Nhà thơ Hồ Chí Minh và Tập thơ Nhật ký trong tù Phần cuối



Nhà thơ Hồ Chí Minh viết Nhật ký trong tù bên cạnh việc ghi lại cảnh sinh hoạt trong nhà tù, còn tố cáo chế độ nhà tù chính quyền Tưởng Giới Thạch khắc nghiệt. Thêm vào đó phần cuối của vă bản này chính là bản bút ký đọc sách, bút ký đọc báo ghi chép tóm tắt những thông tin quan trọng về chính trị, quân sự, văn hóa quốc tế và Việt Nam đương thời. Đó cũng chính là cái hay của tác phẩm này. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu con người Hồ Chí Minh thông qua áng văn thơ kiệt xuất này nhé!

Bệnh trọng

病重
外感華天新冷熱,
內傷越地舊山河。
獄中害病真辛苦,
本應痛哭卻狂歌。

Bệnh trọng
Ngoại cảm Hoa thiên tân lãnh nhiệt,
Nội thương Việt địa cựu sơn hà;
Ngục trung hại bệnh chân tân khổ,
Bản ưng thống khốc khước cuồng ca.

Dịch nghĩa
Bên ngoài, cảm vì sự nóng lạnh mới thay đổi của trời Hoa,
Bên trong, đau vì non sông xưa của đất Việt;
Trong tù mắc bệnh thực đắng cay,
Lẽ ra phải khóc ròng mà ta cứ hát ngao!

Đáo Quế Lâm

到桂林
桂林無桂亦無林,
只見山高與水深。
榕蔭監房真可怕,
白天黑黑夜沈沈。

Đáo Quế Lâm
Quế Lâm vô quế diệc vô lâm,
Chỉ kiến sơn cao dữ thủy thâm;
Dung ấm giam phòng chân khả phạ,
Bạch thiên hắc hắc, dạ trầm trầm

Dịch nghĩa
Quế Lâm không quế cũng không rừng,
Chỉ thấy núi cao và sông sâu;
Cây đa rủ bóng xuống buồng giam, thực đáng sợ,
Ban ngày thì sầm tối, ban đêm thì im lìm.

Nhập lung tiền

入籠錢
初來要納入籠錢,
至少仍須五十元。
倘你無錢不能納,
你將步步碰麻煩。

Nhập lung tiền
Sơ lai yếu nạp nhập lung tiền,
Chí thiểu nhưng tu ngũ thập nguyên;
Thảng nhĩ vô tiền bất năng nạp,
Nhĩ tương bộ bộ bỉnh ma phiền.

Dịch nghĩa
Mới đến, phải nộp khoản tiền vào nhà lao,
ít nhất cũng năm mươi đồng;
Nếu anh không có tiền, không nộp được,
Mỗi bước đi anh sẽ gặp chuyện rắc rối.

?!

?!
空空苦了四十天,
四十天苦不塍言。
現在又要解返柳,
真是令人悶又煩。

?!
Không không khổ liễu tứ thập thiên,
Tứ thập thiên khổ bất thăng nghiên;
Hiện tại hựu yếu giải phản Liễu,
Chân thị linh nhân muộn hựu phiền.

Dịch nghĩa
Cực khổ không đâu mất bốn mươi ngày rồi,
Bốn mươi ngày khổ không nói xiết;
Nay lại phải giải trở về Liễu Châu,
Thực khiến cho người ta bực bội lại buồn phiền.

?

?
柳州桂林又柳州,
踢來踢去像皮球。
含冤踏遍廣西地,
不知解到幾時休。

?
Liễu Châu, Quế Lâm hựu Liễu Châu,
Dịch lai dịch khứ, tượng bì cầu;
Hàm oan đạp biến Quảng Tây địa,
Bất tri giải đáo kỷ thời hưu?

