Sa kết thúc, Đặng Tiểu Bình đã chỉ thị cho quân khu Quảng Châu tiếp tục đánh chiếm các đảo Hoàng Sa, Hữu Nhật và Quang Ảnh. Ngày 20 tháng 1, 4 phi cơ MiG-21 của Trung Quốc oanh tạc các đảo Hữu Nhật, Quang Ảnh và Hoàng Sa. Tiếp đó, quân Trung Quốc đổ bộ tấn công các đơn vị đồn trú của Việt Nam trên các đảo này. Sau 20 phút, lực lượng của Việt Nam Cộng hoà trên các đảo bị mất liên lạc.

Hoàng Sa mất vào tay quân bành trướng
Biển gầm vang tiếng gọi phục thù!…

GẠC MA 1988
Sáng ngày 14 tháng 3, tàu HQ 604 đang thả neo tại Gạc Ma, phát hiện thấy bốn chiếc tàu lớn của Trung Quốc đang tiến lại gần. 6h sáng, Hải quân Trung Quốc thả ba thuyền nhôm và 50 quân đổ bộ lên đá giật cờ Việt Nam. Hai bên giằng co với nhau bằng tay không, sau đó sĩ quan Trung Quốc cầm súng lục bắn chỉ thiên. Hạ sĩ Nguyễn Văn Lanh bị lê đâm và bắn bị thương. Thiếu uý Trần Văn Phương bị bắn, trước khi chết anh đã hô: “Thà hi sinh chứ không chịu mất đảo, hãy để cho máu của mình tô thắm lá cờ Tổ quốc”.

Cờ Việt Nam bay trên đảo Gạc Ma
Như ngọn lửa đỏ tươi giữa gió mùa rét mướt
Những chiến sĩ công binh tôn cao cờ Tổ quốc
Có biết chăng lũ giặc đã tràn lên?

Chúng tràn lên từ những chiếc thuyền nhôm
Lăm le súng và mắt trừng quỉ dữ
Chúng bắt ta hạ xuống cây cờ đỏ
Cờ chủ quyền trên đảo Việt Nam ta.

Một vòng tròn lính biển kết thành hoa
Bao bọc cờ Tổ quốc
Không nổ súng! Phải giữ cho bằng được
Lá cờ mang xương máu biết bao đời

Giặc tràn lên cướp giật Tổ quốc tôi
Nguyễn Văn Phương ôm cột cờ giữ chặt
Một cuộc chiến tay không giành giật
Và lá cờ Tổ quốc vẫn tung bay

Không thể nào cướp nổi lá cờ này
Bọn quỉ dữ đã đơn phương nổ súng
Đạn bắn vào đầu Phương, anh ngã xuống
Trong tiếng hô: Hãy để máu tô cờ…

Nguyễn Văn Lanh thay Phương làm nhiệm vụ
Giữ lá cờ giữa “vòng tròn bất tử”
Và lưỡi lê quỉ dữ đã đâm anh
Thuỷ triều dâng, máu loang khắp biển xanh

Và đạn B40 đã nổ
Nhắm vào bầy quỉ dữ
Đẩy chúng xuống biển sâu
Đẩy chúng rút lui trở lại những con tàu
Đen đúa ngoài xa biển…

Những người lính sát vào nhau một vòng tròn khép kín
Mặc pháo 100 li từ biển bắn vào
Các anh hoá thành sao
Các anh hoá thành cờ
Mỗi người lính – một lá cờ Tổ quốc.
7 giờ 30 phút, Trung Quốc dùng hai chiến hạm bắn pháo 100 mm vào tàu 604, làm tàu bị hỏng nặng và cho xuồng đổ bộ về phía tàu Việt Nam. Tàu trưởng Vũ Phi Trừ chỉ huy quân trên tàu sử dụng các loại súng AK47, RPD, B-40, B-41 đánh trả quyết liệt khiến nhiều lính Trung Quốc thương vong, buộc đối phương phải bỏ xuồng nhảy xuống biển bơi trở về tàu. Trung Quốc tiếp tục nã pháo, tàu 604 của Việt Nam bị chìm dần xuống biển.

Khi con tàu đang chìm dần xuống biển
Trung tá Trần Đức Thông vẫn đứng trên boong
Anh đã chết nhưng anh không gục xuống
Như Từ Hải ngày xưa uất nghẹn trước quân thù.

Nhớ không anh
Trước chuyến đi ra đảo
Anh về phép thăm nhà hạnh phúc với vợ con
May cho con bộ quần áo mới
Gánh cho vợ một bể nước đầy
Anh thăm mẹ thăm thầy
Thăm bạn bè, hàng xóm
Thăm đồng đội xưa cấy cày đồng ruộng
Thăm vất vả nhọc nhằn những người lính thương binh…

Nhớ không anh
Những con ốc biển
Những cây san hô từ đảo Trường Sa
Những con tôm càng tết bằng dây điện
Mang về cho con thương mến làm quà.

