Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu và tập Ngư tiều y thuật vấn đáp phần 2



Bên cạnh phần nguyên tác của Nguyễn Đình Chiểu, Ngư tiều y thuật vấn đáp còn trích dẫn nhiều bài thơ, phú… chữ Hán từ sách Đông y của Trung Quốc. Và đây chắc chắn là nguồn tài liệu bổ ích dành cho các bạn đọc. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu các hồi trong truyện thơ dài của Nguyễn Đình Chiểu này bạn nhé!

Hồi 04

Ngư rằng: Kinh lạc nhiều đàng,
Người đau nhiều chứng, biết toan lẽ nào?
Dẫn rằng: Chớ hỏi thầy cao,
bệnh nào thuốc nấy đem vào đường kinh.

Tiều rằng: Xin hỏi tiên sinh,
lệ trong năm tạng, ghi hình trạng sao?
Dẫn rằng: Tổ có lời rao:
Tạng can thuộc mộc, cây rào mùa xuân.
Sắc xanh, con mắt là chừng,

Hoa ra giáp móng, dày gân buộc lèo.
Giấu hồn, đựng máu, tiếng kêu,
Vị toan, nước mắt, mạch nêu chữ Huyền.
Quyết âm kinh túc ấy truyền,
Hợp cùng phủ đảm, ngôi liền ngoài trong.

Tạng tâm thuộc hoả, mạch Hồng,
Mùa hè, sắc đỏ, chừng trong lưỡi này.
Giấu thần, nuôi máu, ở đây,
Đắng mùi, tiếng nói, nước vầy buồn hôi.
Thiếu âm kinh thủ phải rồi,

Hợp cùng ngoại phủ, rằng ngôi tiểu trường.
Tạng tỳ thuộc thổ sắc vàng,
Vượng theo tứ quý, đều tàng ý vui.
Miệng chừng, nước dãi, ngọt mùi,
Tiếng ca, mạch Hoãn, hay nuôi thịt hình.

Thái âm kinh túc đã đành,
Hợp cùng phủ vị, ngôi giành trung châu.
Tạng phế thuộc kim, mạch Phù,
Vị cay, sắc trắng, mùa thu, phách ròng.
Giấu hơi, nuôi khắp da, lông,

Mùi chừng, tiếng khóc, nước trong mũi thường.
Thái âm kinh thủ cho tường,
Hợp cùng ngoại phủ đại trường ấy thông.
Tạng thận thuộc thuỷ, mùa đông,
Sắc đen vị mặn, chi dùng nuôi xương,

Tiếng rên, nước nhỏ hôi ươn,
Hai tai chừng đó, giữ phương mạch Trầm.
Phần về kinh Túc Thiếu âm,
Hợp bàng quang phủ, gìn cầm hoá nguyên.
Tiều rằng: Nam tạng đã biên,

Kìa như sáu phủ, xin liền nói ra.
Dẫn rằng: Cái mật người ta,
Tượng theo xuân mộc, kinh là thiếu dương.
Đảm ngoài làm phủ cho can,
Tóm vào muôn mối, việc toan lo lường.

Mấy chiều ruột nhỏ tiểu trường,
Tượng theo hạ hoả, thái dương kinh cầm.
Ở ngoài làm phủ cho tâm,
Nước trôi đem xuống đặng dầm nguồn sinh.
Vị là kinh Túc Dương minh,

Đựng theo đất chứa, việc mình uống ăn,
Bao nhiêu nước, xác chứa ngăn,
Phát ra các chỗ, chịu bằng quan ty.
Ở ngoài làm phủ cho tỳ,
Cái bao tử ấy thật ghi công dày.

Đại trường ruột lớn liền đây,
Dương minh kinh thủ, tượng vầy thu câm (kim).
Ngôi theo nhờ phế hơi cầm,
Vật ăn bã xác xuống hầm phẩn ra,
Bàng quang thật bọng đái ta,

Tượng theo đông thuỷ, kinh là thái dương.
Ngôi theo ngoài chốn thận hương,
Hoá hơi nước xuống, làm đường niệu tân.
Tam tiêu phủ ấy ba tầng,
Kiêm trên, giữa, dưới, gọi rằng tam tiêu.

