Bùi Hạnh Cẩn được đánh giá là một nhà dịch giả tài ba. Bởi ông đã dịch rất nhiều tác phẩm thơ nổi tiếng trong và ngoài nước. Qua đó giúp độc giả Việt Nam hiểu hơn về vốn văn chương cũng như chuyển tải các tác phẩm nổi tiếng đến đông đảo bạn đọc. Sau khi kết thúc Chùm thơ dịch tác giả khác của nhà thơ Bùi Hạnh Cẩn phần 6 chúng tôi sẽ tiếp tục giới thiệu cho bạn những bài thơ tiếp theo trong tập này.

Tóm tắt nội dung

Đề toán viên phường sở cư bích thượng – Thái Thuận

Trường An bụi đỏ ngựa xe quần
Ta thích lều ta tự ẩn thân
Điện Bắc sách không đời chả bận
Hồ Tây trăng sẵn giúp thơ vần
Nổi chìm mình cũng nên vui sống
Vắng vẻ ai không tóc xoã trần
Tâm sự hiểu thêm Trần xử sĩ
Nội hoa chim hót đất trời xuân

Toán viên tự thuật – Thái Thuận

Ngàn thuở Trường An như giấc mộng
Tình đời núi cũ trái câu thề
Sáng theo cửa Bắc cùng chuông dậy
Tối đến Hồ Tây cánh vạc về
Thư xóm dưới đèn từng mở đọc
Mây thành trước gác sớm bay đi
Liễu cầu chưa nhớ nơi thăm lại
Câu cá bên hoa thú cực kỳ

Cổ ý trình bổ khuyết Kiều Tri Chi – Thẩm Thuyên Kỳ

Nhà Lư vợ trẻ ngát hoa hương
Xà khảm đồi mồi – cặp yến thương
Tháng chín chày khua tàn lá lạnh
Mười năm chinh thú nhớ Liêu Dương
Bạch Lang dòng bắc tin thư bặt
Đan Phượng thành nam thu lậu trường
Riêng nỗi vì ai sầu chẳng gặp
Lại xui trăng tỏ sáng tơ vàng

Dao đồng Đỗ Viên Ngoại Thẩm Ngôn quá lĩnh – Thẩm Thuyên Kỳ

Trời cao đất rộng đỉnh non phân
Cách nước xa nhà mây trắng phau
Lạc phố phong quang đâu giống nhỉ
Sùng Sơn chướng khí xiết bao lần
Nam qua Trướng Hải thân đâu tá
Bắc ngó Hành Dương nhạn mấy đàn
Đôi ngả non sông muôn dặm lẻ
Bao giờ lại gặp thánh minh quân

Hoạ Vi xá nhân tảo triều – Thẩm Thuyên Kỳ

Điện trời liền mây nổi
Hành lang quét móc dăng
Hài châu xếp hàng nhạn
Cương ngọc vút bóng rồng
Đêm tàn chuông Trường Lạc
Sớm tấu rộn Minh Quang
Một kinh truyền đức cũ
Năm chữ nổi tài vang
Nghiêm chỉnh thần tiên trảy
Rộn rã cung trời sang
Ngàn xuân đời thịnh trị
Hộ giá vui rỡ ràng

Hồng Lâu viện ứng chế – Thẩm Thuyên Kỳ

Lầu hồng ngỡ thấy trắng hào quang
Chùa áp thần cung phúc Thịnh Đường
Chi Độn luyến non tình thắm thiết
Đạt Ma vượt biển dặm dài suông
Gió mai lò ấm tràn hương ngự
Đêm bặt lời kinh vẳng tiếng vàng
Ai bảo chốn này sao khó tới
Xót mình viện vắng bước lang thang

Tái nhập Đạo Trường kỷ sự ứng chế – Thẩm Thuyên Kỳ

Phương nam về lại chuyển thân đời
Nội điện năm nay khác trước rồi
Bày mở càn khôn ngôi mới định
Cao treo nhật nguyệt nét xa khơi
Bước theo xe ngự đường tiên rảo
Ngồi nép lò hương phép Phật ngời
Mừng rộn ân sâu hầu ngự giá
Hai triều vua thánh rạng lâu dài

Thù Tô viên ngoại Vị Đạo hạ vãn ngụ trực hung trung – Thẩm Thuyên Kỳ

Lên lầu tiên cùng sánh
Trực bộ Lễ chia nơi
Triều phục thị sử giúp
Bữa khuya Thái quan mời
Rèm cuốn Ngân Hà tỏ
Song mở sương trăng lơi
Cây cao mát sớm lại
Đầm nhỏ nực tàn lui
Xe quan chầu giờ mở
Mũ kiếm chẳng phút ngơi
Sớm mai đề cột Hán
Ba sảnh ánh xuân ngời

Mạnh Môn Hành – Thôi Hiệu

Sẻ vàng ngậm hoa vàng
Bên thềm liệng tản mạn
Vốn muốn đền ơn vua
Làm sao chống tên đạn
Chén vàng rượu ngon đầy nhà xuân
Bình Nguyên chuông tài khách quây quần
Chật toà toàn là người trung nghĩa
Hay đâu còn có loại nịnh thần
Lời dèm nói đi rồi nói lại
Dễ khiến lòng ai lẫn phải trái
Vườn bắc mới trồng cây mận đào
Gốc rễ chưa chắc đừng bới đào
Cây tốt ra quả anh tự hái
Hỏi người chung quanh biết được sao

Cửu nhật – Thôi Quốc Phụ

Cỏ lan bậc cuốn bặt chuông loan
Thăm thẳm mây cây điện biếc hàn
Trăng sáng tự đi rồi tự lại
Chẳng còn ai tựa ngọc lan can

Trường Lạc thiếu niên hành – Thôi Quốc Phụ

Roi san hô quên bỏ
Ngựa trắng kiêu chẳng rời
Chương Đài bẻ cành liễu
Tình xuân gửi lối đời

Trường Tín thảo – Thôi Quốc Phụ

Cỏ mọc cung Trường Tín
Tháng năm nảy nơi buồn
Hoài cây xưa lấp lối
Thềm ngọc cũng bặt luôn

Tảo phát Giao Nhai sơn hoàn Thái Thất tác – Thôi Tự

Rừng đông hơi mờ trắng
Chim lạnh chợt liệng ngang
Ta cũng về núi Bắc
Trở lại chốn thảo đường
Ngày rằm tháng mười một
Trời trăng ngóng hai phương
Chầm chậm qua Dĩnh Thượng
Loang loáng ánh tịch dương
Sông băng thêm tuyết đọng
Dâu khô lửa nội tràn
Đi lẻ đường dài dặc
Năm tàn dễ buồn thương
Thương cho khách không áo
Làm sao chống tuyết sương

Phú đắc bạch nhật bán Tây sơn – Thường Kiến

Tấm thân như đò nhẹ
Xế chiều khoảng núi Tây
Thường theo bóng buồm thẳm
Xa tắp giáp trời mây
Cảnh vật chuyển thanh u
Ánh chiều đẹp sườn cây
Long lanh dòng biếc mờ
Trời lặn ráng lẻ bầy
Bến bãi xa le lói
Mây hồ còn loáng bay
Bờ xa Kinh Môn khép
Rừng xám màu Sở dày
Đêm đến chuyển vắng quạnh
Se sắt lùa gió may
Bến cát cò vạc ngủ
Chốn đậu cỏ hà đầy
Trăng tròn dừng bãi trước
Đàn lẻ động vài dây
Lạnh lẽo đêm thăm thẳm
Sương băng đẫm áo dày

Tam nhật tầm Lý Cửu trang – Thường Kiến

Rừng liễu bờ đông mới tạnh mưa
Vĩnh Hoà hàn thực lướt con đò
Cố nhân nhà ở dinh Đào ấy
Trước cổng dòng khe chảy lững lờ

Quy Nhạn – Tiền Khởi

Tiêu Tương hà cớ trở về đây
Cát sáng dòng xanh rêu bến dày
Đàn sắt ngân đêm trăng loáng ánh
Không hơn nỗi oán lướt trời mây

Hồng Châu khách xá ký Liễu bác sĩ Phương – Tiết Nghiệp

Năm ngoái én làm tổ nhà chủ
Năm nay hoa nở bên đường đi
Năm năm làm khách không tới quán
Nước cũ mất còn chẳng biết chi
Bụi Hồ một dấy thiên hạ loạn
Gió xuân nơi nào chẳng biệt ly

Trùng dương nhật bồi Nguyên Lỗ Sơn Đức Tú đăng bắc thành, chúc đối tân tễ, nhân dĩ tặng biệt – Tiêu Dĩnh Sĩ

Huyện vùng cao mấy tầng thành cổ
Dăng dải xa vội vã lên trông
Mưa qua, thu toả mênh mông
Những là ẩn hiện bày trong mắt nhìn
Chân mây dòng Trĩ triền miên
Cuối trời hun hút đường chim thấy nào
Hứng Bành Trạch nao nao chưa dứt
Gió hiu hiu giục nức lòng quê
Công đường nhàn nhã gặp khi
Cúc thơm rượu ngát rót đi, mặc đời
Người mừng lúa gặt bời bời
Lệnh quan phép lính hết thời hay chăng
Mười dặm xanh dăng dăng núi trải
Lối thẳm nào mê mải màu mây
Mong manh nắng rớt nửa đầy
Mờ mờ ảo ảo ngỡ hay ngả chiều
Đâu đây cành động chim kêu
Trăng trong đêm vắng hắt hiu than mình
Niềm đau xót cảnh tình xuôi ngược
Lòng dặn lòng cất bước buổi mai
Nhục vinh dẫu đã thôi rồi
Tránh sao kẻ dạt người trôi não lòng
Giang hồ sao nỡ còn trông
Gió mưa đau đáu tấc lòng tương tư
Chuộng tài đời thịnh đương chờ
Phận mình nghề mọn bao giờ dám khoe
Ngày nào bỏ huyện lệnh đi
Cùng ai mình lại kết bề lênh đênh

Đồng tiễn Dương tướng quân kiêm Nguyên Châu đô đốc ngự sử trung thừa – Tô Đĩnh

Hung Nô nối Quy Sa
Triều đình cử Hổ Nha
Nhiên Minh thay phong tục
Khứ Bệnh quên tình nhà
Đăng đàn ngời lễ tướng
Lên ải rạng quân ta
Gió bắc rền trống Hán
Ngựa biên nhớ khèn Hồ
Rợp cờ quân tề chỉnh
Cao mũ rợn kẻ tà
Khải hoàn bõ lao khổ
Kề dòng ngự rộn hoa

Phụng hoạ sơ xuân hạnh Thái Bình công chúa nam trang ứng chế – Tô Đĩnh

Cung chúa lầu cao nước Bá liền
Ngự du xuân sớm cảnh bình yên
Phượng Hoàng dưới gác cao nghìn trượng
Ô Thước đầu cầu tiệc ngự chen
Đôi lúc giữa hoa màu đá rạng
Thời thường lối trúc suối hồng quen
Sáng nay hộ giá Bình Dương quán
Không tiện dòng Ngân một lá thuyền

Sứ Lĩnh Nam văn Thôi Mã nhị ngự sử bính bái thai lang – Tô Vị Đạo

Buổi chim bầy vút cánh
Cành oanh động tin xa
Minh Quang cùng đợi họp
Phong độ bao nếp ưa
Mừng được vua cất nhắc
Than nỗi gác đài chia
Rừng xưa nhớ bách rợp
Tướng mới ngăn lan đưa
Hình dê thần rời mũ
Đàn trĩ lành xe chờ
Nam Đẩu xa riêng ngán
Dải sao ngóng mịt mờ

Há Sơn ca – Tống Chi Vấn

Xuống núi Tung chừ nhiều suy tư,
Cùng người đẹp chừ bước từ từ.
Ngàn thông trăng sáng như thế mãi,
Người lại người đi biết bao giờ?

Hồ già khúc – Vương Xương Linh

Thành Nam, Hồ rợp đất
Một tối, mấy vòng vây
Khèn rộn từ đâu ấy
Ra ải, khúc vút bay
Vẳng nghe trăng ải khổ
Reo quyện biển gió lay
Lầu sớm, khèn ba khúc
Lệ Hồ lại gạt đầy

Lương uyển – Vương Xương Linh

Vườn Lương trúc cũ khói thu vương
Gió thảm ngoài thành chiều muốn buông
Cờ xí muôn xe đâu đó nhỉ
Bình Đài khách khứa có ai thương

Phù Dung lâu tống Tân Tiệm kỳ 1 – Vương Xương Linh

Mưa lạnh tràn sông tối tới Ngô
Tinh sương tiễn khách Sở non trơ
Bạn thân thành Lạc như thăm hỏi
Một tấm lòng băng giữa ngọc hồ

Tây cung thu oán – Vương Xương Linh

Hoa sen không sánh được người đẹp
Rèm ngọc lầu hồ gió thoảng hương
Lại oán quạt thu e ấp nỗi
Trăng sông treo sáng đợi quân vương

Thành bàng khúc – Vương Xương Linh

Cành dâu gió thu reo
Cỏ trắng thỏ đế kiêu
Mùi rượu Hàm Đan còn vương theo
Cánh đồng Bắc thành bắn chim điêu
Như hổ mọc cánh xông dinh vắng
Quay mình cánh cung ánh trăng treo

Tống Quách Tư Thương – Vương Xương Linh

Ngời cửa dòng Hoài biếc
Dừng ngựa tỏ tâm tình
Trăng sáng theo quan tốt
Triều xuân đầy năm canh

Tống Tiết đại phó An Lục – Vương Xương Linh

Mây mưa đầu bến ám non Tương
Đất Sở buồn xa khách võ vàng
Xa tiễn con thuyền về Lục quận
Chân trời đâu nhỉ Mục Lăng quan

Trường Tín thu từ kỳ – Vương Xương Linh

Thực là mệnh bạc dạ vò tơ
Mơ gặp quân vương tỉnh lại ngờ
Đuốc sáng cung Tây hay tiệc tối
Rõ ràng lối ngự chịu ơn vua

Ân tứ Nguỵ Văn Trinh Công chư tôn cựu đệ dĩ đạo trực thần – Trần Ngạn Bác

Tể tướng đã khuất núi
Dinh cơ cố cho người
Ý trời muốn báo đức
Con cháu được phần vui
Sinh thời tính trung trực
Thác rồi vẫn thơm dài
Mưa móc ơn ngày mới
Làng cũ xuân lan tươi
Công lao lưu cháu chắt
Rạng rỡ khắp nơi nơi
Cùng mừng đời thịnh trị
Mong được bậc hiền tài

Phụng sứ tuần kiểm lưỡng kinh lộ chủng quả thụ sự tất nhập Tần nhân vịnh – Trịnh Thẩm

Thánh đức đầy trời dất
Ánh xuân rạng đế kinh
Lệnh ban từ chín bệ
Ngàn dặm cây thơm cành
Ải Thiểm lan man khói
Dòng biên lác đác xanh
Khí hoà mầm nhú nảy
Mùa trĩu lòng dân sanh
Xuân móc cành lả lướt
Thu sương quả tròn xinh
Chân ai vờn bóng rợp
Áo sứ ấp hương quanh
Đường vào nhiều lối mải
Ngả rẽ nối hoàng thành
Gót tiên nào xứng lối
Níu lá rạng ân lành

Ký Tôn sơn nhân – Trừ Quang Hy

Tháng hai thuyền lẻ về rừng xuân
Nước ắp sông trong hoa ắp non
Xin hỏi vườn xưa quân tử ẩn
Giao du nhân thế có chăng còn

Quan san nguyệt – Trừ Quang Hy

Nhạn lẻ vút quân doanh
Não nề sương cổ thành
Khèn Hồ vẳng đâu đấy
Biên ải dậy đêm thanh

Trường An đạo kỳ 1 – Trừ Quang Hy

Vút roi qua quán rượu
Áo đẹp chơi ả đào
Muôn vạn thiêu một khắc
Đau đáu nói thế nào

Dao đồng Sái Khởi Cư yển tùng thiên – Trương Duyệt

Kinh kỳ cây cối tốt như nêm
Rằng một chồi thông vượt hẳn lên
Cảnh sắc thiên đình thêm nổi tiếng
Phong quang đầm ấm điện cung liền
Hồ treo rờ rỡ sương hoa đọng
Tán rợp tầng tầng mây thắm chen
Không tiếc tiên đơn phù vạc báu
Xin đem thân mạnh giúp vua hiền
Chớ sánh Minh Linh cây đất Sở
Bên sông già vụng cõi đời quên

Hoàn chí Đoan Châu dịch tiền dữ Cao Lục biệt xứ – Trương Duyệt

Cửa Phần giang quán cũ
Buồn trông rớt nắng hoe
Gặp nhau truyền bữa trọ
Ly biệt đổi chinh y
Sông núi xưa còn đấy
Đau nỗi đời suy vi
Lối này đều qua lại
Sống thác chẳng cùng về

Trên đây là những bản thơ dịch của Bùi Hạnh Cẩn mà chúng tôi muốn chia sẻ với bạn. Qua đó bạn sẽ hiểu hơn về phong cách sáng tác cũng như những chủ đề mà tác giả muốn gửi gắm qua những bài thơ. Và tất nhiên cũng đừng quên đón đọc Các bản thơ dịch tác giả khác của Bùi Hạnh Cẩn phần 8 để có được một cái nhìn sâu sắc hơn nhé!