Dịch nghĩa
Liễu Châu, Quế Lâm lại Liễu Châu,
Đá qua đá lại như quả bóng da;
Ngậm oan đi khắp đất Quảng Tây,
Không biết giải đến bao giờ mới thôi?

Đáo Đệ tứ chiến khu Chính trị bộ

到弟四戰區政治部
解過廣西十三縣,
柱了十八個監房。
試問余所犯何罪,
罪在為民族盡忠。

Đáo Đệ tứ chiến khu Chính trị bộ
Giải quá Quảng Tây thập tam huyện,
Trú liễu thập bát cá giam phòng;
Thí vấn dư sở phạm hà tội?
Tội tại vị dân tộc tận trung!

Dịch nghĩa
Giải khắp mười ba huyện tỉnh Quảng Tây,
Dừng chân qua mười tám nhà lao;
Thử hỏi ta phạm tội gì?
Tội tận trung với dân tộc!

Chính trị bộ cấm bế thất

政治部禁閉室
二尺闊兮三尺長,
四人住此日彷徨。
要伸伸腳也不可,
因為人多少地方。

Chính trị bộ cấm bế thất
Nhị xích khoát hề tam xích trường
Tứ nhân trú thử nhật bàng hoàng
Yếu thân thân cước dã bất khả
Nhân vị nhân đa thiểu địa phương

Dịch nghĩa
Hai thước rộng và ba thước dài,
Bốn người suốt ngày quẩn quanh trong đó;
Muốn duỗi chân một tí cũng không được,
Bởi người đông mà đất lại hẹp.

Mông ưu đãi

蒙優待
吃夠飯菜睡夠氈,
又給零錢買報煙。
主任涼公懮待我,
我心感激不塍言。

Mông ưu đãi
Ngật câu phạn thái, thuỵ câu chiên
Hựu cấp linh tiền mãi báo, yên
Chủ nhiệm Lương công ưu đãi ngã
Ngã tâm cảm khích bất thăng ngôn

Dịch nghĩa
Ăn đủ cơm rau, ngủ đủ chăn đắp
Lại cho tiền mua báo, mua thuốc hút
Chủ nhiệm họ Lương ưu đãi ta
Lòng ta cảm kích không thể nói xiết

Triêu cảnh

朝景
太陽每早從山上,
照得全山處處紅。
只為籠前有黑影,
太陽未照到籠中。

Triêu cảnh
Thái dương mỗi tảo tòng sơn thượng,
Chiếu đắc toàn sơn xứ xứ hồng.
Chỉ vị lung tiền hữu hắc ảnh,
Thái dương vị chiếu đáo lung trung.

Dịch nghĩa
Mỗi buổi sớm, mặt trời nhô lên từ đỉnh núi
Chiếu khắp núi, nơi nào cũng đỏ rực
Chỉ vì trước nhà tù có bóng đen
Mặt trời chưa rọi được vào trong ngục

Thanh minh

清明
清明時節雨紛紛,
籠裡囚人欲斷魂。
借問自由何處有,
衛兵遙指辯公門。

Thanh minh
Thanh minh thời tiết vũ phân phân,
Lung lý tù nhân dục đoạn hồn.
Tá vấn tự do hà xứ hữu,
Vệ binh dao chỉ biện công môn.

Dịch nghĩa
Tiết thanh minh mưa phùn dày hạt,
Trong ngục, người tù buồn đứt ruột.
Ướm hỏi: nơi nào có tự do?
Lính gác chỉ tay về phía xa: cửa công đường.

Vãn cảnh

晚景
玫瑰花開花又謝,
花開花謝兩無情。
花香透入籠門裡,
向在籠人訴不平。

Vãn cảnh
Mai khôi hoa khai hoa hựu tạ,
Hoa khai hoa tạ lưỡng vô tình;
Hoa hương thấu nhập lung môn lý,
Hương tại lung nhân tố bất bình.