Trên thâu ăn uống, nạp nhiều,
Giữa chia trong đục, dưới điều gạn ra.
Làm đường nước xác trải qua,
Nhờ ba hơi ấy tiêu hoà máu, hơi.
Trước sau bủa khắp ba hơi,

Thiếu dương kinh thủ thật nơi dinh người.
Tiều rằng: Kinh lạc mười hai,
Tạng phủ mười một biết hài thế sao?
Dẫn rằng: Trước có lời rao:
Quyết âm kinh thủ, tâm bào lạc nêu.

Tâm bào cùng phủ tam tiêu,
Trong ngoài hai ấy chia đều âm, dương.
Muốn làm thầy đặng chữ “lương”,
Bệnh trong tạng phủ phải lường thực hư.
Rồi đây hỏi lại Nhân Sư,

Xin phân chứng thực, chứng hư cho rành.
Ngư rằng: Kìa bến Ngũ Hành,
Chia ra nẻo khắc, nẻo sinh làm gì?
Dẫn rằng: Trên, dưới hai nghi,
Có năm hành ấy, hoa ky (cơ) xây vần.

Mộc, kim, thuỷ, hoả, thổ phân,
Sinh: phần ấy tốt, khắc: phần ấy hư.
Muốn cho rõ lẽ nên hư,
Coi lời sinh khắc tổ sư ca rằng:

Ngũ hành tương sinh ca
(Bài ca về ngũ hành tương sinh)
Dịch nghĩa:
Mộc sinh hoả chừ, hoả sinh thổ,
Thổ sinh kim chừ, kim sinh thuỷ,
Thuỷ sinh mộc chừ, năm mối sinh,
Trong khoảng trời đất đều tốt lành.

Ngũ hành tương khắc ca
(bài ca về ngũ hành tương khắc)
Dịch nghĩa:
Mộc khắc thổ chừ, thổ khắc thuỷ,
Thuỷ khắc hoả chừ, hoả khắc kim,
Kim khắc mộc chừ, năm mối khắc,
Trong khoảng trời đất thảy tai ương.

Hồi 05

Ai mà rõ lẽ ngũ hành,

Việc trong trời đất dữ lành trước hay.
Trên thời mưa móc, gió mây,
Dưới thời non nước, cỏ cây muôn loài.
Giữa thời nhà cửa, đền đài,
Năm hành tóm việc ba tài nhỏ to.

Ví dù tạo hoá mấy lò,
Hoá công mấy thợ, một pho ngũ hành.
Muốn coi phép ấy cho tinh,
Đồ thư Hà Lạc, Dịch kinh rõ bàn.
Ngư rằng: Nơi ải Thiên Can,

Có non Ngũ Vận để toan việc gì?
Chưa hay chủ vận là chi?
Lại thêm khách vận, sách ghi rộn ràng?
Dẫn rằng: Mười chữ thiên can,
Anh em thứ lớp, rõ ràng chẳng sai.

Anh em một gái, một trai,
Âm dương chia khác, lâu đài năm phương,
Giáp, Ất: mộc, ở đông phương,
Bính, Đinh: hoả, ở nam phương tỏ tường.
Mậu, Kỷ: thổ, ở trung ương,

Canh, Tân: kim, ở tây phương ấy thường.
Nhâm, Quý: thuỷ, ở bắc phương,
Đều rằng chủ vận, sử đương việc trời.
Năm ngôi chủ vận chẳng dời,
Ngôi nào theo nấy, có lời thơ xưa.

Chủ vận thi
(Bài thơ về chủ vận)
Dịch nghĩa:
Mộc vận bắt đầu từ tiết Đại hàn;
Hoả vận bắt đầu từ ba ngày trước tiết Thanh minh;
Thổ vận bắt đầu từ ba ngày sau tiết Mang chủng;
Kim vận bắt đầu từ sáu ngày sau tiết Lập thu;
Thuỷ vận bắt đầu từ chín ngày sau tiết Lập đông;
Hết vòng rồi trở lại từ đầu, muôn năm vẫn như vậy.

Năm nhà đều có túc duyên,
Vợ chồng phối hợp, tách miền theo nhau.
Anh Giáp, chị Kỷ cưới nhau,
Hoá ra vận thổ, trước sau chẳng lầm.
Ất, Canh hợp lại hoá câm,

Đinh, Nhâm hợp lại hoá trầm mộc cây.
Bính, Tân hoà thuỷ nước đầy,
Anh Mồ, chị Quý hoá vầy hoả quang.
Muốn coi năm hoá tạo đoan.
Gọi rằng khách vận, này chàng nghe thơ.

Khách vận thi
(Bài thơ về khách vận)
Dịch nghĩa:
Giáp Kỷ hoá ra thổ, Ất Canh hoá ra Kim,
Đinh Nhâm hoá ra mộc, tất cả thành rừng,
Bính tân hoá ra thuỷ, chảy đi cuồn cuộn,
Mậu Quý hoá ra hoả, bốc lên thành ngọn lửa ở phương Nam.

Hồi 06

Kể từ năm ấy hoá ra,
Làm năm vận khách xây mà theo niên.
Trọn mười hai tháng một niên,
Noi theo khách vận, thay phiên đi liền.
Giả như Giáp, Kỷ chi niên,

Hoá ra hành thổ, thật truyền vận sơ.
Thổ sinh kim ấy vận nhi,
Kim sinh thuỷ ấy, lại trì vận ba.
Thuỷ sinh mộc, vận thứ tư,
Mộc sinh hoả vận, luận từ năm nay.

Mỗi vận bảy mươi hai ngày,
Lại dư năm khắc, cứ vầy tính qua.
Lấy năm Giáp, Kỷ suy ra,
Bao nhiêu năm nữa đều là như đây.
Lại xem vận khách đổi xây,

Thái quá bất cập, lẽ này cho minh.
Năm Giáp, Bính, Mậu, Nhâm, Canh,
Thật năm thái quá, đã đành dương phân.
Năm Đinh, Ất, Kỷ, Quý, Tân,
Thật năm bất cập, về phần âm can,

Thái quá trước tiết Đại hàn,
Mười ba ngày chẵn, giao bàn tiên thiên.
Bất cập sau tiết Đại hàn,
Mười ba ngày chẵn giao bàn hậu thiên.
Cho hay trời có hậu, tiên,

Mười can trên dưới, liền liền xây đi.
Ngư rằng: Kìa ải Địa Chi,
Có non Lục Khí, đường đi lộn nhầu.
Chưa hay chủ khí ở đâu,
Lại thêm khách khí, để âu việc gì?

Dẫn rằng:Trong ải Địa Chi,
Có mười hai chữ, thứ đi xây vần.
Dần, Mão thuộc mộc, mùa xuân,
Tỵ, Ngọ thuộc hoả, ở chưng mùa hè.
Mùa thu Thân, Dậu, kim khoe,

Mùa đông Hợi, Tý, nước be dũng tuyền.
Thìn, Tuất, Sửu, Mùi: đất liền,
Vượng theo tứ quý, chở chuyên bốn mùa.
Vậy nên sáu khí ấn bùa,
Khí phong thứ nhất, thổi lùa gió xuân,

Thứ hai, khí hoả lửa phừng,
Thứ ba, khí thử nóng hừng viêm oai,
Thứ tư, khí thấp ướt bày,
Thứ năm, khí táo ráo bay hơi nồng,
Thứ sáu là khí hàn chung,

Sắp ra thứ lớp, giữ trong bốn mùa.
Kêu rằng chủ khí bốn mùa,
Có bài thơ cổ, để tua thuộc lòng.

Chủ khí thi
(Bài thơ về chủ khí)
Dịch nghĩa:
Khí đầu tiên là khí Quyết âm (phong mộc) bắt đầu từ tiết Đại hàn.
Khí thứ hai là khí quân hoả, bắt đầu từ tiết Xuân phân.
Khí thứ ba là là khí Thiếu dương (tướng hoả), bắt đầu từ tiết Tiểu mãn.
Khí thứ tư là khí thái âm (thấp thổ), bắt đầu từ tiết Đại thử.
Khí thứ năm là khí Dương minh (táo kim), bắt đầu từ tiết Thu phân.
Khí thứ sáu là khí Thái dương (hàn thuỷ), bắt đầu từ tiết Tiểu tuyết.