Anh đâu biết nơi quê nhà, con gái
Đang viết cho cha những dòng chữ nhớ nhung:
“Bố xa nhớ, hôm nay ngày chủ nhật
Con ngồi vào bàn mà không sao học được
Đài hôm nay toàn bài hát Trường Sa
Con nhớ nôn nao bố đang ở nơi xa…

“Ồ mới đó mà thời gian nhanh quá
Bố trả phép ra đi cũng đã được ba tuần
Nhà đã nhận ba lá thư bố gửi
Mẹ và em cứ nhắc bố nhiều hơn…

“Bố kính yêu, con học vẫn bình thường
Mẹ vẫn khoẻ, em dạo này ngoan lắm
Lá thư tay bố gửi thầy chủ nhiệm
Thầy nhận rồi, thầy hứa viết thư thăm

“Con thương quá, đời lính nhiều vất vả
Vẫn lo cho con phấn đấu học hành…

“Đài lại nói về tình hình biển đảo
Nhạc lại vang những bài hát Trường Sa
Con thương bố càng thương bao người lính
Suốt đêm ngày bám biển giữ đảo xa…

“Bố xa nhớ, thư đã dài rồi đó
Con gửi lời thăm các chú, các anh
Mong mạnh khoẻ để giữ gìn biển đảo
Để nước non được toàn vẹn, yên lành…

“Bố ơi bố, nếu bố đi ra đảo
Nhớ viết thư cho mẹ kẻo mẹ mong
Con dừng bút mong bố mình khoẻ mãi
Lá thư sau con sẽ viết dài hơn”.

Anh không bao giờ nhận được lá thư con
Anh đang đứng bong tàu như tượng đá
Dần chìm xuống giữa bao la biển cả
Biển ôm anh ru giấc ngủ ngàn năm…

ĐIỆP KHÚC TIẾNG SÁO:
Nhặt lên viên sỏi tuổi thơ
Ném ra biển cả nào ngờ sóng dâng
Mọc lên lớp lớp tầng tầng
Đảo chìm đảo nổi đá ngầm san hô
Những vùng biển đẹp như mơ
Trường Sa cát trắng Hoàng Sa cát vàng…

Nhặt lên hạt muối, thưa rằng:
Một phần biển mặn. Mấy phần máu xương…

V. Đảo bão

Những đàn chim trên đảo đã bay đi
Chỉ còn lính chúng tôi với rập rình cơn bão
Cơn bão biển đang tiến dần tới đảo
Cơn bão điên cuồng gió giật cấp 12
Cơn bão chúng tôi biết được qua đài
Qua màu nước thuỷ triều bỗng dưng ngầu sóng đục
Chúng tôi biết qua cầu vồng bảy sắc
Bắc ngang trời không mây…

Và bây giờ – chính phút này đây
Cơn bão biển từ phương đông đang đến
Sóng đã chồm qua đầu hòn Đá Lớn
Biển ngả nghiêng chơi trò cập kênh
Trước mặt chúng tôi tối sầm ngọn gió đen
Trời như chiếc vung khổng lồ chụp xuống
Chỉ còn lính chúng tôi với súng
Với đất liền thương nhớ phía sau lưng!

Đã bắt đầu những trận mưa ngang
(Mưa không thể bình thường vì gió)
Đã bắt đầu tiếng rú như xé lụa
Trăm nghìn hốc đá thổi tù và
Gió giật mái tôn phần phật như cờ
Những cây dại gió nhổ lên ném xuống
Vườn rau chỉ còn trơ lại cuống
(Lưới ngăn chim gió thổi biến đâu rồi)
Gió gào lộn trên trời
Những vòng xoáy mắt thường nhìn thấy rõ
Từ chân đảo bất ngờ lồng lên gió
Cát đá bay như ai ném qua đầu
Hoa san hô, hoa san hô rực rỡ sắc màu
Không cưỡng nổi đã hoá thành tai hoạ
Bạt che pháo trong gió lùa tơi tả
Bạt che pháo rách rồi nòng pháo vẫn giữ khô
Đứng trên hầm trực chiến đảo trưởng hô
Cơn bão nuốt tiếng anh đầu ống nói
Dây điện thoại đứt tung như chỉ rối
Bão xoáy lòng bao người lính chúng tôi

