Nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm và tập Bạch Vân am thi tập Phần đầu



Nguyễn Bỉnh Khiêm có tập thơ Bạch Vân am thi tập vô cùng nổi tiếng và cũng là tập thơ làm nên thành công của ông. Đây là một tập thơ lớn của ông và được đánh giá rất xuất sắc. Theo đánh giá ban đầu nó có hơn 1000 bài tuy nhiên số thơ còn lưu giữ được chỉ có khoảng 600 bài. Ngoài ra một số bài văn bia, văn chuông, văn tế cũng được đưa vào tập thơ. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu các bài thơ hay nhất của tập thơ này bạn nhé!

Cảm hứng

感興
泰和宇宙不虞周,
互戰教爭笑兩讎。
川血山骸隨處有,
淵魚叢雀為誰驅。
重興已卜渡江馬,
後患應防入室貙,
世事到頭休說著,
醉吟澤畔任閒遊。

Cảm hứng
Thái hoà vũ trụ bất Ngu Chu,
Hỗ chiến giao tranh tiếu lưỡng thù.
Xuyên huyết sơn hài tuỳ xứ hữu,
Uyên ngư tùng tước vị thuỳ khu.
Trùng hưng dĩ bốc độ giang mã,
Hậu hoạn ưng phòng nhập thất khu,
Thế sự đáo đầu hưu thuyết trước,
Tuý ngâm trạch bạn nhậm nhàn du.

Cự ngao đới sơn

巨鰲戴山
碧浸仙山徹底清,
巨鰲戴得玉壺生。
到頭石有補天力,
著腳潮無卷地聲。
萬里東溟歸把握,
億年南極奠隆平。
我今欲展扶危力,
挽卻關河舊帝城。

Cự ngao đới sơn
Bích tẩm tiên sơn triệt để thanh,
Cự ngao đới đắc ngọc hồ sinh.
Đáo đầu thạch hữu bổ thiên lực,
Trước cước trào vô quyển địa thanh.
Vạn lý Đông minh quy bả ác,
Ức niên Nam cực điện long bình.
Ngã kim dục triển phù nguy lực,
Vãn khước quan hà cựu đế thành.

Dịch nghĩa
Nước biếc ngấm núi tiên trong đến đáy,
Như con ngao lớn đội được bầu ngọc mà sinh ra.
Ngoi đầu lên, đá có sức vá trời,
Đặt chân xuống, sóng không có tiếng cuốn đất.
Vạn dặm biển Đông quơ vào tay nắm,
Ức năm cõi Nam đặt vững cảnh trị bình.
Ta nay muốn thi thố sức phò nguy,
Cứu vãn lại quan hà, thành cũ của nhà vua.

Du Phổ Minh tự

遊普明寺
亂後重尋到普明,
園花野草舊巖扃。
碑文剝落和煙碧,
佛眼淒涼照夜清。
法界應同天廣大,
鄉人猶說地英靈。
寥寥古鼎今何在,
識得無形勝有形。

Du Phổ Minh tự
Loạn hậu trùng tầm đáo Phổ Minh,
Viên hoa dã thảo cựu nham quynh.
Bi văn bác lạc hoà yên bích,
Phật nhãn thê lương chiếu dạ thanh.
Pháp giới ưng đồng thiên quảng đại,
Hương nhân do thuyết địa anh linh.
Liêu liêu cổ đỉnh kim hà tại?
Thức đắc vô hình thắng hữu hình.

Dịch nghĩa
Sau khi loạn lạc lại tìm đến chùa Phổ Minh,
Vẫn hoa vườn cỏ nội với cửa đá cũ.
Văn bia mờ nhạt hoà trong làn khói biếc,
Mắt Phật lạnh lùng soi thấu đêm thanh.
Pháp giới phải ngang với tầm rộng lớn của trời,
Người làng vẫn nói đến sự anh linh của đất.
Vắng vẻ lặng lẽ, vạc xưa nay còn đâu?
Thế mới biết vô hình vẫn thắng hữu hình.