Hồi 07

Sáu hơi chủ khí chẳng dời,
Năm nào theo nấy, tại trời ở an.Mỗi năm từ tiết Đại hàn,
Chính trong ngày ấy giao sang khí đầu.
Hơi bình chẳng trước, chẳng sau,
“Tề thiên” hai chữ, sách Tàu rõ biên.
Kêu rằng “binh khí chi niên”,

Cho hay hơi chủ, chính chuyên giữ phòng.
Kể từ sáu cặp đối xung,
Định ngôi khách khí, xây dòng chia ra.
Tý đối với Ngọ một toà,
Làm ngôi quân hoả, ở nhà Thiếu âm.

Sửu, Mùi cặp đối Thái âm.
Làm ngôi thấp thổ, thấm dầm năm phương.
Dần, Thân cặp đối Thiếu dương,
Làm ngôi tướng hoả, sử đương việc mình.
Mão, Dậu cặp đối Dương minh,

Làm ngôi hàn thuỷ, băng sương trầm trầm.
Tỵ, Hợi cặp đối Quyết âm,
Làm ngôi phong mộc, rầm rầm gió cây.

Sáu ngôi khách khí đổi xây,
Giữ trời giữ đất, từ đây chia miền,
Giả như Tý, Ngọ chi niên.
Thật ngôi quân hoả, việc chuyên giữ trời,
Lấy hai năm ấy làm lời,

Còn mười năm nữa, cũng dời như nhau.

Khách khí thi
(Bài thơ về khách khí)
Dịch nghĩa:
Năm Tý, năm Ngọ, khí Thiếu âm quân hoả giữ trời,
Còn khí Dương minh táo kim giữ đất.
Năm Sửu, năm mùi, khí Thái âm thấp thổ giữ trời,
Còn khí Thái dương hàn thuỷ giữ đất, mưa liên miên.
Năm Dần, năm Thân, khí Thiếu dương tướng hoả giữ trời,
Còn khí Quyết âm phong mộc truyền ở trong đất
Năm Mão, năm Dậu thì ngược lại với năm Tý, năm Ngọ,
Các năm Thìn, Tuất, Tỵ, Hợi, cũng vậy.
(Thìn Tuất ngược lại với Sửu Mùi; Tỵ Hợi ngược lại với Dần Thân).

Cho hay quân hoả giữ trời,
Táo kim giữ đất, hai nơi cầm quyền.
Một khí ở trên tư thiên,
Hai khí tả hữu xen liền theo bên…

Một khí ở dưới tư tuyền,
Hai khí tả hữu xen liền theo bên.
Trên dưới sáu khí chia miền,
Mặt nam, mặt bắc, cầm quyền một niên.
Giả như Tý, Ngọ chi niên.

Đất xen bên tả, làm truyền khí sơ,
Trời xen bên hữu, khí nhì,
Tư thiên, ngôi chính, ấy thì khí ba,
Trời xen bên tả, tư ra,
Đất xen bên hữu thật là khí năm,

Tư tuyền làm khí sáu chung,
Bốn mùa hơi khách thay dòng đổi xây.
Một khí là sáu mươi ngày,
Tám mươi bảy khắc nửa rày hữu cơ.
Ta nêu hơi khách đầu bờ,

Kìa lời yếu quyết xưa thờ rất vui.
Mỗi niên thoái lại hai ngôi,
Nhận làm làng khách, cứ xuôi đến liền.
Loại như ngôi Tý tư thiên,
Thoái về ngôi Tuất, ấy biên khí đầu.