Có biết chăng xa khuất đát liền ơi
Chúng tôi nhớ đất liền da diết quá
Chúng tôi nhớ đất liền mưa mùa hạ
Tuổi ấu thơ tắm mát giữa sân nhà
Nhớ mùa thu lá vàng rực như hoa
Bông cúc nở thẹn thùng bên lối ngõ
Nhớ ruộng đồng nón trắng chao sóng lúa
Cánh cò bay bịn rịn luỹ tre làng
Đất liền ơi thương nhớ những dòng sông
Ai gánh nước mà sông trong đến thế
Nhớ lúc ra đi ta một lần thưa mẹ
Cái vẫy tay vời vợi đất liền…

Có thể là sau cơn bão này thôi
Quân thù đến sẽ xoá đi tất cả
Quân thù đến nấp sau màu đen gió
Lưng nguỵ trang bằng sắc đỏ mặt trời

Không thể nào mất đảo, đất liền ơi
Trong bão gió chúng tôi nghe người gọi
Chúng tôi nghe lời đất liền vang dội
Lời đất liền từ ngực chúng tôi đây…

Bão rú gầm rách tã những tảng mây
Những người lính cởi áo ra che pháo
Những người lính ngã nhoài trong gió bão
Lại đứng lên. Gió lại giật ngã nhoài
Không thể đi thì bám đất trườn đi
Dây điện nối men theo triền đá xám
Bão qua đêm qua ngày
Bão quăng lên sóng mặn
Bão như là ôm đảo mà lay…

Ngẩng đầu lên bầu trời đã quang mây
Những ngọn gió điên cuồng sõng soài bên bờ vực
Bầy sóng dữ bỗng trở nên khép nép
Đàn chim đi sau bão đã bay về
Đảo vẫn đứng hiên ngang như đứng vậy từ xưa
Dáng người lính sáng lên cùng đá đảo
Những người lính đầu trần không áo
Lại đắp dày công sự của mình lên.

ĐIỆP KHÚC TIẾNG SÁO:
Nhặt lên viên sỏi tuổi thơ
Ném ra biển cả nào ngờ sóng dâng
Mọc lên lớp lớp tầng tầng
Đảo chìm đảo nổi đá ngầm san hô
Những vùng biển đẹp như mơ
Trường Sa cát trắng Hoàng Sa cát vàng…

Nhặt lên hạt muối, thưa rằng:
Một phần biển mặn. Mấy phần máu xương…

VI. Vĩ thanh

Rồi một ngày em ra đảo cùng anh
Nghe tiếng gà gáy trưa trên ghềnh đá
Nghe tiếng bò gọi đêm thân thương quá
Tiếng chuông chùa rung động cả hoàng hôn
Tiếng lính hát ca, tiếng trẻ đến trường
Ríu rít bài đồng dao mới:

Nu na nu nống
Đánh trống phất cờ
Biển cả xa mờ
Có hai quần đảo
Hoàng Sa, Trường Sa
Tên gọi thiết tha
Trong lòng dân Việt
Bao nhiêu đời qua
Tàu ai đi qua
Thuyền ai đi lại
Nước Việt mãi gọi
Hoàng Sa, Trường Sa!
Nu na nu nống
Nu nống nu na
Nu na nu nống
Hoàng Sa, Trường Sa.

Những hạt rau ngày ấy em gửi ra
Đã lên xanh màu rau dền rau cải
Hoa muống biển từ đất liền xa ngái
Nở tím hồng trên mỗi lối em qua

Cây bàng vuông toả bóng trước hiên nhà
Hoa nở như pháo hoa, trái vuông như đèn chũm
Em có biết cây đã thành biểu tượng
Người lính đảo kiên cường giữa bão táp phong ba

Trước mắt em những ghềnh đá san hô
Ươm cầu vồng bảy sắc
Những đảo đá nổi chìm theo con nước
Những nhà giàn và những dãy nhà chung

Cột mốc chủ quyền sừng sững vươn lên
Trong bão táp sáng màu cờ Tổ quốc
Những ổ súng hướng về nơi có giặc
Những nụ cười lấm cát mãi thanh xuân…

Suốt ngày đêm nghe tiếng biển ì ầm
Tiếng biển vui
tiếng biển buồn
tiếng biển khóc
tiếng biển gào căm uất…
Tiếng yêu thương quanh đảo mãi vỗ về.

Rồi một ngày em thấy đảo là quê
Là máu thịt của chúng mình gắn bó
Mỗi hạt cát nặng tình người muôn thuở
Viên sỏi màu ngũ sắc tuổi thơ ta…

Và em hiểu: biển nơi này mặn lắm
Những cuộc đời máu thắm nở thành hoa

Trên đây, uct.edu.vn đã dành tặng cho quý độc giả những bài thơ trong tập Biển Mặn của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo. Bài thơ thể hiện chủ quyền biên giới biển đảo của nước ta, ca ngợi tình đồng chí của những người lính biển miệt mài bảo vệ tổ quốc. Cảm ơn các bạn đã luôn theo dõi và đồng hành cùng chúng tôi!