Các bản thơ dịch của Bùi Hạnh Cẩn thể hiện được các yêu cầu về các thể thơ xưa. Với đặc trưng của các thể thơ này “ý tại ngôn ngoại” nên khi dịch vừa phải đảm bảo được nội dung của phần nguyên bản. Vừa phải đảm bảo được các yêu cầu về thể thơ. Để làm được điều đó đòi hỏi một người tài năng và có khả năng sử dụng văn chương tốt. Và Bùi Hạnh Cẩn là một trong số đó. Tiếp nối chùm Bản thơ dịch tác giả khác phần 4 chúng tôi sẽ giới thiệu tiếp cho bạn các bàn dịch hay chất lượng nhất.

Cung từ – Lý Kiến Huân

Cửa cung đóng mãi áo xiêm nhàn Nghe nói nhà vua tóc nạc lan Lại thích hoa rơi xuân chẳng biết Trôi từ ngòi ngự tới nhân gian

Phụng hoạ hạnh Vi Tự Lập “Sơn trang thị yến” ứng chế – Lý Kiệu

Non Đông: Nơi tể phụ Sông Lạc: Chốn vương sư U tình quên mũ trọng Chúa mến tới tiều ngư Núi Động nghiêm lệnh vắng Cầu Bá ơn xe qua Cửa thông rợp cờ xí Rèm đay rộn áo hoa Bậc đá dàn bãi rộng Lầu cao ngất xe mờ Ráng mây tiên kề lối Đàn rượu thói tục thưa Cây cao ngoài ngàn tuổi Thác đổ trăm trượng thừa Hang sâu từng luyện thuốc Động cổ chứa thi thư Cây đậu chim vẫy gió Ao lặn cá tự do Biết đây thiên tử quý Nhớ lều Vũ Hầu xưa

Thị yến Trường Ninh công chúa đông trang ứng chế – Lý Kiệu

Biệt thự kề cung điện Mây tía trẩy xe loan Tiệc lớn đông quyền quý Sáo tiên reo Phượng Hoàng Núi Nam cây liên tiếp Bến Bắc khói miên man Ơn cho say tuý lúy Lưu luyến, về chẳng ham.

Đề Lư Ngũ cựu cư – Lý Kỳ

Vật ở người đâu hẹn bặt rồi Đình hoang buộc ngựa sầu khôn nguôi Trước song biếc trúc rờn hoang bãi Ngoài cửa xanh non giống trước hoài Thao thiết trời thu xao lá rụng Chon von liễu úa lạnh chim ngơi Nhớ người rớt lệ dòng đông chảy Năm tháng đơm hoa biết vị ai

Phụng tống ngũ thúc nhập kinh kiêm ký Kỳ Vô Tam – Lý Kỳ

Mây mờ mang ánh xế Hận biệt lúc nào cùng Đường Hoàng Sơn muốn ngó Không thể thấy người mong

Thánh Thiện các tống Bùi Địch nhập kinh – Lý Kỳ

Tuyết hoa dày gác ngất Rêu sắc ngấn bao lan Thược dược im thềm vắng Ngô đồng lạnh nắng chang Trong veo ca khỏi bệnh Tay nắm tạm hân hoan Lá rơi hoà nhịp khánh Nóc chùa quạ đói ran Dòng Y đông hận biệt Nước Bá tây trông tràn Xưa cậy thượng thư sảnh Đường mây mấy gian nan

Thôi Ngũ Lục đồ bình phong các phú nhất vật đắc Ô Tôn bội đao – Lý Kỳ

Lưng người Ô Tôn đeo hai đao Lưỡi sắc đứt lông gấm làm dải Chuôi cầm thay gối ngủ trong lều Phi ngựa chém băng trên đồn ai Đeo dao ma quái chạy tan tác Ngời ngời ánh thép loá biển cát Phiến ngọc non âm làm đá mài Nghiêng sông Độc Lưu rửa mới sạch Bình phong chủ nhân vẽ kỳ lạ Bao sắt vòng vàng khéo điểm tô Quay đầu chăm chú không chớp mắt Lòng ta chợt nảy thú giang hồ

Tống Lý Hồi – Lý Kỳ

Biết anh quan chức Đại tư nông Xe ngự Ly Sơn chức trách hùng Năm phát bạc tiền hầu phủ ngự Ngày coi suối ấm rót ly cung Vách ngàn tuyết ráng đường cơ rợp Hoa lạnh đầu đông lối kiệu lồng Văn vật thanh danh đâu đó nhỉ Tự thương nấn ná bước Quan Đông

Hán cung từ – Lý Thương Ẩn

Sen biếc sang tây chửa thấy về Tập Linh vua ở mãi đài kia Quan hầu mắc chứng Tương Như khát Móc quý không hề được một ly

Phụng hoạ sơ xuân hạnh Thái Bình công chúa nam trang ứng chế – Lý Ung

Nghe đồn Ngân Hán còn đá dệt Lại thấy xe vàng vượt Tử Vi Chức Nữ bên cầu Ô Thước dựng Người tiên trên gác Phượng Hoàng phi Gió vần cung quán lay ca quạt Thác đổ sân thềm ẩm vũ y Nay buổi chung vai vượt Ngưu, Đẩu Cưỡi bè cùng lướt biển sóng về

Bồi Trương thừa tướng tự Tùng Tư giang đông bạc Chử Cung – Mạnh Hạo Nhiên

Tùng Tư theo nước xuống Lên thuyền giục chèo dòng Tạm lơi chuyện sách lược Chi ngại giờ giá băng Giặt khăn riêng cũ được Rửa mũ vẫn nay trông Nước ổn dân yên sống Quên ngờ chim thong dong Đảo lẻ ngút mây khói Bốn phương ngời núi sông Sắt se chiều ngả gió Chầm chậm trời về đông Vân Mộng săn khua vẳng Sở Từ chài rộn sông Chử Cung nào phải chốn Sông tối thuyền mênh mông

Tống Chu Đại nhập Tần – Mạnh Hạo Nhiên

Ngũ Lăng du khách biệt Kiếm báu ngàn vàng này Chia tay cởi gươm tặng Chút lòng một đời đây

Tống Đỗ thập tứ chi Giang Nam – Mạnh Hạo Nhiên

Kinh Ngô liên tiếp nước là làng Anh trẩy, sông xuân sóng rộn ràng Ngày xế thuyền trơ đâu chốn trọ Chân trời một ngó nát can tràng

Quân thành tảo thu – Nghiêm Vũ

Ải Hán đêm qua dậy gió thu Non tây mây bắc ải trăng lùa Càng xui phi tướng dồn quân dữ Chiến trận không tha một giặc thù

Thiếu niên hành – Ngô Tượng Chi

Đội ơn săn bắn Tiểu Bình Tân Khẳng khái thường quen cánh quý nhân Một ném ngàn vàng gan mật vững Nhà trơ bốn vách chẳng hay bần

Xuất quan – Ngụy Trưng

Lại đuổi hươu đồng rộng Ném bút theo việc quân Tung hoành kế chưa đạt Khảng khái chí hãy còn Chống gậy gặp Thiên tử Ruổi ngưa ra cửa quan Xin dây trói Nam Việt Tựa xa thu cõi đông Gắng gỏi lên núi dốc Ẩn hiện ngó đồng bằng Chim lạnh kêu cây cổ Vượn đêm hú núi hoang Đã mòn mắt ngàn dặm Quê xa mộng vương hồn Há không sợ gian hiểm “Quốc sĩ” nặng nghĩa ơn Quý Bố không hứa hão Hầu Doanh một lời tròn Đời người cảm chí khí Công danh mấy ai bàn.

Cửu nhật sứ quân tịch phụng tiễn Vệ trung thừa phó Trường Thuỷ – Sầu Tham

Tiết sứ hiên ngang miền tây đi Rung cung khoác giáp “Võ lâm nhi” Gió sương đài các dày cây cỏ Sát khí trong quân phủ bóng kỳ Biết trước ra oai hùng Hán tướng Chính khi tan tác bụi Hồ kia Sứ quân, xin chuốc thêm ly cúc Bên giậu đông say nhịp trúc ty

Đăng cổ Nghiệp thành – Sầu Tham

Xuống ngựa lên thành Nghiệp Thành suông không vết chi Lửa nội gió đông nổi Đêm tràn điện Phi Vân Góc thành nam ngó Vọng Lăng đài Chương thuỷ về đông nước chảy xuôi Vũ Đế cung xưa người vắng hết Năm năm xuân sắc tới vì ai

Hiến Phong đại phu phá Bá Tiên khải ca kỳ 1 – Sầu Tham

Tướng Hán đội ơn tây dẹp Nhung Thư mừng trước báo Vị Uơng cung Nhà vua định đón nơi Lân các Nhị Sư bây giờ ai nêu công

Hồ già ca tống Nhan Chân Khanh sứ phó Hà Lũng – Sầu Tham

Anh chẳng thấy khèn Hồ tiếng rất buồn Người Hồ râu tía mắt xanh thổi Thổi khèn một khúc còn chưa xong Sầu não chết người sang Lâu Lan Mùa thu tháng tám lối Tiêu Quan Gió bấc thổi đứt cỏ Thiên san Nam núi Côn Lôn trăng xế tà Người Hồ nhìn trăng thổi khèn Hồ Khèn Hồ oán chừ sắp tiễn anh Non Tần ngó mây non Lũng xanh Biên thành đêm đêm nhiều mộng oán Mấy ai thích nghe khèn đêm trăng

Phó Bắc Đình độ Lũng tư gia – Sầu Tham

Tây tới Luân Đài vạn dặm thừa Tin quê cũng biết sẽ càng thưa Lũng Sơn yểng vẹt từng hay nói Nhắn giúp quê nhà luôn gửi thư

Tảo thu dữ chư tử đăng Quắc Châu tây đình quan thiếu – Sầu Tham

Đỉnh cao chim vút lối Khách tới cùng với mây Rừng thoáng ngàn nhà nhỏ Trời dăng núi cúi mày Vồng lơi treo Thiểm Bắc Mưa gấp quá Quan Tây Vách dựng tràn vò rượu Khe xanh rộn tiệc đầy Quan hèn nào đáng nói Khách quý tay cầm tay Chỉ có vườn quê ấy Cảnh xưa chẳng đổi thay

Thích trung tác – Sầu Tham

Ngựa ruổi về tây muốn tới trời Xa nhà trăng sáng hai phen rồi Đêm nay chẳng biết nơi nào trọ Cồn cát ngàn muôn chẳng bóng người.

Thủ xuân Vị Tây giao hành, trình Lam Điền Trương Nhị chủ bạ – Sầu Tham

Vị Tây mấy bận gió cùng mưa Cỏ mượt hoa tươi lấm bụi mờ Tần Nữ tuyết còn vương vấn đỉnh Hồ Công dương mới ngả sau gò Sầu trông đầu bạc dơ lương ít Hối biệt non xanh nhớ suối xưa Nghe bảo Võng Xuyên nhiều chuyện tốt Rượu xuân bình ngọc chính nên đưa

Tửu Tuyền thái thú tịch thượng tuý hậu tác – Sầu Tham

Thái thú Tửu Tuyền gươm giỏi múa Nhà cao mở tiệc đêm trống gõ Khèn Hồ một khúc nghe nẫu lòng Nhìn nhau lệ khách như mưa đổ

Vi viên ngoại gia hoa thụ ca kỳ 1 – Sầu Tham

Năm nay hoa đẹp giống năm trước Người tới năm xưa nay già hết Mới hay người già không như hoa Đáng tiếc hoa rơi bác chớ quét

Vi viên ngoại gia hoa thụ ca kỳ 2 – Sầu Tham

Nhà ông anh em ít ai bằng Quan khanh, Ngự sử, Thượng thư lang Chầu về bên hoa thường họp khách Hoa rơi bình ngọc rượu xuân thơm

Vũ Uy tống Lưu phán quan phó Thích Tây hành quân – Sầu Tham

Núi lửa tháng năm người đi thưa Ngựa anh dồn vó tựa chim vù Hành dinh đô hộ tây Thái Bạch Một tiếng còi vang sáng đất Hồ

Vương Chiêu Quân Từ – Thạch Sùng

Ta vốn nhà nền nếp Sắp sang đất Thiền Vu Kẻ đi lời chửa hết Phía trước đã bay cờ Hầu tớ dàn dụa lệ Ngựa xe cũng ngẩn ngơ Thương nhau quặn gan ruột Vạt lụa hoen lệ mờ Ngày lại ngày dầu dãi Rồi đến cõi Hung Nô Lều vải làm cung điện “Yên Chi” đổi xưng hô Đất lạ luôn đau đáu Giàu sang mà chi giờ Cha con cùng làm nhục Vừa sợ lại vừa dơ Muốn chết không phải dễ Ẩn nhẫn kiếp sống thừa Sống thừa càng tủi cực Phẫn uất rối tơ vò Muốn nhờ cánh hồng nhạn Cưỡi vút nẻo mây mờ Hồng nhạn cũng hờ hững Đứng ngồi đều thẫn thờ Xưa là ngọc hộp quý Nay lại hoá phân khô Hoa sớm không thoả dạ Đành rầu như cỏ thu Nhắn nhủ người hậu thế Chớ có lấy chồng xa

Lạc Dương khách xá phùng Tổ Vịnh lưu yến – Thái Hy Tịch

Dằng dặc canh khuya giữa Lạc thành Nghèo suông quán khách một thân mình Gặp anh mua chịu men cho uống Say khướt hay chi mọi thế tình.
Trên đây là các bản thơ dịch tiếp theo của nhà thơ Bùi Hạnh Cẩn mà chúng tôi muốn giới thiệu với bạn. Với các bản dịch này bạn sẽ hiểu thêm về nội dung cũng như cách sáng tác các thể thơ xưa. Tuy sử dụng những câu chữ ngắn gọn nhưng những bài thơ này chuyển tải được ý nghĩa vô cùng sâu sắc. Đừng quên đón đọc Chùm thơ dịch tác giả khác của Bùi Hạnh Cẩn phần 6 để hiểu thêm về tài hoa của ông bạn nhé!