Hai heo, ba chuột, bốn trâu,
Năm hùm, sáu thỏ, trọn xâu tư tuyền.
Lại như ngôi Mão tư thiên,
Thoái về ngôi Sửu, dấy truyền khí sơ.
Hai hùm, ba thỏ, bốn rồng,

Năm rắn, sáu ngựa, trọn công tư tuyền.
Lấy hai năm ấy lệ biên,
Bao nhiêu năm nữa, cũng truyền có phiên.
Như năm thấp thổ tư thiên,
Thời ngôi hàn thuỷ tư tuyền, là phiên,

Như năm hàn thuỷ tư thiên,
Thời ngôi thấp thổ tư tuyền, đôi phiên,
Như năm tướng hoả tư thiên,
Thời ngôi phong mộc tư tuyền, đến phiên,
Như năm phong mộc tư thiên,

Thời ngôi tướng hoả tư tuyền trọn niên.
Lại coi khách khí dưới trên,
Chính hoá, đối hoá, hai bên chẳng đồng.
Sáu năm chính hoá gốc trồng,
Ngựa, dê, gà, cọp, heo, rồng lung tung,

Sáu năm đối hoá ngọn duồng,
Chuột, trâu, khỉ, thỏ, rắn, muông đua giành.
Chính hoá theo gốc, số sinh,
Đối hoá theo ngọn, số thành, thực, hư.
Cho hay chữ “thực”, chữ “hư”,

Rằng “tiêu”, rằng “bản” đều từ ấy ra.
Sau rồi dở sách y tra,
Tiềm tâm mới thấy lời ta tỏ bày.
Tiều rằng: Trời đất máy xây,
Năm vận, sáu khí, nghe nay tỏ tường.

Còn e khách, chủ hai đường,
Theo niên chộn rộn, khó toan rẽ ròi.
Dẫn rằng: Vận lấy vận coi,
Khí theo khí xét, có mòi sách biên.
Giả như Giáp tý chi niên,

Khách vận, khách khí, chia quyền một năm.
Giáp làm thổ vận mối cầm,
Tý làm quân hoả, khí thầm xây đi.
Khách gia trên chủ, chẳng vì,
Chủ lòn dưới khách, hoá khi ngưng tà.

Thời trời bởi ấy chẳng hoà,
Trái theo hơn thiệt, mới ra bất tề.
Mùa xuân hơi ấm chẳng về,
Lại thêm hơi gió thê thê, ớn mình.
Mùa hè hơi nóng chẳng lành,

Khí âm núp ở, nóng giành ngôi dương.
Mùa thu chẳng trọn khí lương,
Dầm dề mưa khổ, đi đường kêu than.
Mùa đông chẳng vẹn khí hàn,
Xen hơi nóng rực, giá tan keo hình.

Phong hơn thời đất rêm mình,
Hoả hơn thời đất quánh hình sượng câm,
Thử hơn thời đất nóng hầm,
Thấp hơn thời đất ướt dầm bùn ô,
Táo hơn thời đất ráo khô,

Hàn hơn thời đất nứt mô, lở về.
Nhớ câu: “khí hậu bất tề”,
Nhiều hơi độc ác, đổ về dân đau.
Cho hay chủ khách sinh nhau,
Gọi rằng “tương đắc”, trước sau hoà lành.

Chỉn e khách khí khắc giành,
Rằng “không tương đắc”, mới sinh bệnh tà.
Ngũ hành con soán ngôi cha,
Gọi rằng “bất đáng” mới ra lẽ ngầy.
Tiều rằng: Khí vận biến vầy,

Mấy năm thuận, nghịch, xin thầy chia riêng.
Dẫn rằng: Y họcrõ biên,
Năm nào vận khắc tư thiên, nghịch tầm,
Tư thiên sinh vận, thuận tầm,
Vận đồng với khí, rằng năm thiên phù.

Sáu mươi năm giáp một chu,
Mười hai năm gọi thiên phù rõ phân.
Loại như Mậu tý, Mậu dần,
Mậu thân, Mậu ngọ, Bính Thần, Tuất chi.
Cùng năm Kỷ sửu, Kỷ vi,

Mão Dậu hai Ất; Hợi, Tỳ hai Đinh,
Cho hay vận khí đồng tình,
Mười hai năm ấy thật danh thiên phù.
Vận lên ngôi khí ở sau,
Gọi rằng tuế hội, đếm đầu tám chi.

Loại như Kỷ sửu, Kỷ vì,
Giáp thìn, Giáp tuất, thổ vi thổ làm.
Đinh mão mộc, Ất dậu câm (kim),
Bính tý, Mậu ngọ, nước ngâm lửa dầu.
Thiên phù, tuế hội hợp nhau,

Gọi rằng thái ất thiên phù, bốn chi.
Loại như Kỷ sửu, Kỷ vi,
Ất dậu, Mậu ngọ, hơi đi một bờ.
Lấy năm coi tháng, ngày, giờ,
Tháng, ngày, giờ cũng có cờ tư thiên.