Dữ Cao Xá hữu nhân biệt hậu

與高舍友人別後
相逢亂後老相催,
繾綣離情酒數杯。
夜靜雲庵誰是伴,
一窗明月照寒梅。

Dữ Cao Xá hữu nhân biệt hậu
Tương phùng loạn hậu lão tương thôi,
Khiển quyển ly tình tửu sổ bôi.
Dạ tĩnh Vân Am thuỳ thị bạn,
Nhất song minh nguyệt chiếu hàn mai.

Dịch nghĩa
Sau lúc loạn ly gặp nhau thì đều đã già
Cùng nhau uống vài chén rượu để thắt chặt mối tình ly biệt
Đêm thanh vắng ở Am Mây biết lấy ai làm bạn
Chỉ vầng trăng sáng ngoài cửa sổ rọi bóng vào gốc mai lạnh

Hạ cảnh

Hạ cảnh
Nhật trường Tân quán tiểu song minh,
Phong nạp hà hương viễn ích thanh.
Vô hạn ngâm tình thuỳ hội đắc,
Tịch dương lâu thượng vãn thiền thanh.

Dịch nghĩa
Ngày dài ở quán Trung Tân cửa sổ nhỏ sáng sủa,
Gió đượm hương sen, càng xa càng mát.
Tình thơ vô hạn, ai là người hiểu được,
Chiều tà, trên lầu, tiếng ve muộn màng vang lên.

Hữu cảm kỳ 1

有感其一
逆賊猖狂犯帝京,
主懮臣辱重傷情。
徯蘇久鬱蒼生望,
吊伐誰興時雨兵。
四海依歸民戴舊,
九天招謁日重明。
古來仁者胥無敵,
何必區區事戰爭。

Hữu cảm kỳ 1
Nghịch tặc xương cuồng phạm đế kinh,
Chủ ưu thần nhục trọng thương tình.
Hề tô cửu uất thương sinh vọng,
Ðiếu phạt thuỳ hưng thời vũ binh.
Tứ hải y quy dân đới cựu,
Cửu thiên chiêu yết nhật trùng minh.
Cổ lai, nhân giả tư vô địch,
Hà tất khu khu sự chiến tranh.

Dịch nghĩa
Giặc giã hoành hành ngang ngược phạm cả vào kinh đô,
Chúa lo tôi nhục đáng thương tình xiết bao.
Chờ người đến cứu sống lòng mong đợi của dân chúng đến từ lâu,
Thương dân đánh kẻ có tội, ai dấy quân như trận mưa gặp thời.
Bốn biển theo về, nhân dân đội ơn đã lâu,
Trời cao nêu tỏ, vầng nhật lại sáng như xưa.
Từ xưa đến nay người có nhân không ai địch nổi,
Việc gì phải khư khư theo đuổi chiến tranh.

Hữu cảm kỳ 2

Hữu cảm kỳ 2
Lạc lạc can qua hận mãn tiền,
Nhân dân bồn thoáng dục cầu tiền.
Điên liên huề bạo ta vô địa,
Ái hộ căn liên hạnh hữu thiên.
Chỉ định vị văn quy mã nhật,
Khai minh cấp tưởng thuộc trư niên.
Nhất chu khí vận chung nhi thuỷ,
Bác, phục đô tòng thái cực tiên.

Khuê tình

Khuê tình
Ngâm lạc Tây phong trận trận xuy,
Thâm khuê nhi nữ độc miên thì.
Hốt văn hàn khí xâm liêm mạc,
Thuỷ giác nhân tình hữu biệt ly.
Khứ mộng bất từ sa tái viễn,
U hoài hoạt động cổ bề ti.
Vô đoan điểm trích giai tiền vũ,
Tự hữu u nhân ngữ dạ trì.

Dịch nghĩa
Tiếng ngâm buông xuống theo gió Tây thổi từng trận,
Ở chốn thâm khuê khi người thiếu phụ ngủ một mình.
Bỗng nghe hơi lạnh thấm vào rèm màn,
Mới biết tình người có nỗi biệt ly.
Mơ mộng ra đi, chẳng nề nơi quan ải sa trường diệu vợi,
U uất trong lòng dấy lên tiếng trống ở ngoài trận.
Bỗng đâu tí tách giọt mưa ở trước thềm,
Như có người mang niềm u uất thủ thỉ trong đêm dài.

Ngộ Trung nguyên xá tội

Ngộ Trung nguyên xá tội
Thiên địa na dung tội ác nhân
Thị hà xá tội hữu hương thần
Ngã kim dục trượng từ bi lực
Cửu đắc vô cô đồ thán nhân

Dịch nghĩa
Trời đất nào có dung tha kẻ ác
Thế thì tại sao lại có ngày lành tha tội
Ta nay muốn nhờ vào sức của lòng từ bi
Cứu bằng được những người vô tội lầm than

Ngụ hứng (Cận thuỷ mao trai sổ trúc chuyên)

寓興(近水茅齋數竹椽)
近水茅齋數竹椽,
閑中好伴白云眠。
過門行客不相識,
這裡誰知別有天。

Ngụ hứng (Cận thuỷ mao trai sổ trúc chuyên)
Cận thuỷ mao trai sổ trúc chuyên,
Nhàn trung hảo bạn bạch vân miên.
Quá môn hành khách bất tương thức,
Giá lý thuỳ tri biệt hữu thiên.

Ngụ hứng (Đột ngột môn tiền thập nhị phong)

寓興(突兀門前十二峰)
突兀門前十二峰,
煙花斂卻露秋容。
倚樓一望知山意,
時送青來千萬重。

Ngụ hứng (Đột ngột môn tiền thập nhị phong)
Đột ngột môn tiền thập nhị phong,
Yên hoa liễm khước lộ thu dung.
Ỷ lâu nhất vọng tri sơn ý,
Thời tống thanh lai thiên vạn trùng.

Dịch nghĩa
Cao cao trước cửa mười hai ngọn núi
Khói tan hoa rụng rõ vẻ mùa thu
Đứng tựa bên lầu xa trông biết được ý núi
Thường đưa màu xanh từ ngoài muôn nghìn dặm đến trước mắt

Ngụ hứng kỳ 1

Ngụ hứng kỳ 1
Bán y thôn thị bán nhân hương
Trung hữu tri viên nhất mẫu cường
Am quán trường nhàn xuân bất lão
Giang sơn nhập hoạ bút sinh hương
Thanh lưu tá hưởng cầm thanh nhuận
Cổ mộc lưu âm khách mộng lương
Thặng hý tư văn thiên vị táng
Chí kim hạnh đắc bộc thu dương

Dịch nghĩa
Nửa dựa vào chợ quê, nửa dựa vào xóm làng
Trong đó có vườn, có ao khoảng hơn một mẫu
Chốn am quán mãi mãi thư nhàn, mùa xuân không già
Non sông đưa vào tranh vẽ, ngòi bút sinh hương
Mượn tiếng vang của dòng sông làm cho tiếng đàn thêm nhuần
Giữ lại bóng cổ thụ để làm cho giấc ngủ trưa được mát mẻ
Rất mừng tư văn trời chưa làm nổi
Đến nay còn may được đem phơi trước ánh nắng mùa thu

Ngụ ý

寓意
名遂功成休矣休,
等閒世故一虛舟。
風來江館涼宜夏,
月到書樓明正秋。
紅日東昇知大海,
白雲西望是神州。
溪山亦足供吾樂,
忍負前盟萬里鷗。

Ngụ ý
Danh toại công thành hưu hĩ hưu,
Đẳng nhàn thế cố nhất hư châu.
Phong lai giang quán lương nghi hạ,
Nguyệt đáo thư lâu minh chính thu.
Hồng nhật đông thăng tri đại hải,
Bạch vân tây vọng thị thần châu.
Khê sơn diệc túc cung ngô lạc,
Nhẫn phụ tiền minh vạn lý âu.

Dịch nghĩa
Như thế cũng gọi là công toại danh thành rồi đấy, thôi thế cũng nên thôi,
Việc đời phó mặc cho con thuyền vơi vơi nọ lênh đênh muốn đến đâu thì đến mà ta tìm lại cái thú vui của ta.
Khi cơn gió mát thổi vào cái quán chỗ ta ngồi bên sông nọ, là mùa hạ,
Lúc bóng trăng soi vào cái lầu chỗ ta ngồi xem sách kia, ấy chính mùa thu.
Ta trông thấy vầng hồng mọc lên ở đàng đông thì ta biết đó là nơi đại hải,
Ta trông thấy mây trắng phủ ngất ở đàng tây thì ta biết đó là chỗ thần chầu.
Ấy cái thú nước non như thế cũng đủ cho ta vui,
Vậy đàn bồ nông ngoài bể khơi muôn dặm mà trước ta đã thề cùng với chúng kết làm bạn “vong cơ”, thì nay ta nỡ lòng nào mà phũ phàng với thề xưa cho đặng.

Nguyên Đán thuật hoài

Nguyên Đán thuật hoài
Kim ngã hành niên lục thập chi,
Lão lai khước dữ bệnh tương kỳ.
Tích xuân cưỡng khuyến sổ bôi tửu,
Ưu quốc hưu ngôn lưỡng mấn ti.
Chức nhẫm bất cần ta lãn phụ,
Gia đình vô giáo tiếu si nhi.
Nhàn trung liêu ngụ nhàn trung thú,
Khởi vị phùng nhân thuyết lãng thi.

Dịch nghĩa
Tuổi đời của ta nay đã sáu mươi,
Già đến, lại cùng bệnh tật hẹn hò nhau.
Tiếc xuân, gượng khuyên mời vài chén rượu,
Lo nước, đừng nói hai mái tóc đã bạc như tơ.
Canh cửi chẳng siêng năng, than thở về người đàn bà lười nhác,
Gia đình không dạy dỗ, đáng cười cho đứa con ngây dại.
Trong lúc thảnh thơi hãy gửi cái thú thanh nhàn,
Há đâu nói về thơ một cách phóng túng với những người gặp mặt.

Nhân thôn

Nhân thôn
Tổng tổng lâm lâm sinh chí phồn,
Sở cư xứ xứ hữu hương thôn.
Hào hoa hấp nhĩ tỉ lân hội,
Nhân hậu y nhiên mỹ tục tồn.
Tác tức tư đào Nghiêu nhật nguyệt,
Âu ca cộng lạc Thuấn kiền khôn.
Thái bình tể tướng ư tư hiển,
Quan cái tinh xu diệu lý môn.

Dịch nghĩa
Nườm nượp sum suê sinh sản ra rất đông đúc,
Nơi nơi có người ở là có xóm làng.
Hào hoa tập hợp, xóm giềng kề bên nhau,
Nhân hậu vẫn thế, phong tục tốt đẹp còn nguyên.
Làm và nghỉ cùng thoải mái trong ngày tháng đời Nghiêu,
Hò và hát cùng vui vẻ trong trời đất đời Thuấn.
Quan tể tướng đời thái bình mở mày mở mặt ở đó.
Mũ lọng đi nhanh như sao, rực sáng cổng làng

Bạch Vân am thi tập là một tập thơ lớn của Nguyễn Bỉnh Khiêm tuy nhiên sau này đã thất lạc khá nhiều. Với tập này Nguyễn Bỉnh Khiê đã mượn hình ảnh thiên nhiên để bày tỏ chí hướng của mình. Các bài thơ được viết theo phong cách trữ tình, tuy nhiên cũng có nhiều bài trong số đó khá khô khan và khuôn khổ. Bên cạnh đó trong các tài liệu còn ghi chép lại thì những bài thơ trên đây chỉ là một phần nhỏ. Đừng quên đón đọc phần tiếp theo của tập Bạch Vân am thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm để cùng tìm hiểu phong cách sáng tác và tài năng của ông bạn nhé!

 

so1vn - Tags: