Nhà thơ Hồ Chí Minh và Tập thơ chữ Hán nổi tiếng Phần đầu



Tập thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh bắt nguồn từ việc người được tiếp xúc với nền giáo dục Hán học từ nhỏ. Và cũng chính là do người có một quá trình hoạt động cách mạng ở Trung Quốc. Chính vì vậy mà ta có thể thấy được tình yêu với đất nước và con người Trung Quốc. Theo tài liệu nghiên cứu mới nhất tập thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh có 173 bài và trong đó có tập Nhật ký trong tù. Dưới đây là các bài thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh hãy cùng đọc và cảm nhận nhé!

Báo tiệp

報捷
月推窗問詩成未,
軍務仍忙未做詩。
山樓鐘響驚秋夢,
正是連區報捷時。

Báo tiệp
Nguyệt thôi song vấn: – Thi thành vị?
– Quân vụ nhưng mang vị tố thi.
Sơn lâu chung hưởng kinh thu mộng,
Chính thị Liên khu báo tiệp thì.

Dịch nghĩa
Trăng đẩy cửa sổ hỏi: – Thơ xong chưa?
– Vẫn còn bận việc quân, chưa làm thơ được.
Bỗng tiếng chuông ở lầu trên núi khua tỉnh giấc mộng đêm thu,
Vừa hay là lúc có tin thắng trận ở Liên khu báo về.

Cách mệnh tiên cách tâm

革命先革心
革命先革心,
改造社會先改造自己。
檢肅深心,
厲行自承批評。
先之以自己修身,
繼之以教化部屬,
繼之以感應民衆。

Cách mệnh tiên cách tâm
Cách mạng tiên cách tâm,
Cải tạo xã hội tiên cải tạo tự kỷ.
Kiểm túc thâm tâm,
Lệ hành tự thừa phê bình.
Tiên chi dĩ tự kỷ tu thân,
Kế chi dĩ giáo hoá bộ thuộc,
Kế chi dĩ cảm ứng dân chúng.

Dịch nghĩa
Làm cách mạng trước hết phải cách mạng tấm lòng,
Cải tạo xã hội trước hết phải cải tạo bản thân mình.
Kiểm điểm sâu sắc tận nơi đáy lòng,
Nghiêm khắc thực hành tự phê bình.
Trước tiên hãy tự mình tu sửa bản thân,
Kế đó mới dạy bảo cấp dưới,
Sau nữa làm cho quần chúng đồng lòng.

Cận Long Châu

近龍州
遠隔龍州三十里,
已聞炮響與機聲。
越南民眾真英勇,
抗戰必勝建國必成。

Cận Long Châu
Viễn cách Long Châu tam thập lý,
Dĩ văn pháo hưởng dữ cơ thanh.
Việt Nam dân chúng chân anh dũng,
Kháng chiến tất thắng, kiến quốc tất thành.

Dịch nghĩa
Cách xa Long Châu ba mươi dặm,
Đã nghe tiếng đại bác vang dội và tiếng máy bay gầm rú.
Dân chúng nước Việt Nam thật là anh dũng,
Kháng chiến nhất định thắng lợi, kiến quốc nhất định thành công.

Cứu Trung Quốc thị cứu tự kỷ

救中國是救自己
日本東方法西斯,
野蠻凶暴又殘酷。
發動了侵華戰爭,
中國人民被荼毒。
人被殺了家被焚,
滿地血紅滿山骨。
飛機落彈無可免,
饑寒疾病難生活。
他們艱苦地斗爭,
保衛民主與和平。
他門需要援助者,
他門需要有同情。
日鬼向世界進攻,
他是人類之公敵。
越南兄弟姊妹阿,
快快起來助中國。
努力幫助中國人,
中國越南如唇齒。
須知唇亡則齒寒,
救中國是救自己。