Giả như Mậu ngọ ngày kiên (kiến),
Vận đồng với khí, là duyên thiên phù.
Cho hay tuế hội, thiên phù,
Gặp ngày năm ấy, bệnh đau khó lành.
Ta nay ước nói việc Kinh,

Máy trời lắm chỗ gập ghềnh sâu xa.
Mười hai năm gọi bất hoà,
Bởi vận khắc khí, mới ra bất bình.
Mười hai năm gọi thiên hình,
Bởi khí khắc vận, đua giành tai nguy.

Vận mà sinh khí, lỗi nghi,
Gọi rằng tiểu nghịch thị phi nhộn nhàng.
Khí mà sinh vận thời an,
Gọi rằng thuận hoá, muôn ngàn cõi vui.
Nhiệm mầu chẳng những vậy thôi,

Can chi còn có hai ngôi đức phù.
Lại đồng tuế hội, thiên phù.
Vận đi suy tỵ phải âu xét bàn.
Nội kinhcâu chữ rõ ràng:
“Cang hại, thừa chế”, khuyên chàng gắng coi.

Hữu dư, bất túc rẽ ròi,
Xuất, nhập, thăng, giáng, hẳn hòi chẳng ngoa.
Mỗi năm trước vẽ đồ ra,
Xét so vận khí chính, tà thời hay.
Như vầy mới phải gọi thầy,

Giúp công hoá dục, nuôi bầy dân đen.
E người học đạo chẳng chuyên,
Vào tai ra miệng, luống phiền lòng ta.
Tiều rằng: Kinh nghĩa kín, xa,
Một câu “cang hại…” nghe qua chưa tường.

Dẫn rằng: Đây gặp giữa đường,
Nói phô kinh sách, mang trương khó lòng.
Muốn cho biết lẽ tinh thông,
Lần vào cửa đạo, hỏi ông Đan Kỳ.
Học cho thấy chỗ u vi,

Phép mầu ý nhiệm, rộng suy giúp đời.
Ngư rằng: Xin dạy cạn lời,
Trong rừng Bản thảo nhiều nơi chưa tường.
Kìa mười hai bộ đan phương,
Mấy mùi, mấy tính, mở đường từ ai?

Dẫn rằng: Bản thảo nhiều loài,
Kể ra cho hết chuyện này vả lâu.
Một bộ kim thạch ở đầu,
Trăm ba mươi tám giống sưu đá vàng.
Một bộ thảo thượng giàu sang,

Chín mươi lăm giống, rõ ràng hột hoa.
Một bộ thảo trung nối ra,
Chín mươi bảy giống gốc, chà, lá cây.
Một bộ thảo hạ rộng xây,
Trăm hai muwoi có ba loài củ căn.

Một bộ mộc thụ giăng giăng,
Một trăm sáu chục bảy, rằng giống cây.
Một bộ nhân ấy thuốc vầy,
Có hai chục vị đủ xây cho dùng.
Một bộ thú vật thuốc sung,

Chín mươi mốt giống mật, lòng, da, xương.
Một bộ cầm điểu thuốc thường,
Ba mươi bốn giống, đều đường cánh lông.
Một bộ trùng ngư thuốc chung,
Chín mươi chín giống, non sông khắp vời.

Một bộ mễ cốc nuôi đời,
Ba mươi tám giống, nơi nơi vun trồng.
Một bộ quả phẩm thanh phong,
Có bốn mươi giống trái nồng hơi hương.
Một bộ sơ thái khắp phương,

Sáu mươi hai giống, lá vườn thơm thơ.
Cộng mười hai bộ toán cho,
Một nghìn bốn vị, đều lò hoá công
Từ xưa có họ Thần Nông,
Thay trời trị vật, tấm lòng yêu dân.

Trải đi nếm vị khổ tân,
Một ngày hơn bảy mươi lần trúng thương.
Thử rồi muôn vật âm dương,
Dọn làm Bản thảo để phương cứu đời.
Thuốc tuy nhiều vị, khác hơi,

Chẳng qua sáu tính, ở nơi năm mùi.
Năm mùi dưới đất nên hình,
Trên trời cho tính, rộng vinh theo mùa,
Đắng, cay, ngọt, lạt, mặn, chua,
Năm mùi hơi giúp, khá tua chia bàn.

Cay thời hay nhóm hay tan,
Chua hay thâu góp, mặn ăn nhuyễn bền.
Đắng thời hay dội nóng lên,
Ngọt hay lơi chậm, lạt nên lọc lường.
Vị cay, ngọt, lạt thuộc dương,

Vị chua, đắng mặn tỏ tường thuộc âm.
Có vị dương ở trong âm,
Âm trong dương, ấy máy cầm nhiệm thay,
Khác nhau hơi mỏng, hơi dày,
Hơi trong, hơi đục, chỗ thay chẳng đồng.

Trọn gìn sáu tính linh thông,
Gọi rằng “thăng, giáng” ấy cùng “ôn, lương”,
Bổ hư, tả thực mọi giường,
Cho hay tính thuốc nhiều đường sâu xa.
Xưa chia năm vị ấy ra,

Làm binh sáu cửa, ngăn tà sáu dâm.
Phong mòn cày gió ầm ầm.
Có mùi cay mát giữ cầm nửa phong.
Lửa hừng cửa nhiệt nóng hung.
Có mùi mặn lạnh, chỗ phòng nhiệt môn.

Đất trong cửa thấp ướt dồn,
Có mùi cay nóng giữ dồn thấp quan.
Vàng nằm cửa táo khô khan,
Có mùi đắng ấm giữ đàng táo hương.
Nước là cửa lạnh băng sương,

Có mùi cay nóng giữ đường hàn môn.
Lại thêm sang độc một môn,
Nhóm mùi thuốc ghẻ, đóng dồn ngoại khoa.
Phải coi năm vị ấy ra,
Gọi là uý ố, gọi là phản nhau.

Có mười tám vị phản nhau,
Lại mười chín vị uý nhau chẳng hiền.
Sách y xưa có lời biên,
Phản cùng uý ố nhà truyền lời ca.

Thập bát phản ca
(Bài ca về mười tám vị thuốc trái nhau)
Dịch nghĩa:
Bản thảonói rõ mười tám vị thuốc trái nhau:
Bán hạ, Qua lâu, Bối mẫu, Bạch liễm, Bạch cập đều trái với Ô đầu.
Hải tảo, Đại kích, Cam toại, Nguyên hoa đều trái với Cam thảo.
Các loại sâm (Nhân sâm, Huyền sâm, Đan sâm, Khổ sâm…), Tế tân, Bạch thược đều trái với Lê lô.

Thập cửu uý ca
(Bài ca về mười chín vị thuốc sợ nhau)
Dịch nghĩa:
Lư hoàng vốn là tinh tuý của lửa,
Một khi gặp Phác tiêu liền tranh nhau.
Thuỷ ngân chớ để gặp Tỳ sương.
Lang độc rất sợ Mật đà tăng.

Ba đậu là vị tính dữ nhất,
Riêng không thuận tình cùng Khiên ngưu,
Đinh hương chớ để gặp Uất kim.
Nha tiêu khó hợp cùng Kinh tam lăng.
Xuyên ô, Thảo ô không thuận với tê giác.
Nhân sâm rất sợ Ngũ linh chi.
Quan quế điều hoà khí lạnh rất hay,
Nhưng nếu gặp Thạch chi sẽ mất công hiệu.

Phàm chế thuốc phải xem tính thuận nghịch của các vị.
Nếu nghịch thì bào chế đừng để lẫn với nhau.

Trên đây là các hồi tiếp theo trong tuyển tập Nguyễn Đình Chiểu trong Ngư tiều y thuật vấn đáp. Đây là con đường mà một số người tâm huyết đã chọn khi họ không muốn khuất phục trước chế độ. Đó cũng chính là cách cứu nước, cứu dân. Và đã được Nguyễn Đình Chiểu thể hiện rất sinh động.

so1vn - Tags: