Nguyễn Đình Chiểu sinh năm 1822 và mất năm 1888, ông tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ. Và sau khi ông mù đã lấy hiệu là Hối Trai. Quê ở làng Tân Khánh, tổng Bình Trị thượng, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định. Và ông mất ở làng An Đức, tổn Bảo An, quận Ba Trị, tỉnh Bến Tre. Dưới đây là những bài thơ hay của Nguyễn Đình Chiểu mà chúng tôi đã chọn lọc và muốn chia sẻ với bạn.

Chạnh tưởng Khổng Tử

Biết ơn phụ tử nghĩa quân thần,
Nhờ có trời sinh đức thánh nhân.
Nét mực tu kinh ngăn đứa loạn
Dấu xe hành đạo rạch trong trần.
Trong đời còn cám lời than phụng,
Muôn thuở đều thương tiếng khóc lân.
Phải đặng bút Châu biên sách Hán,
Mọi nào dám tới cạo đần dân.

Chạy giặc

Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây,
Một bàn cờ thế phút sa tay.
Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy,
Mất ổ bầy chim dáo dác bay.
Bến Nghé của tiền tan bọt nước,
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây.
Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng,
Nỡ để dân đen mắc nạn này?

Chúng tử tế mẫu văn

Hỡi ôi!
Dấu hạc xa miền;
Tiếng quyên não tức.

Sách nói hoa phút bay thời nước cũng chảy, đổi dời theo phận, máy trời đất khéo xoay;
Ai rằng cây muốn lặng mà gió chẳng đừng, ngơ ngác nỗi mình, tình mẹ con vội đứt.

Nhớ linh xưa:
Trọn đạo tam tòng;
Giữ phần tứ đức.

Ở ruộng nương theo nghề ruộng, dư lúa dư tiền;
Lấy chồng lo việc nhà chồng, hết lòng hết sức.

Khi tuổi trẻ cười cay nói đắng, mấy lần sinh sản, đám dây dưa rậm rạp trước sân;
Lối mình già đứt thúng vỡ chình, chút phận quả sương, chiếu thuyền bách linh đình giữa vực.

Ngàn muôn việc nhọc nhằn đã lắm nỗi, nhắm bề ăn ở ước ngỡ lâu còn;
Bẩy mươi năm sung sướng đã mấy hồi, coi chứng bịnh đau ai dè vội mất.

Hốt thuốc thương hàm hay lắm, thầy Hương có thầy ba cũng có, trên giường thiếp thiếp, lẽ hơn thua chưa trối lại vài lời;
Nghe tin báo bổ trông hoài, con trai xa con gái cũng xa, hơi thở chừng chừng, lòng thương nhớ thẩy đều trong một giấc.

Những tưởng mất cha còn mẹ, lúc nghiêng nghèo cho trẻ đặng nhở hơi;
Há đành bỏ cháu giã con đi, cơn ly loạn sao già đành nhắm mắt.

Nào thủa trước miệng nhai cơm, lưỡi lừa cá chắt chiu bé lớn, đều nuôi cho nên vóc nên vai;
Đến bây giờ đầu đội vải, lưng vấn rơm, kêu khóc trong ngoài, biết đâu đặng thấy mày thấy mặt.

Cám là cám ba năm bồng ẵm, công so bốn bể chứa đầy;
Thương là thương mười tháng cưu mang, ơn vì năm non đè chặt. Nghĩ lại:

Nhau rún còn chôn làng Long Đức, Mẹ về đâu mà lá cỏ ngọn cây rầu rầu;
Xương thịt đành gửi đất Thanh Ba mẹ về đâu mà tiếng gió tiếng trăng vặc vặc.

Cậu còn đó, dì còn đó, bà con bên ngoại đều còn đó, mẹ đi đâu mà nhà sau cửa trước quạnh hiu;
Chú ở đây, cô ở đây, họ hàng bên nội cũng ở đây, mẹ đi đâu mà chiếu trải giường thờ lạnh ngắt.

Cháu nội có, cháu ngoại có, bầy chát cũng có, hết trông bà miếng ngon miếng ngọt dành cho;
Dâu lớn kia, dâu nhỏ kia, mấy rể còn kia, hết trông mẹ bề dại bề khôn vẻ nhắc.

Muốn tron thảo dâng cơm dâng nước, ôi mẹ ôi rày còn chi nữa của sắm mà nuôi;
Những trông khi nương cửa nương nhà, ý cha chả nói tới chừng nào ruột đau như cắt.

Đội mũ mẫn than thân là gái, lấy chi đền chín chữ cù lao;
Chống gậy vông tủi phận là trai, lấy chi trả một câu võng cực.

Đã biết không trở lại, âm dương hai ngả, mẹ lìa con vọi vọi chín tầng trời;
Phần thương mất cũng như còn, hiếu kính một lòng, con xa mẹ sùn sùn ba thước đất.

Sống gặp nhà nghèo;
Thác nhằm buổi giặc.

Mơ màng phách quế lúc năm canh;
Thấp thoáng hồn hoa cơn sáu khắc.

Từ đây rồi phận trai đứa theo làng đứa theo lính, bơ vơ non Dĩ sương tản khói tan;
Từ rồi đây phận gái đứa theo chồng đứa theo con, vắng vẻ nhà huyên đèn lờ hương tắt.

Ba câu điện tửu, gọi là bầy nghĩa báo thân;
Một tiệp sơ ngu, ngõ đặng nhờ ơn âm chất.

Hỡi ôi thương thay!
Có linh xin hưởng!

Con dê

Ngọn roi Tô Vũ dấu vừa qua,
Dê của ai nuôi lại thả ra.
Bờ cõi mấy năm từng dọn dẹp,
Râu ria một lũ tới xông pha.
Nằm cao đầu chẳng kiêng thần miếu,
Ăn bậy sao không sợ chủ nhà.
Phải đặng lưỡi gươm người Hứa Chử,
Be be đâu dám giẫm vườn ta.

Đạo trời

Đạo trời nào phải ở đâu xa,
Gội tấm lòng người có giải ra.
Mến nghĩa bao đành làm phản nước,
Có nhân nào nỡ phụ tình nhà.
Xưa nay đều chọn đường trung hiếu,
Sách vở còn ghi lẽ chánh tà.
Năm phẩm rừng nhu săn sóc lấy,
Ấy là đạo vị ở mình ta.

Điếu Phan Công Tòng bài 01

Thương ôi! người ngọc ở Bình Đông
Lớn nhỏ trong làng thảy mến trông.
Biết đạo khác bầy con mắt tục
Dạy dân nắm giữ tấm lòng công.
Đặng danh vừa rạng bề nhà cửa,
Vì nghĩa riêng đền nợ núi sông.
Một trận trải gan trời đất thấy,
So xưa nào thẹn tiếng anh hùng.

Điếu Phan Công Tòng bài 02

Anh hùng thà thác chẳng đầu Tây
Một giấc sa trường phận cũng may.
Viên đạn nghịch thần treo trước mắt,
Lưỡi gươm địch khái nắm trong tay.
Đầu tang ba tháng trời riêng đội,
Lòng giận nghìn thu đất nổi dày.
Tiếc mới một sồng ra đặt trụm.
Cài xên, con rã, nghĩ thương thay!

Điếu Phan Công Tòng bài 03

Thương thay! Tạo vật khuấy người ta,
Năm đổi làm Tây, chính lại tà.
Trống nghĩa bảo an theo sấm rạp,
Cờ thù công tử guộng mây qua.
Én vào nhà khác toan nào kịp,
Hươu thác tay ai vọi hỡi xa!
Trong số nên hư từng trước mắt,
Người ôi! trời vậy tính sao ra.

Điếu Phan Công Tòng bài 04

Sao ra nhảy nhót giữa vòng danh,
Son đóng chưa khô ấn đốc binh.
Đuốc gió nhẹ xao đường thuỷ thạch,
Cỏ hoa ngùi đọng cửa trâm anh,
Trên giồng lửa cháy cờ tam sắc,
Dưới gảnh đèn lờ bản thất tinh.
Dẫu khiến nghe can vùng đất hiểm,
Chờ trời nào đến tủi vong linh

Điếu Phan Công Tòng bài 05

Vong linh sớm gặp buổi đời suy
Trăm nét cân đo ít lỗi nghì.
Bóng bọt hình hài vừa lố thấy,
Ngút mây phú quý bỗng tan đi.
Sinh năm mươi tuổi ăn chơi mấy,
Quan bảy tám ngày sướng ích chi.
E nỗi dạ đài quan lớn hỏi,
Cớ sao xếu mếu cỏi Ba Tri.

Điếu Phan Công Tòng bài 06

Ba Tri từ vắng tiếng hơi chàng,
Gió thảm mưa sầu khá xiết than.
Vường luống trông xuân hoa ủ dột,
Ruộng riêng buồn chủ lúa khô khan.
Bầy ma bất hạnh duồng làm nghiệt,
Lũ chó vô cô cũng mắc nàn.
Người ấy vì ai ra cớ ấy,
Chạnh lòng trăm họ khóc quan Phan.

Điếu Phan Công Tòng bài 07

Quan Phan thác trọn chữ trung thần,
Ôm tiếng như người cũng nghĩa dân.
Làng đế đành theo ông hữu đạo,
Cõi phàm hổ ngó lũ vô quân.
Lòng son xin có hai vần tạc,
Giồng Gạch thà không một tấm thân.
Ai khiến cuộc hoà ra cuộc chiến,
Người qua An Lái luống bâng khuâng.

Điếu Phan Công Tòng bài 08

Bâng khuâng ngày xế cả than trời,
Ai đổ cho người gánh nạn đời.
Nếm mật Cối Kê đâu chẳng giận,
Cắp dùi Bác Lãng há rằng chơi.
Một sòng cung kiếm rồi vay trả.
Sáu ải tang thương mặt đổi dời.
Thôi! mất cũng cam, còn cũng khổ,
Nay Kim mai Tống thẹn làm người.

Điếu Phan Công Tòng bài 09

Làm người trung nghĩa đáng bia son,
Đứng giữa càn khôn tiếng chẳng mòn.
Cơm áo đền bồi ơn đất nước,
Râu mày giữ vẹn phận tôi con.
Tinh thần hai chữ phao sương tuyết,
Khí phách nghìn thu rỡ núi non.
Gẫm chuyện ngựa Hồ chim Việt cũ,
Lòng đây tưởng đó mất như còn.

Điếu Phan Công Tòng bài 10

Như còn chẳng gọi thế rằng cô,
Cái chuyện hoa vi trước hoạ đồ.
Sở hỡi trót ghi cừu họ Ngũ,
Hán đâu khỏi trả hận thằng Nô.
Vàng tơ sử Mã giồi đường sứ,
Búa vớt kinh lân lấp dấu hồ.
Ngày khác xa thư về một mối,
Danh thơm ngươi tới cõi hoàng đô

Điếu Phan Thanh Giản

弔潘清僩
歷士三朝獨潔身,
非公誰傘一方民。
龍湖枉負書生老,
鳳閣空為學士臣。
秉節頻勞生富弼,
盡忠何恨死張巡。
有天六省存亡事,
難得從容就義神。

Điếu Phan Thanh Giản
Lịch sĩ tam triều độc khiết thân,
Phi công thuỳ tán nhất phương dân.
Long Hồ uổng phụ thư sinh lão,
Phụng Các không vi học sĩ thần.
Bỉnh tiết tần lao sinh Phú Bật,
Tận trung hà hận tử Trương Tuần.
Hữu thiên lục tỉnh tồn vong sự,
Nan đắc thung dung tựu nghĩa thần.

Dịch nghĩa
Làm quan trải ba triều vua, ông vẫn riêng mình giữ được tấm thân trong sạch,
Không có ông thì ai là người che chở cho cả một phương dân chúng.
Ở Long Hồ (nơi quê hương), ông đã uổng phụ cái chí làm người học trò già,
Nơi Phụng Các (chốn làm quan) ông đã làm một cách hão người bề tôi học sĩ.
Cầm cờ tiết đi sứ, nhiều phen vất vả, sống như Phú Bật,
Tận lòng trung, còn gì phải hận, chết như Trương Tuần.
Có trời phán xét chuyện mất sáu tỉnh mà ông đã gây nên,
Ông khó mà có thể thung dung thành vị thần tựu nghĩa được!

Điếu Trương Định bài 01

Trong Nam tên họ nổi như cồn,
Mấy trận Gò Công nức tiếng đồn.
Dấu đạn hỡi rêm tàu bạch quỷ,
Hơi gươm thêm rạng thể hoàng môn.
Ngọn cờ ứng nghĩa trời chưa bẻ,
Cái ấn bình tây đất vội chôn.
Nỡ khiến anh hùng rơi giọt luỵ,
Lâm dâm ba chữ điếu linh hồn.

Trên đây là những bài thơ hay của Nguyễn Đình Chiểu mà chúng tôi đã tổng hợp và muốn chia sẻ với bạn. Cả cuộc đời ông không chỉ được biết đến với phần truyện thơ Lục Vân Tiên mà còn có nhiều tác phẩm đặc sắc khác. Qua các sáng tác này bạn sẽ hiểu thêm về phong cách sáng tác cũng như tài năng của nhà thơ này. Đừng quên đón đọc những bài viết tiếp theo của chúng tôi để cùng cập nhật những bài thơ hay bạn nhé!