Dịch nghĩa
Hoa hồng nở hoa hồng lại tàn,
Hoa nở hoa tàn đều vô tình;
Hương thơm bay vào thấu trong ngục,
Tới kể với người trong ngục nỗi bất bình

Ngũ khoa trưởng, Hoàng khoa viên

伍科長黃科員
伍科長與黃科員,
兩人見我太可憐。
慇懃慰問和幫助,
這像冬寒遇暖天。

Ngũ khoa trưởng, Hoàng khoa viên
Ngũ khoa trưởng dữ Hoàng khoa viên,
Lưỡng nhị kiến ngã thái khả liên;
Ân cần uỷ vấn hoà bang trợ,
Giá tượng đông hàn ngộ noãn thiên.

Dịch nghĩa
Khoa trưởng họ Ngũ và khoa viên họ Hoàng,
Hai người đến thăm thấy tình cảnh của ta rất đáng thương;
Ân cần thăm hỏi và giúp đỡ,
Thật giống như mùa đông rét mướt gặp được ngày nắng ấm.

Hạn chế

限制
沒有自由真痛苦,
出恭也被人制裁。
開籠之時肚不痛,
肚痛之時籠不開。

Hạn chế
Một hữu tự do chân thống khổ,
Xuất cung dã bị nhân chế tài;
Khai lung chi thì đỗ bất thống,
Đỗ thống chi thì lung bất khai.

Dịch nghĩa
Không có tự do thực thống khổ,
Đến chuyện đi tiêu cũng bị người hạn chế;
Lúc mở cửa ngục, bụng không đau,
Đến lúc bụng đau, ngục không mở.

Dương Đào bệnh trọng

楊濤病重
無端平地起波濤,
送你楊濤入坐牢。
城火池魚堪浩嘆,
而今你又咳成癆。

Dương Đào bệnh trọng
Vô đoan bình địa khởi ba đào,
Tống nhĩ Dương Đào nhập toạ lao;
“Thành hoả trì ngư” kham hạo thán,
Nhi kim nhĩ hựu khái thành lao.

Dịch nghĩa
Không dưng đất bằng bỗng nổi sóng,
Đưa anh, Dương Đào, vào ngồi tù;
“Cháy thành vạ lây”, đáng thở than biết mấy,
Mà nay, anh lại mắc chứng lao

Bất miên dạ

不眠夜
茫茫長夜不能眠,
我做囚詩百幾篇。
做了一篇常擱筆,
從籠門望自由天。

Bất miên dạ
Mang mang trường dạ bất năng miên,
Ngã tố tù thi bách kỷ thiên;
Tố liễu nhất thiên thường các bút,
Tòng lung môn vọng tự do thiên.

Dịch nghĩa
Đêm dài mênh mang không ngủ được,
Ta làm thơ tù đã hơn trăm bài;
Làm xong mỗi bài thường gác bút,
Trông qua cửa tù, ngóng trời tự do.

Cửu vũ

久雨
久天下雨一天晴,
可恨天公沒有情。
鞋破路泥污了腳,
仍須努力向前行

Cửu vũ
Cửu thiên hạ vũ, nhất thiên tình,
Khả hận thiên công một hữu tình!
Hài phá, lộ nê, ô liễu cước,
Nhưng tu nỗ lực hướng tiền hành.

Dịch nghĩa
Chín ngày mưa, một ngày tạnh,
Đáng giận ông trời thật vô tình!
Giày rách, đường lầy, lấm cả chân,
Nhưng vẫn phải gắng sức đi lên phía trước.

Tích quang âm

惜光陰
蒼天有意挫英雄,
八月消磨梏桎中。
尺壁寸陰真可惜,
不知向口出牢籠。

Tích quang âm
Thương thiên hữu ý tỏa anh hùng,
Bát nguyệt tiêu ma cốc trất trung;
Xích bích thốn âm chân khả tích,
Bất tri hà nhật xuất lao lung.

Dịch nghĩa
Trời xanh cố ý hãm anh hùng
Tám tháng đã mòn mỏi trong chốn gông cùm;
Tấc bóng nghìn vàng, thật đáng tiếc,
Chẳng biết ngày nào thoát khỏi vòng lao tù?

Độc Tưởng công huấn từ

讀蔣公訓詞
百折不回向前進,
辜臣孽子義當然。
決心苦幹與硬幹,
自有成功的一天。

Độc Tưởng công huấn từ
Bách chiết bất hồi, hướng tiền tiến,
Cô thần nghiệt tử, nghĩa đương nhiên;
Quyết tâm, khổ cán dữ ngạnh cán,
Tự hữu thành công đích nhất thiên.

Dịch nghĩa
Trăm nghìn gian khó không lùi, vẫn cứ tiến,
Phận tôi con bơ vơ nhà tan nước mất, cái nghĩa phải như vậy;
Quyết tâm gắng gỏi và kiên nghị,
Ắt sẽ có một ngày thành công.

Lương Hoa Thịnh tướng quân thăng nhậm phó tư lệnh

梁華晟將軍升任副司令
昔日麾軍湘浙地,
今年抗敵緬滇邊。
顯赫威名寒敵膽,
為公預誦凱旋篇。

Lương Hoa Thịnh tướng quân thăng nhậm phó tư lệnh
Tích nhật huy quân Tương, Chiết địa,
Kim niên, kháng địch Miến, Điền biên;
Hiển hách, uy danh hàn địch đởm,
Vị công dự tụng khải toàn thiên.

Dịch nghĩa
Ngày trước chỉ huy quân đội ở đất Tương và Chiết,
Năm nay chống giặc nơi biên giới Miến và Điền;
Uy danh lừng lẫy làm kẻ thù mất mật,
Vì ông ca trước khúc khải hoàn.

Tặng Tiểu Hầu (Hải)

贈小候(海)
幼兒學也壯兒行,
上忠黨國下忠民。
儉勤勇感和廉正,
無附梁公教育情。

Tặng Tiểu Hầu (Hải)
Ấu nhi học dã, tráng nhi hành,
Thượng trung đảng, quốc, hạ trung dân;
Kiệm cần, dũng cảm hòa liêm chính,
Vô phụ Lương công giáo dục tình.

Dịch nghĩa
Bé thì phải học, lớn lên sẽ thực hành,
Trên trung với đảng và nước, dưới trung với dân;
Cần kiệm, dũng cảm và liêm chính,
Chớ phụ cái tình dạy dỗ của ông Lương.

Thu cảm

秋感
熊到山峰晚十點,
蟲聲断續慶秋來。
囚人不管秋來未,
只管囚籠何時開。

去歲秋初我自由,
今年秋首我居囚。
倘能裨益吾民族,
可說今秋值去秋。

Thu cảm
Hùng đáo sơn phong vãn thập điểm,
Trùng thanh đoạn tục khánh thu lai;
Tù nhân bất quản thu lai vị,
Chỉ quản tù lung hà thời khai.

Khứ tuế thu sơ ngã tự do,
Kim niên thu thủ ngã cư tù;
Thảng năng tì ích ngô dân tộc,
Khả thuyết kim thu trị khứ thu.

Dịch nghĩa
Sao Bắc Đẩu lên đến đỉnh núi đã mười giờ đêm,
Tiếng trùng đứt nối mừng thu sang;
Người tù chẳng kể thu sang hay chưa,
Chỉ cần biết cửa tù ngày nào mở.

Đầu thu năm ngoái ta tự do,
Đầu thu năm nay ta ở tù;
Ví bằng giúp ích được cho dân tộc,
Thì có thể nói, thu nay cũng sánh ngang thu trước

Nhân đỗ ngã

因肚餓
從前送飯天天早,
現在開餐遲又遲。
況復時間不一定,
十十一或十二時。

Nhân đỗ ngã
Tòng tiền tống phạn thiên thiên tảo,
Hiện tại khai xan trì hựu trì;
Huống phục thời gian bất nhất định,
Thập, thập nhất, hoặc thập nhị thì.

Dịch nghĩa
Trước đây ngày ngày đưa cơm rất sớm,
Bây giờ, bữa ăn đã muộn lại càng muộn;
Huống chi lại thêm thời gian không nhất định,
Lúc thì mười giờ, lúc lại mười một, hoặc mười hai giờ.

Trần khoa viên lai thám

陳科員來探
一年只見兵和警,
今日看見儒雅人。
雅人使我心興奮,
我髮黑反兩三分。

Trần khoa viên lai thám
Nhất niên chỉ kiến binh hòa cảnh,
Kim nhật khan kiến nho nhã nhân;
Nhã nhân sử ngã tâm hưng phấn,
Ngã phát hắc phản lưỡng tam phân.

Dịch nghĩa
Quanh năm chỉ thấy lính và cảnh sát,
Hôm nay mới nhìn thấy người nho nhã;
Người nho nhã khiến lòng ta phấn chấn,
Tóc ta đen trở lại hai ba phần.

Hầu chủ nhiệm ân tặng nhất bộ thư

侯主任恩贈一部書
頃乘主任送書來,
讀罷精神覺頓開。
領袖偉言如在耳,
天邊轟動一聲雷。

Hầu chủ nhiệm ân tặng nhất bộ thư
Khoảnh thừa chủ nhiệm tống thư lai,
Độc bãi tinh thần giác đốn khai;
Lãnh tụ vĩ ngôn như tại nhĩ,
Thiên biên oanh động nhất thanh lôi.

Dịch nghĩa
Vừa rồi được Chủ nhiệm đưa sách đến cho,
Đọc xong, thấy tinh thần đột nhiên mở mang;
Lời lãnh tụ như còn vẳng bên tai,
Khác nào một tiếng sấm ầm vang nơi chân trời.

Mông thượng lệnh chuẩn xuất lung hoạt động

蒙上令准出籠活動
久閑兩腳軟如綿,
今試行行屢欲顛。
片刻已聞班長喊,
返來不准再遲延。

Mông thượng lệnh chuẩn xuất lung hoạt động
Cửu nhàn lưỡng cước nhuyễn như miên,
Kim thí hành hành lũ dục điên;
Phiến khắc dĩ văn Ban trưởng hám:
“Phản lai, bất chuẩn tái trì diên”.

Dịch nghĩa
Nhàn rỗi lâu ngày, hai chân mềm như bông,
Nay mới đi thử vài bước đã lảo đảo mấy lần chực ngã;
Chốc lát đã nghe Ban trưởng quát:
“Quay lại! Không được rềnh ràng nữa!”

Thu dạ (I)

秋夜
門前衛士執槍立,
天上殘雲傍月飛。
木虱縱橫如坦克,
蚊虫聚散似飛機。
心懷故國千塘路,
梦繞新愁萬縷絲。
無罪而囚已一載,
老夫和淚寫囚詩。

Thu dạ (I)
Môn tiền vệ sĩ chấp thương lập,
Thiên thượng tàn vân bạng nguyệt phi;
Mộc sắt tung hoành như thản khắc,
Mân trùng tụ tán tự phi ky;
Tâm hoài cố quốc thiên đường lộ,
Mộng nhiễu tân sầu, vạn lũ ti;
Vô tội nhi tù dĩ nhất tải,
Lão phu hòa lệ tả tù thi.

Dịch nghĩa
Trước cửa lính gác bồng súng đứng,
Trên trời đám mây tàn bay bên vầng trăng;
Lũ rệp bò ngổn ngang như xe tăng,
Đàn muỗi lúc tụ lúc tán như máy bay;
Lòng nhớ cố quốc cách xa nghìn trùng,
Giấc mộng vấn vương mối sầu mới như vạn mối tơ;
Vô tội mà ở tù đã một năm nay,
Già này hoà nước mắt viết thơ tù.

Tình thiên

晴天
事物循環原有定,
雨天之後必晴天。
片時宇宙解淋服,
萬里山河晒錦氈。
日暖風清花帶笑,
樹高枝潤鳥爭言。
人和萬物都興奮,
苦盡甘來理自然。

Tình thiên
Sự vật tuần hoàn nguyên hữu định,
Vũ thiên chi hậu tất tình thiên;
Phiến thì vũ trụ giải lâm phục,
Vạn lý sơn hà sái cẩm chiên;
Nhật noãn phong thanh hoa đới tiếu,
Thụ cao chi nhuận điểu tranh nghiên;
Nhân hoà vạn vật đồ hưng phấn,
Khổ tận cam lai, lý tự nhiên.

Dịch nghĩa
Sự vật vần xoay vốn định sẵn,
Sau ngày mưa tất đến ngày nắng;
Trong chốc lát, vũ trụ đã cởi bộ áo ướt,
Muôn dặm non sông phơi màu chăn gấm;
Trời ấm, gió nhẹ, hoa chúm chím cười,
Cây cao, cành mượt, chim đua hót;
Người cùng muôn vật đều phấn chấn,
Hết khổ đến sướng là lẽ tự nhiên.

Khán “Thiên gia thi” hữu cảm

看千家詩有感
古詩偏愛天然美,
山水煙花雪月風。
現代詩中應有鐵,
詩家也要會衝鋒。

Khán “Thiên gia thi” hữu cảm
Cổ thi thiên ái thiên nhiên mỹ,
Sơn thuỷ yên hoa tuyết nguyệt phong;
Hiện đại thi trung ưng hữu thiết,
Thi gia dã yếu hội xung phong.

Dịch nghĩa
Thơ xưa nghiêng về yêu cảnh đẹp thiên nhiên,
Núi, sông, khói, hoa, tuyết, trăng, gió;
Trong thơ thời nay nên có thép,
Nhà thơ cũng phải biết xung phong.

Tức cảnh

即景
樹梢巧畫張飛像,
赤日長明關羽心。
祖國終年無信息,
故鄉每日望回音。

Tức cảnh
Thụ sao xảo họa Trương Phi tượng,
Xích nhật trường minh Quan Vũ tâm;
Tổ quốc chung niên vô tín tức,
Cố hương mỗi nhật vọng hồi âm.

Dịch nghĩa
Ngọn cây khéo vẽ hình Trương Phi,
Mặt trời hồng sáng mãi lòng Quan Vũ.
Tổ quốc suốt năm không tin tức,
Mong thư trả lời của quê nhà hàng ngày.

Kết luận

結論
幸晤英明侯主任,
而今又是自由人。
獄中日記從今止,
深謝侯公再造恩。

Kết luận
Hạnh ngộ anh minh Hầu Chủ nhiệm,
Nhi kim hựu thị tự do nhân;
Ngục trung nhật ký tòng kim chỉ,
Thâm tạ Hầu công tái tạo ân.

Dịch nghĩa
May mắn gặp được Chủ nhiệm họ Hầu sáng suốt,
Mà nay ta lại là người tự do;
Nhật ký trong tù chấm dứt từ đây,
Cảm tạ khôn xiết công ơn tái tạo của ông Hầu.

Như vậy tập thơ Nhật ký trong tù của nhà thơ Hồ Chí Minh với 133 bài thơ đã chính thức được khép lại. Đây là một áng văn thơ được nói là để đời của Hồ Chí Minh. Với tập thơ này chúng ta có được một cách nhìn nhận khác hơn về người. Đó là góc nhìn của một nhà thơ. Đừng quên đón đọc những bài viết tiếp theo của chúng tôi để cùng cập nhật những bài thơ hay xuất sắc nhất bạn nhé!

so1vn - Tags: