Cả cuộc đời của mình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã dành phần lớn thời gian cho các sáng tác văn chương. Và tuyển tập Bạch Vân am thi tập là một trong số đó. Đây là tập thơ chủ yếu dùng thiên nhiên để thể hiện triết lý hoặc cũng có thể thông qua đó để cảm nhận, rung cảm nghệ thuật. Đọc các bài thơ này ta cảm nhận được sự chân thành, giản dị nhưng một số trong đó cũng khá khô khan.

Tân quán ngụ hứng kỳ 15

津觀寓興其十五
別占溪泉景致幽,
歸來結屋覓閑遊。
護花半掩臨風樹,
待月先開近水樓。
消長隨時知物理,
窮通有命豈吾憂。
這般真假誰能會,
一曲寒山一釣舟。

Tân quán ngụ hứng kỳ 15
Biệt chiếm khê tuyền cảnh trí u,
Quy lai kết ốc mịch nhàn du.
Hộ hoa bán yểm lâm phong thụ,
Đãi nguyệt tiên khai cận thuỷ lâu.
Tiêu trường tuỳ thì tri vật lý,
Cùng thông hữu mệnh khởi ngô ưu.
Giá ban chân giả thuỳ năng hội,
Nhất khúc Hàn Sơn nhất điếu chu.

Tân quán ngụ hứng kỳ 16

津觀寓興其十六
故園歸去覓閑遊,
得喪囂然豈我憂。
出岫無心雲更懶,
朝東有意水長流。
生平名把文章誤,
畢竟官隨老病休。
借問生涯何處是,
五湖煙浪一扁舟。

Tân quán ngụ hứng kỳ 16
Cố viên quy khứ mịch nhàn du,
Đắc táng hiêu nhiên khởi ngã ưu.
Xuất tụ vô tâm vân cánh lãn,
Triều đông hữu ý thuỷ trường lưu.
Sinh bình danh bả văn chương ngộ,
Tất cánh quan tuỳ lão bệnh hưu.
Tá vấn sinh nhai hà xứ thị,
Ngũ hồ yên lãng nhất thiên chu.

Thu thanh

Thu thanh
Tiêu điều thu dạ trích hàn canh,
Ngọc luật hồi âm ám thổ thanh.
Đãn giác thụ gian minh tích tích,
Hốt kinh nguyệt hạ hưởng tranh tranh.
Sơ văn thú phụ sầu vô mị,
Tự xúc hàn tương nhạ bất bình.
Nghĩ tác Dĩnh Xuyên Âu Tử phú,
Khủng hoảng mô phỏng bị thời khinh.

Dịch nghĩa
Đêm thu tiêu điều, giọt nước nhỏ điểm canh lạnh lùng,
Ống ngọc luật đồng vọng, âm thầm mà phát ra thành tiếng.
Chỉ nghe thấy trong cây tiếng kêu sột soạt,
Bỗng giật mình dưới trăng tiếng vang lanh canh.
Mới nghe, người vợ lính thú buồn rầu không ngủ,
Như xui con dế gợi nỗi bất bình.
Toan làm bài phú như Âu Tử đất Dĩnh Xuyên,
E rằng lại chỉ làm việc bắt chước bị người đời khinh bỉ.

Thuỷ hành phó doanh cảm tác

Thuỷ hành phó doanh cảm tác
Chỉ kỳ thệ phục cựu sơn hà,
Khảng khái đăng chu phát hạo ca.
Trạo bãi thuỷ văn đôi bạch tuyết,
Phàm di nguyệt ảnh lộng hàn ba.
Cô trung đối việt càn khôn lão,
Tứ cố vi mang thảo thụ đa.
Ký thủ tặc nô bình đình hậu,
Trùng tầm Tân quán lữ ngư hà.