Cứu Trung Quốc thị cứu tự kỷ
Nhật Bản đông phương phát tây tư,
Dã man hung bạo hưu tàn khốc.
Phát động Liễu xâm Hoa chiến tranh,
Trung Quố nhân dân bị đồ độc.
Nhân bị sát liễu, gia bị phân,
Mãn địa huyết hồng, mãn sơn cốt.
Phi cơ lạc đạn vô khả miễn,
Cơ hàn tật bệnh nan sinh hoạt.
Tha môn gian khổ địa đấu tranh,
Bảo vệ dân chủ dữ hoà bình.
Tha môn nhu yếu viện trợ giả,
Tha môn nhu yếu hữu đồng tình.
Nhật quỷ hướng thế giới tiến công,
Tha thị nhân loại chi công dịch.
Việt Nam huynh đệ tỉ muội a,
Khoái khoái khởi lai trợ Trung Quốc.
Nỗ lực bang trợ Trung Quốc nhân,
Trung Quốc – Việt Nam như thần xỉ.
Tu tri thần vong tắc xỉ hàn,
Cứu Trung Quốc thị cứu tự kỷ.

Dịch nghĩa
Nhật Bản là bọn phát xít phương Đông,
Dã man, hung bạo lại tàn khốc,
Đã gây ra cuộc chiến tranh xâm lược Trung Hoa.
Nhân dân Trung Quốc bị đầu độc khổ sở.
Người thì bị giết, nhà bị đốt,
Đầy đất máu đỏ, đầy núi xương phơi.
Tàu bay bom đạn, không thể tránh khỏi,
Đói rét, bệnh tật, khó sống nổi.
Họ đang đấu tranh một cách gian khổ,
Bảo vệ dân chủ và hoà bình.
Họ cần có người viện trợ,
Họ cần có sự đồng tình.
Giặc Nhật tiến công cả thế giới,
Chúng là kẻ thù chung của loài người.
Anh em chị em Việt Nam ơi!
Mau mau đứng lên cứu Trung Quốc.
Ra sức giúp đỡ người Trung Quốc,
Trung Quốc – Việt Nam như môi với răng.
Phải biết rằng môi hở thì răng lạnh,
Cứu Trung Quốc là tự cứu mình.

Đăng sơn

登山
攜杖登山觀陣地,
萬重山擁萬重雲。
義兵壯氣吞牛斗,
誓滅豺狼侵掠軍。

Đăng sơn
Huề trượng đăng sơn quan trận địa,
Vạn trùng sơn ủng vạn trùng vân.
Nghĩa binh tráng khí thôn Ngưu Đẩu,
Thệ diệt sài lang xâm lược quân.

Dịch nghĩa
Chống gậy lên núi xem trận địa,
Muôn trùng núi nâng đỡ muôn trùng mây,
Khí mạnh của nghĩa quân ta muốn nuốt cả sao Ngưu, sao Đẩu,
Thề diệt hết quân xâm lược sói lang.

Đề Ba Mông động

題巴蒙洞
日出東方一點紅,
峨眉鳳眼似彎弓。
滿天星斗零丁吊,
烏雲蓋月暗朦朧。

Đề Ba Mông động
Nhật xuất đông phương nhất điểm hồng,
Nga my phụng nhãn tự loan cung.
Mãn thiên tinh đẩu linh đinh điếu,
Ô vân cái nguyệt ám mông lung.

Dịch nghĩa
Mặt trời mọc, phương Đông hiện lên một điểm hồng,
Như mắt phượng mày ngài cong vút của người đẹp.
Khắp trời đêm chỉ có một ngôi sao lẻ loi treo lơ lửng,
Mây đen che mờ mặt trăng khiến bầu trời u ám.

Đề Đức Môn động kỳ 1

題徳門洞其一
三台對面鳥聲甜,
流水潺潺伴我眠。
走遍天涯千里路,
藏身此洞最安全。

Đề Đức Môn động kỳ 1
Tam Thai đối diện điểu thanh điềm,
Lưu thuỷ sàn sàn bạn ngã miên.
Tẩu biến thiên nhai thiên lý lộ,
Tàng thân thử động tối an toàn.

Dịch nghĩa
Trên núi Tam Thai trước mặt, tiếng chim nghe ngọt ngào,
Nước chảy rầm rì ngay bên cạnh chỗ ta ngủ.
Chạy khắp chân trời đường xa vạn dặm,
Ẩn mình ở trong động này là nơi an toàn nhất.

Đề Đức Môn động kỳ 2

題徳門洞其二
此洞真正好,
勝比七星岩。
越人到此處,
莫不心開顏。

Đề Đức Môn động kỳ 2
Thử động chân chính hảo,
Thắng tỷ Thất Tinh nham.
Việt nhân đáo thử xứ,
Mạc bất tâm khai nhan.

Dịch nghĩa
Động này thật là tốt,
Hơn cả núi Thất Tinh.
Người khách nước Việt tới nơi này,
Lòng sao có thể không mỉm cười cho được.

Đề Tống gia tướng quân miếu thi

題宋家將軍廟詩
畢竟人民終自主,
偽胡何必幹桑滄。

Đề Tống gia tướng quân miếu thi
Tất cánh nhân dân chung tự chủ,
Nguỵ Hồ hà tất cán tang thương.

Dịch nghĩa
Cuối cùng rồi cũng đến nhân dân làm chủ bản thân mình,
Hà tất Nguỵ Hồ gây ra chuyện tang thương làm gì.

Đối nguyệt

對月
窗外月明籠古樹,
月移樹影到窗前。
軍機國計商談了,
攜枕窗旁對月眠。

Đối nguyệt
Song ngoại nguyệt minh lung cổ thụ,
Nguyệt di thụ ảnh đáo song tiền,
Quân cơ, quốc kế thương đàm liễu,
Huề chẩm song bàng đối nguyệt miên.

Dịch nghĩa
Ngoài cửa sổ ánh trăng lồng trên cây cổ thụ,
Ánh trăng nhích dần bóng cổ thụ lại trước cửa sổ.
Việc quân, việc nước bàn bạc xong rồi,
Xách gối đến bên cửa sổ, nằm ngủ trước ánh trăng

Hoàng Sơn nhật ký kỳ 1

黃山日記其一
黃山社員多種茶,
茶葉潤澤香味多。
東西南北遊山客,
飲杯山茶聽山哥。

Hoàng Sơn nhật ký kỳ 1
Hoàng Sơn xã viên đa chủng trà,
Trà diệp nhuận trạch hương vị đa.
Đông tây nam bắc du sơn khách,
Ẩm bôi sơn trà thính sơn ca.

Dịch nghĩa
Xã viên Hoàng Sơn trồng nhiều chè,
Lá chè đượm đà nhiều hương vị.
Khách dạo chơi núi từ khắp miền đông tây nam bắc,
Uống chén chè thơm lắng nghe điệu dân ca miền núi.

Hoàng Sơn nhật ký kỳ 2

黃山日記其二
黃山小孩真乖乖,
見我就問『伯伯好』。
頰如蘋果嘴如花,
對我感情真濃厚。

Hoàng Sơn nhật ký kỳ 2
Hoàng Sơn tiểu hài chân quai quai,
Kiến ngã tựu vấn “Bá bá hảo”.
Giáp như tần quả, chuỷ như hoa,
Đối ngã cảm tình chân nùng hậu.

Dịch nghĩa
Các cháu bé ở Hoàng Sơn thật là ngoan,
Thấy tôi đều chào: “Cháu chào Bác ạ!”
Má như quả táo, miệng như hoa,
Tình cảm đối với tôi thật là nồng hậu.

Hoàng Sơn nhật ký kỳ 3

黃山日記其三
黃山風景非常好,
一天下雨五天睛。
朝隨新客送老客,
夜聽泉聲和鳥聲。

Hoàng Sơn nhật ký kỳ 3
Hoàng Sơn phong cảnh phi thường hảo,
Nhất thiên hạ vũ ngũ thiên tình.
Triêu tuỳ tân khách tống lão khách,
Dạ thính tuyền thanh hoạ điểu thanh.

Dịch nghĩa
Cảnh núi ở Hoàng Sơn đẹp lạ thường,
Một ngày mưa, năm ngày tạnh ráo,
Sáng sớm theo khách mới đi tiễn khách cũ,
Đêm nghe tiếng suối đáp lại tiếng chim.

Hoàng Sơn nhật ký kỳ 4

黃山日記其四
董公贈我以長詩,
我欲作詩奉和之,
可是抗美救國事,
完全 佔領我心思。

Hoàng Sơn nhật ký kỳ 4
Đổng công tặng ngã dĩ trường thi,
Ngã dục tác thi phụng hoạ chi,
Khả thị kháng Mỹ cứu quốc sự,
Hoàn toàn chiếm lĩnh ngã tâm ti (tư).

Dịch nghĩa
Cụ Đổng tặng tôi bài thơ dài,
Tôi muốn làm thơ kính hoạ lại cụ.
Nhưng công việc chống Mỹ cứu nước,
Đã hoàn toàn chiếm lĩnh tâm tư tôi.

Hoàng Sơn nhật ký kỳ 5

黃山日記其五
安徽自古多豪傑,
誰比英雄新四軍。
黨軍到處除強暴,
從此工人作主人。

Hoàng Sơn nhật ký kỳ 5
An Huy tự cổ đa hào kiệt,
Thuỳ tỉ anh hùng Tân tứ quân.
Đảng quân đáo xứ trừ cường bạo,
Tòng thử công nhân tác chủ nhân.

Dịch nghĩa
An Huy từ xưa vốn có nhiều hào kiệt,
Có ai sánh được với Tân tứ quân anh hùng!
Quânđội của Đảng khắp nơi trừ khử cường bạo,
Từ nay công nhân thành chủ nhân.

Hoàng Sơn nhật ký kỳ 6

黃山日記其六
地方同志太客氣,
對我們無微不至。
幾乎天天去參觀,
晚晚請我們看戲。

Hoàng Sơn nhật ký kỳ 6
Địa phương đồng chí thái khách khí,
Đối ngã môn vô vi bất chí.
Cơ hồ thiên thiên khứ tham quan,
Vãn vãn thỉnh ngã môn khán hý.

Dịch nghĩa
Các đồng chí ở địa phương rất quý khách,
Đối với chúng tôi chu đoá từng li từng tí
Hầu như ngày nào cũng đi tham quan,
Tối tối lại mời chúng tôi xem kịch.

Ký Mao chủ tịch

寄毛主席
欣聞您暢泳長江,
群眾歡呼您健康。
我在越南忙抗美,
遙祝您『萬壽無疆』。

Ký Mao chủ tịch
Hân văn nẫn sướng vịnh Trường Giang,
Quần chúng hoan hô nẫn kiện khang.
Ngã tại Việt Nam mang kháng Mỹ,
Dao chúc nẫn “Vạn thọ vô cương”.

Dịch nghĩa
Mừng nghe ông bơi lội thoả thích ở Trường Giang
Quần chúng reo vui thấy ông khoẻ mạnh.
Tôi ở Việt Nam đang bận đánh Mỹ,
Từ xa tôi chúc ông “Vạn thọ vô cương”.

Ly Bắc Kinh

離北京
冀北天心懸皓月,
心隨皓月共悠悠。
皓月誰分為兩半,
半隨舊友半征夫。

Ly Bắc Kinh
Ký Bắc thiên tâm huyền hạo nguyệt,
Tâm tuỳ hạo nguyệt cộng du du.
Hạo nguyệt thuỳ phân vi lưỡng bán,
Bán tuỳ cựu hữu, bán chinh phu.

Dịch nghĩa
Giữa lòng trời Ký Bắc treo vầng trăng sáng trắng,
Lòng ta theo trăng sáng cùng man mác.
Vầng trăng sáng kia ai chia làm hai nửa,
Một nửa theo cùng bạn cũ, một nửa soi khách đường trường.

Mậu Thân xuân tiết

戊申春節
四月百花開滿圓
紅紅紫紫互爭妍
白鳥捉魚湖裏去
黃鶯飛上天
天上閒雲來又去
忙把南方捷報傳

Mậu Thân xuân tiết
Tứ nguyệt bách hoa khai mãn viên
Hồng hồng tử tử hỗ tranh nghiên.
Bạch điểu tróc ngư hồ lý khứ,
Hoàng oanh phi thượng thiên.
Thiên thượng nhàn vân lai hựu khứ,
Mang bả Nam phương tiệp báo truyền.

Dịch nghĩa
Tiết tháng tư trăm loài hoa nở đầy vườn,
Đỏ đỏ, tía tía, hoa đua nhau phô vẻ tươi.
Có con chim trắng sà xuống hồ để bắt cá,
Chim hoàng oanh thì lại bay thẳng lên trời.
Trên trời, những áng mây thong thả bay đến rồi bay đi,
Lòng rộn lên tin thắng trận ở miền Nam báo về

Ngọ quá Thiên Giang

午過遷江
到遷江說遷江,
遷江江岸滿春霜。
千輛敵車成黑燼,
紅軍直到鎮南關。

Ngọ quá Thiên Giang
Đáo Thiên Giang, thuyết Thiên Giang,
Thiên Giang giang ngạn mãn xuân sương.
Thiên lưỡng địch xa thành hắc tận,
Hồng quân trực đáo Trấn Nam Quan.

Dịch nghĩa
Đến Thiên Giang thì nói chuyện Thiên Giang,
Trên bờ Thiên Giang, sương xuân đã phủ đầy.
Hàng ngàn chiếc chiến xa của địch đều hoá thành tro đen,
Hồng quân tiến thẳng đến Trấn Nam Quan.

Nguyên tiêu

元宵
今夜元宵月正圓,
春江春水接春天。
煙波深處談軍事,
夜半歸來月滿船。

Nguyên tiêu
Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên,
Xuân giang, xuân thuỷ tiếp xuân thiên.
Yên ba thâm xứ đàm quân sự,
Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền.

Dịch nghĩa
Đêm nay, rằm tháng giêng, trăng vừa tròn,
Nước sông xuân tiếp liền với màu trời xuân.
Giữa nơi khói sóng thăm thẳm, bàn bạc việc quân,
Nửa đêm trở về, thuyền chở đầy ánh trăng.

Nhị vật

二勿
無煙無酒過新春,
易使詩人化俗人。
夢里吸煙吃美酒,
醒來更奮振精神。

Nhị vật
Vô yên, vô tửu quá tân xuân,
Dị sử thi nhân hoá tục nhân.
Mộng lý hấp yên, ngật mỹ tửu,
Tỉnh lai cánh phấn chấn tinh thần.

Dịch nghĩa
Qua xuân mới rồi, mà vẫn không thuốc lá, không rượu,
Dễ khiến nhà thơ hóa thành kẻ tục.
Trong mộng, thấy được hút thuốc lá, uống rượu ngon,
Tỉnh ra tinh thần rất phấn chấn.

Trên đây là những bài thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh mà chúng tôi muốn giới thiệu với bạn. Đây là những bài thơ hay và thể hiện được góc nhìn của nhà thơ về các vấn đề này. Đó cũng chính là tình yêu tổ quốc và ý chí của người cách mạng. Đừng quên đón đọc những bài viết tiếp theo của chúng tôi để cập nhật những bài viết tiếp theo của chúng tôi để cùng cập nhật các bài thơ hay của Hồ Chí Minh nhé!

 

so1vn - Tags: