Bùi Hạnh Cẩn là một nhà thơ khá nổi tiếng, ông đã ghi lại được dấu ấn tích cực từ phía người hâm mộ. Bởi qua các bản dịch của ông người ta có thể hiểu thêm về phong cách sáng tác của các tác giả nguyên bản. Qua đó cũng thể hiện được tài năng  của ông trong việc sử dụng ngôn ngữ và dịch thuật. Tiếp nối Chùm thơ dịch tác giả khác của Bùi Hạnh Cẩm phần 2 chúng tôi xin giới thiệu tới bạn những bản dịch khác cũng đặc sắc không kém.

Tóm tắt nội dung

Hí tặng Triệu sứ quân mỹ nhân – Đỗ Thẩm Ngôn

Người đẹp má hồng mây Sở rạng
Ngựa hoa đào mượt thạch lựu quần
La Phu đi lẻ về đông đấy
Hãy học nhà ai Triệu sứ quân

Tặng Tô Oản thư ký – Đỗ Thẩm Ngôn

Nghe anh chữ nghĩa đẹp thơ ca
Ải bắc theo quân lệnh chửa ra
Ngày tháng lầu hông nên tính buổi
Yên Chi núi ấy chớ sa đà

Tặng Tô Vị Đạo – Đỗ Thẩm Ngôn

Đất bắc lạnh rất khổ
Vùng nam “thú” chưa về
Khen Khương loạn biên ải
Gió bắc quyện nhung y
Mưa tuyết quan san xám
Sương gió cỏ cây thưa
Quân Hồ không thiết đánh
Lính Hán vẫn trùng vi
Mây quang sao gở rụng
Thu sâu ngựa béo phì
Trên yên gươm báu động
Vẫy bút hịch thư đi
Xa giá về đô cũ
Bạn đón khắp kinh kỳ
Đang giữa ngày báo tiệp
Múa hát xuân bốn bề

Nhạc Dương lâu trùng yến Vương Bát viên ngoại biếm Trường Sa – Giả Chí

Sông lối về đông ngàn dặm triều
Kinh kì bắc ngó cách mây đèo
Đừng bảo Ba Lăng hồ nước rộng
Trường Sa nam ấy lại đìu hiu

Sơ chí Ba Lăng dữ Lý thập nhị Bạch, Bùi cửu đồng phiếm Động Đình hồ kỳ 2 – Giả Chí

Lác đác bờ phong lá rụng nhiều
Động Đình thu nước sóng dâng chiều
Hứng lay thuyền nhẹ xa gần thỏa
Thăm hỏi Tương Nga mây trắng treo

Tảo triều Đại Minh cung – Giả Chí

Đuốc rực tàn đêm trải tía đường
Màu xuân thành cấm sớm xanh dương
Ngàn cành liễu mượt rờn Thanh Toả
Trăm giọng oanh reo dậy Kiến Chuơng
Vòng kiếm rộn ràng theo bước ngọc
Cân đai ngan ngát toả lò hương
Sóng ân ao Phượng cùng chung hưởng
Đẫm bút ngày ngày giúp thánh vương

Tây đình xuân vọng – Giả Chí

Ngày dài gió ấm liễu xanh xanh
Nhạn bắc bay về lẫn mông mênh
Trên Nhạc Dương thành nghe sáo thổi
Những khiến lòng xuân ắp Động Đình

Phụng hoạ “Xuân nhật xuất uyển chúc mục” ứng lệnh – Giả Tăng

Đồng Long sớm đã vấn an rồi
Xe ngự xuân chơi Bác Vọng đài
Vị Bắc nắng bừng lay cỏ lá
Chung Nam khí đẹp toả lâu đài
Chiêu hiền đã được Thương Sơn lão
Nhờ kiệu còn nêu Nghiệp quận tài
Thần ở Đông Chu riêng nấn ná
Lời vàng mừng gặp sáng bên trời.

Tống khách tri Ngạc Châu – Hàn Hoằng

Cửa bến ngàn nhà mây Sở lơi
Hoa sông nở loạn tuyết tơi bời
Gió xuân ngày muộn ai quen biết
Ông Ngạc thuyền sang chững chạc ngồi

Túc Thạch Ấp sơn trung – Hàn Hoằng

Núi cao chẳng khớp với mây bay
Mắt ngó mờ sương biếc núi dày
Trăng sớm tạm theo ngàn gốc chuyển
Sông thu cách mấy ngọn non tây

Tái hạ khúc kỳ 1 – Hạo Nhiên thiền sư

Ải lạnh “Mơ rơi” bỗng chợt nghe
Khèn Hồ theo gió tiếng vi vu
Lao Lao đình ấy xuân đang tới
Tối tối thành nam lính chửa về

Lỗ sơn tống biệt – Hoàng Phủ Nhiễm

Khách du lạnh lẽo khổ thân bồng
Trăng sáng ly suông chỉ tạm cùng
Nam ngó ngàn non màu thẫm lại
Buồn anh lối trọ cũng nằm trong

Tống Nguỵ thập lục hoàn Tô Châu – Hoàng Phủ Nhiễm

Thu tối trầm trầm một tiễn anh
Dế giun ri rỉ nỡ nghe đành
Tỳ Lăng mai sớm con đò lại
Quay ngó Cô Tô mây trắng quanh

Bán chẩm thư hoài – Hồ Xuân Hương

Nửa trời mưa gió nửa trời thanh,
Đất khách thê lương mộng khó thành.
Bạn hát có thần cùng họp mặt,
Ma tình không sức đuổi sầu binh.
Trong chăn gầy nửa thân thanh lịch,
Trên chiếu chia đều phận nổi nênh.
Một nỗi mênh mông lời chẳng siết,
Cõi trần được mấy mắt đôi xanh.

Cố kinh thu nhật – Hồ Xuân Hương

Thấm thoát đường thu ánh nguyệt tà,
Chốn xưa lại chuốc chén phồn hoa.
Dòng Tô nước cuốn về tây hết,
Tam Đảo trời quan ngó bắc xa.
Đèn rạng chăn xanh thương vật cũ,
Sương buông móc trắng đọng mô nhà.
Lần này gặp mặt càng mong nhớ,
Khách mãi năm tàn nỗi thế a!

Dữ Sơn Nam Thượng Hiệp trấn quan Trần Hầu xướng hoạ kỳ 5 – Hồ Xuân Hương

Lâu nghe danh tiếng gặp nhau mừng,
Gần ngó dung quang nắng giữa đông.
Ý đậm vừa quen hay nước đạm,
Tình mong vừa chuốc biết men nồng.
Châu ta thanh khí thêm ưa chuộng,
Cùng hội tài tình nhẽ vốn chung.
Tay nắm lòng trao người chớ lạ,
Một đi sông Lục nước ngàn trùng.

Dữ Sơn Nam Thượng Hiệp trấn quan Trần Hầu xướng hoạ kỳ 6 – Hồ Xuân Hương

Gặp nhau bèo nước rượu đầy trăng,
Gan ruột bao niềm khó nói năng.
So phím cầu hoàng lời có ý,
Rộn cây chim khách chuyện lăng xăng.
Tiếng khèn về Hán ai thành thuộc,
Gót ngọc sang Hồ thẹn tấm thân.
Nửa tiệc chia tay tình đậm nhạt,
Hồn trinh gái Sảnh mãi giăng giăng

Dữ Sơn Nam Thượng Hiệp trấn quan Trần Hầu xướng hoạ kỳ 7 – Hồ Xuân Hương

Thẹn không tài điệu khiến người kinh,
Gió bụi mười năm giọng nhạc rành.
Đà nhẽ vào cờ hay địch thủ,
Chả cần gõ nguyệt khổ đàn tinh.
Làm xe làm đạn tuỳ phen gặp,
Ai phượng ai oanh mặc bẩm sinh.
Con tạo với người sao quá tiếc,
Tối tăm đừng giở ngọc châu lành.

Dữ Sơn Nam Thượng Hiệp trấn quan Trần Hầu xướng hoạ kỳ 8 – Hồ Xuân Hương

Ném hết thông minh bớt rõ rành,
Che tâm lấp ý cỏ lan nhanh.
Chỉ đành theo phận dồn bôn tẩu,
Chưa được yên lòng gạt nhục vinh.
Mái tóc tuyết sương thân cũng mệt,
Đầy nồi cám bã vị không kinh.
Thương hương tình dại hơn ta nữa,
Đèn lạnh khêu tàn chả ngán canh.

Đề Trấn Quốc tự – Hồ Xuân Hương

Cảnh chùa ai đó khách đài trang,
Gió mát hiu hiu quạt nhẹ tàn.
Trăng nước sóng lồng sen nõn nẩy,
Khói hương toà báu móc mây tràn.
Rửa lâng niềm tục đằm vẻ,
Gọi tỉnh đường mê cỏ cũng xuân (xoan).
Đến cảnh xui người quay lại hỏi,
Đông nam tay vẫy nhạn nên đàn

Giang Nam phụ níp kiêm lưu biệt hữu nhân – Hồ Xuân Hương

Khăn gói bây giờ vạn dặm nao,
Đình đài rượu tiễn chén đang trao.
Buồn dâng buồm vút thuyền nghiêng nặng,
Sầu nén sông sâu nước chẳng dào.
Cỏ cũ nhìn lâu hương chửa tản,
Làng ai quay lại núi quê cao.
Rồi ra còn có phen cùng gặp,
Thể biển thà cho đợt sóng ào.

Nguyệt dạ ca kỳ 1 – Hồ Xuân Hương

Trăng ngà sương móc châu sa,
Rập rờn qua lại lại qua ngời ngời.
Cố nhân góc bể chân trời,
Yêu nhau chả gặp ngậm ngùi lòng nhau.
Miếng hoang thần nữ rêu rầu,
Đài cao vua Sở một màu mây hoang.
Bốn bề trăng sáng mênh mang,
Người ta mong nhớ giờ đang nơi nào.

Nguyệt dạ ca kỳ 2 – Hồ Xuân Hương

Hoa làm chữ chừ nhuỵ làm thơ
Ráng làm xiêm chừ áo là mây
Cũng đã gặp nhau chừ lòng ta vui vầy
Lời gửi chừ sao chậm chầy
Sông Tương nghe buồn chẩy
Non Thục sầu nén đầy
Trời trăng chừ không gốc chừ
Chung đúc mối tình
Biết bao giờ đây?

Ngư ông khúc hành – Hồ Xuân Hương

Già quê đạm bạc cũng phồn hoa
Lầm tưởng đào non là dây hờ
Nhắn nhủ người câu đò nhẹ lướt
Qua sông đừng lắng tiếng tỳ bà
Qua sông đừng lắng tỳ bà
Tiếng cao không giống sáo Hồ thê lương
Nguồn đào trời nước mênh mang
Nhà tiên hé mở, chèo buông đò chài
Muôn trùng xuân khoá Thiên Thai
Tiếng ốc buồn, tiếng đàn vui chả cùng
Cỏ bời lợp, núi lạnh lùng
Sông Tô hầu tới thung dung gió nhàn

Nhập An Bang – Hồ Xuân Hương

Gió bụi lông bông bước vẫn tràn,
Lênh đênh gươm sách tới An Bang.
Sừng sên sông núi đôi con mắt,
Quán trọ càn khôn dạ dặm ngàn.
Thơ tứ dám rằng ma núi khóc,
Thành sầu đành mượn lính men hàng.
Say toan nhờ kéo châu Tinh cắt,
Non nước xinh này cắt nửa gang.

Quá Khinh Dao từ hoài cổ – Hồ Xuân Hương

Non biển cung tên trải mọi thời,
Đường dài dừng bước chợt quan hoài.
Ngựa voi sân trước đôi vòng bạc,
Áo mũ cung trong một đống ngời.
Sông núi còn vì người trước tiếc,
Cỏ cây ngầm với tuyết đông phai.
Cao xanh có ý sang tuần mới,
Bụi đỏ giông tràn sạch kiếp hôi.

Tái ngoại văn châm – Hồ Xuân Hương

Trống canh sông chợt động bên thành,
Chầy lạnh bên tai lại thậm thình.
Đứt nối trong sương bầy nhạn sợ,
Mơ hồ dưới vách tiếng trùng inh.
Khuê sâu chinh khách chừng tan mộng,
Nước cũ du nhân vẫn nặng tình.
Thoả ý chả hay khi thuốc đắng,
Canh gà giọng lẫn nhịp đàn sênh.

Thiếu niên du điệu – Hồ Xuân Hương

Tiệc quỳnh nở hoa
Nâng ly chuốc nguyệt
Phong lưu nhà nào a
Ông Lý nét bay
Nàng Từ đưa bút
Thanh nhã vào thơ ca
Tối nay thế nào giờ?
Trên chiếu trao niềm
Bên đèn kể nỗi
Vỗ bút cười ha ha

Thu dạ hữu hoài – Hồ Xuân Hương

Đêm sâu người lặng riêng ngẩn ngơ
Lầu mây rượu lạnh nửa vòng bạc
Nước láng gió dài giọt đồng trơ
Hoa hoa trăng trăng người chủ là ta
Xuân vắng vẻ
Hứng xuân chẳng nhiều ư?
Bóng nhạn về đâu mây ở lại
Dế giun như khóc nước trôi lờ

Thu nhật tức sự – Hồ Xuân Hương

Đêm qua lành lạnh gió tây về,
Dậu cúc đìu hiu tuyết chửa đi.
Mưa nặng sông chia mờ vẻ mặt,
Mây trơ non thẳm vẽ đường mi.
Sen tàn hạ cuối dây thơm sót,
Liễu ngả xuân thừa biếc áo che.
Chim hót nỗi mình chăng có thấu?
Lời lời dài đọng nỗi lòng quê.

Thu phong ca – Hồ Xuân Hương

Gió thu nổi chừ mây trắng bay
Nhạn về nam chừ vàng rơi cỏ cây
Lan có đẹp chừ cúc có thơm
Nhớ người đẹp chừ không sao quên
Ta có rượu chừ không bạn uống
Ta có đàn chừ không tri âm
Không chuốc rượu chừ không đàn cầm
Mấy chén chè trong chừ lòng cố nhân

Thu vũ – Hồ Xuân Hương

Trời cách mây mù thảm chả xanh,
Mưa thu sân vắng giọt buồn tanh.
Đầu cành cây héo châu dài vắn,
Trên lá tiêu vàng tiếng chậm thanh.
Hát dứt đê mê mơ vạn dặm,
Sầu giăng quạnh quẽ nỗi năm canh.
Khuê sâu rất khổ mày hoa ấy,
Vẻ mặt buồn thương vẽ chẳng thành.

Vịnh thạch phu phụ – Hồ Xuân Hương

Nhà cửa yên lành nơi góc biển,
Thong dong ngày tháng mãi nhàn du.
Đông tây núi ngó thương gào vợ,
Nam bắc non nhìn ngắm vọng phu.
Gắn bó nghĩa dài trời đất sánh,
Xướng tuỳ lời động biển non chờ.
Lại qua ví hỏi đàn con cháu,
Đá ở đầu non khách dưới đò.

Trên đây là những bản thơ dịch tác giả khác của nhà thơ Bùi Hạnh Cẩn mà chúng tôi muốn giới thiệu. Phong cách của ông khá đa dạng, cụ thể ông có thể dịch được thơ của các tác giả Trung Quốc lẫn Việt Nam. Trong bộ sưu tập bản dịch của ông còn có rất nhiều tác phẩm đặc sắc khác. Vì vậy đừng quên theo dõi bài viết Chùm thơ dịch tác giả khác của nhà thơ Bùi Hạnh Cẩm phần 4 bạn nhé!