Dịch nghĩa
Định kỳ hạn thề khôi phục giang san cũ,
Khảng khái lên thuyền cất cao giọng hát.
Mái chèo khua gợn nước, chập chồng những đống tuyết trắng.
Cánh buồm theo bóng trăng, giỡn nhởn trong làn sóng lạnh.
Tấm lòng cô trung dầu dãi, trời đất già nua,
Đoái trông bốn phía lờ mờ, cỏ cây nhiều lắm.
Ghi nhớ sau ngày dẹp xong bọn giặc hèn,
Lại tìm về quán Trung Tân làm bạn với tôm cá.

Trách tử

責子
父在不遠遊,
惟疾父之憂。
聖賢所垂訓,
斯言豈我誣。
爾既生為人,
胡不業為儒。
芥羽事鬥雞,
金鈴走韓盧。
夜覓錢樹兒,
晨擊花街毬。
師友不親炙,
詩書反寇讎。
生子既如此,
於我復何求。
且進一杯酒,
聊寫萬古愁。

Trách tử
Phụ tại bất viễn du,
Duy tật phụ chi ưu.
Thánh hiền sở thuỳ huấn,
Tư ngôn khởi ngã vu.
Nhĩ ký sinh vi nhân,
Hồ bất nghiệp vi nho.
Giới vũ sự đấu kê,
Kim linh tẩu hàn lô.
Dạ mịch tiền thụ nhi,
Thần kích hoa nhai cầu.
Sư hữu bất thân chá,
Thi thư phản khấu thù.
Sinh tử ký như thử,
Ư ngã phục hà cầu.
Thả tiến nhất bôi tửu,
Liêu tả vạn cổ sầu.

Trung Tân ngụ hứng

Trung Tân ngụ hứng
Nhân thôn quán tây nam,
Giang thuỷ quán tây bắc.
Trung hữu bán mẫu viên,
Viên tại Vân Am trắc.
Luân ưởng trần bất đáo,
Hoa trúc thủ tự thực.
Trượng lý tập hoa hương,
Trản giả xâm hoa sắc.
Điểu tị phanh trà yên,
Ngư thôn tẩy nghiễn mặc.
Khiển hứng nhậm thi cuồng,
Phù suy da hữu lực.
Nhân xảo, ngả giả chuyết,
Thuỳ tri chuyết giả đức,
Ngã chuyết, nhân giả xảo,
Thuỳ tri xảo giả tặc.
Kiền khôn tĩnh lý suy,
Cổ kim nhàn trung đắc.
Hiểm mạc hiểm thế đồ,
Bất tiển tiện kinh cúc.
Nguy mạc nguy nhân tâm,
Nhất phóng tiện quỷ quắc.
Quân tử cầu sở chỉ,
Chí thiện tư vi cực.

Dịch nghĩa
Phía tây nam quán ấy có làng xóm,
Phía tây bắc quán ấy có sông ngòi.
Ở giữa có nửa mẫu vườn,
Vườn ở bên am Bạch Vân.
Bụi ngựa xe không bám vào được cái am ấy,
Hoa và trúc ở trong vườn chính tay tự trồng lấy.
Khi chống gậy, lê dép ra vườn chơi thì hương thơm của hoa bám vào gậy, dép
Khi nâng chén rượu để thưởng thức thì sắc hoa ánh vào chén rượu.
Khí đun nước để pha trà thì loài chim lánh khói,
Khi rửa nghiên mực, mực chảy xuống thì loài cá nuốt lấy.
Khi thích chí thì ngâm thơ tràn để tiêu khiển,
Lại nhờ có chén rượu nhắp cho hăng hái để đỡ sức già yếu.
Người ta khéo léo mà mình lại vụng về,
Biết đâu vụng về ấy lại là một đức tốt!
Ta khờ dại mà người thì xảo quyệt,
Biết đâu lòng xảo quyệt ấy lại là một cái hại lớn!
Khi tĩnh, suy lẽ tạo hoá,
Lúc nhàn, ngẫm việc xưa nay.
Không gì hiểm bằng đường đời,
Nếu không biết cắt bỏ đi thì toàn là chông gai cả.
Không gì nguy hiểm bằng lòng người,
Nếu không biết giữ gìn mà buông phóng ra thì hoá thành quỷ quái cả.
Vì vậy, người quân tử phải tìm nơi đứng cho vững,
Lấy điều “chí thiện” làm tiêu chuẩn tuyệt đối.

Trung Tân quán ngụ hứng

中津觀寓興
滿目干戈苦未休,
暫乘餘暇覓閒遊。
棲棲燕壁多孫衍,
寂寂箕山幾許由。
千丈光搖新劍氣,
三春暖入舊書樓。
老來未沒先憂志,
得喪窮通豈我憂。

Trung Tân quán ngụ hứng
Mãn mục can qua khổ vị hưu,
Tạm thừa dư hạ mịch nhàn du.
Thê thê Yên bích đa Tôn Diễn,
Tịch tịch Cơ sơn kỷ Hứa Do.
Thiên trượng quang dao tân kiếm khí,
Tam xuân noãn nhập cựu thư lâu.
Lão lai vị một tiên ưu chí,
Đắc táng cùng thông khởi ngã ưu.

Dịch nghĩa
Mắt trông ngổn ngang đầy những can qua, cái khổ ấy biết bao giờ cho thôi?
Thế thời ta nhân còn được lúc thong thả thừa này ta hẵng giong chơi tạm chút.
Kìa ngoài thành Yên quốc kia tất tả tinh phường Tôn Diễn đi dâng chước đồ thành,
Mà trong núi Cơ nọ vắng vẻ ai là ông Hứa Do cố từ chối thiên hạ.
Ai kia thì ánh hào quang nghìn trượng của lưỡi gươm mới rõ sáng choang,
Ta đây thì khi hoà noãn ba xuân ở lầu thư cũ vẫn đầm ấm.
Ta từ trở về gia tới nay già thì già mà cái long lo trước thiên hạ nào đã nguội lạnh đâu,
Ta có bận lòng gì đến những sự cùng thông đắc táng riêng của ta đâu

Trừ tịch tức sự

Trừ tịch tức sự
Tân tuế tài lân cựu tuế trừ,
Lão lai tiếu ngã thái dung sơ.
Kiền khôn bất tận yên hoa cảnh,
Môn quán vô tư thuỷ trúc cư.
Lưỡng độ thủ tằng phù nhật cốc,
Nhất phong thư khẳng thướng công xư (xa),
Niên niên quản đắc xuân quang hảo,
Tri thị thiên tâm độc hậu dư.

Dịch nghĩa
Năm mới vừa đến năm cũ hết,
Về già tự cười mình lười nhác sơ xuất.
Cảnh khói hoa là bất tận trong trời đất,
Nơi có nước có tre, không giữ riêng cho nhà cửa mình.
Hai phen đã ra tay phò xe vua,
Một phong thư đâu có chịu dâng lên xe công.
Năm năm được làm chủ ánh sáng đẹp mùa xuân,
Biết đó là lòng trời riêng hậu với ta.

Vấn ngư giả

問漁者
湖海扁舟漁者誰,
生涯一笠一蓑衣。
水村沙近鴟為侶,
江興秋高鱸正肥。
短笛清風閒處弄,
孤帆明月醉中歸。
桃源往事依然在,
秦晉興亡是卻非。

Vấn ngư giả
Hồ hải thiên chu ngư giả thuỳ,
Sinh nhai nhất lạp nhất thoa y.
Thuỷ thôn sa cận si vi lữ,
Giang hứng thu cao lư chính phì.
Đoản địch thanh phong nhàn xứ lộng,
Cô phàm minh nguyệt tuý trung quy.
Đào Nguyên vãng sự y nhiên tại,
Tần Tấn hưng vong thị khước phi.


Âm dương hoà hợp vận huyền ky (cơ),
Giải tác cam lâm hỷ cập thì.
Bái tự cửu thiên ân ký ốc,
Nhuận triêm thứ thổ vật hàm nghi.
Dân tô nghê vọng vương sư chí,
Sĩ hấp phong thành thánh giáo thi.
Vũ thuận cố đăng kim thượng thuỵ,
Thái Bình hựu nhất thử hưu kỳ.

Dịch nghĩa
Máy huyền diệu chuyển vận, âm dương hoà hợp,
Mừng được kịp thời vụ, phát ra trận mưa ngọt.
Rào rạt tự chín tầng trời, ơn đã đầy rẫy,
Thấm nhuần mọi khoảng đất, mọi vật thoải mái.
Để được sống, dân mong quân nhà vua đến như đợi mống,
Kẻ sĩ hợp nên phong hoá thi hành được giáo hoá của thánh nhan.
Mưa thuận hoà, lúc được mùa, đó là điềm lành của nhà vua,
Thái bình đây lại là một thời kỳ tốt đẹp.

Xuân đán cảm tác

Xuân đán cảm tác
Hành niên thất thập tứ niên dư,
Hỷ đắc đầu nhàn phỏng cựu cư.
Tuế thuỷ bàng quan tân vũ trụ,
Gia bần duy phú cựu thi thư.
Tú hoa dã trúc tam xuân hảo,
Tịnh nguyệt minh song nhất thất hư.
Thuỳ thị thuỳ phi hưu thuyết trước,
Lão cuồng tự tiếu thái dung sơ.

Dịch nghĩa
Tuổi đời đã ngoài bảy mươi tư,
Mừng được cảnh nhàn về thăm chỗ ở cũ.
Đầu năm nhìn quanh vũ trụ mới,
Nhà nghèo, chỉ giàu sách vở cũ.
Hoa đẹp tre hoang ba xuân tươi tốt,
Trăng trong cửa sổ sáng, một căn nhà trống.
Ai phải ai trái, thôi không nói làm gì,
Già ngông, tự cười mình lười nhác quá.

Xuân hàn

春寒
十二韶光春一團
一天料峭送餘寒
輕陰借雨侵花易
殘雪因風墜柳難
繡闥佳人低玉帳
香街醉客促金鞍
還建自有神功在
已播陽和滿祭繁

Xuân hàn
Thập nhị thiều quang xuân nhất đoàn,
Nhất thiên liệu tiễu tống dư hàn.
Khinh âm tá vũ xâm hoa dị,
Tàn tuyết nhân phong truỵ liễu nan.
Tú thát giai nhân đê ngọc trướng,
Hương nhai tuý khách xúc kim an.
Toàn kiền tự hữu thần công tại,
Dĩ bá dương hoà mãn tế bàn.

Dịch nghĩa
Mười hai thiều quang, một vừng xuân sắc,
Một ngày lành lạnh tiễn đưa cái rét còn lại.
Trời râm mát nhờ mưa dễ thấm vào bông hoa,
Tuyết tàn bị gió rơi xuống cành liễu.
Giai nhân trong phòng gấm rủ thấp màn ngọc,
Ngoài đường sực nức hoa thơm, khách say giục giã yên vàng.
Xoay chuyển càn khôn, tự có công phu thần diệu,
Đã gieo rắc khí dương hoà khắp cả trời đất.

Trên đây là những bài thơ hay nhất của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong tập Bạch Vân am thi tập. Qua đó ta cảm nhận được thiên nhiên cũng như mượn hình ảnh thiên nhiên để thết hiện triết lý, đạo đức của mình. Hay nói cách khác là mượn thiên nhiên để làm đối tượng của sự rung cảm. Thơ này có phần chân tình nhưng cũng có những bài thơ khô khan.Và đa phần các bài thơ này viết theo thể đường luật. Bên cạnh tập thơ này Nguyễn bỉnh Khiêm còn có nhiều tập thơ khác hay đặc sắc đừng quên đón đọc bạn nhé!