Nhà thơ Bùi Hạnh Cẩn và những bản thơ dịch tác giả khác (Phần 2)



Bùi Hạnh Cẩn là người có chuyên môn và kiến thức sâu rộng. Vì vậy các bản dịch của ông đều rất sát nghĩa, không làm mất đi ý gốc của tác phẩm. Và lại đảm bảo được sự gần gũi dễ hiểu. Tiếp nối Các bản dịch thơ tác giả khác của Bùi Hạnh Cẩn phần 1, chúng tôi sẽ gợi ý cho bạn các bản dịch phần 2. Đây là các bản dịch liên quan đến các tác phẩm của Cao Bá Quát và Cao Thích.

Bản dịch của Bùi Hạnh Cẩn về các bài thơ của Cao Bá Quát

Tóm tắt nội dung

Ẩm tửu đắc chư hữu giai tác tức phục tẩu bút thư thị

Làng xưa cảnh vật vẫn y nguyên
Năm sáu năm qua mấy nổi chìm
Ly rượu trong tay cùng nỗi khách
Bên trời buồn lẻ khói sương chen
Rành rành trăng khuyết như từng hẹn
Chót vót non cao trước mắt nhìn
Cuồng lão nói cười vang bốn phía
Vốn nay Ngao Tẩu chính Ngoan Tiên

Bạc mộ

Vách dựng núi cao làn gió ngược
Khói mờ sương đậm giọt như tơ
Lập loè ánh đóm không che sáng
Cánh muỗi trong màn được bữa no
Ôm gối ngâm xong người tự trẩy
Tựa lầu tâm sự biết mình ta
Sớm mai, muộn cúc, lơ thơ nở
Cũng thấy dăm cành vẻ lắc lư

Bạc xuân giản Nguyễn Chính Tự

Chiều muộn mong anh anh chả tới
Rộng phanh vạt áo gió đùa lơi
Qua cầu chợt tiếng giày khua động
Vào ghế vui nhau ắp chén mời
Bốn biển tri giao tôi vụng nhất
Trăm năm tâm sự ngỏ cùng ai
Giàu tình ơn quá trăng non ánh
Từng góp chiêm bao kẻ lánh đời

Bệnh trung (Vị tử tàn hình nhất hủ nho)

Còn sống thân tàn gã hủ nho
Mọi điều ngồi đứng thẩy nương nhờ
Nghiêng thân trời đất buồn tay lẻ
Ngẩng ngó mây xanh chí lớn mờ
Về tổ ngày nao cùng lũ én?
Đậu vườn đâu lúc thẹn đàn ô
Duy Ma bệnh ấy trẻ chưa biết
Luôn hỏi vòng lưng đã lỏng chưa?

Bệnh trung (Xuân lai tâm lực lưỡng kham tăng)

Xuân về tâm lực kém đôi đằng
Gầy rộc vòng lưng lỏng quá chừng
Vào cuộc lẻ thân ngựa ngàn dặm
Xem văn đôi mắt đèn vạn năm
Bên giường vợ vụng đang lơi tóc
Kéo áo, con thơ gối cánh nằm
Đâu biết một cười nhàn chửa được
Chén trà thanh đạm quá thiền tăng

Bệnh trung hữu hữu trung chiêu ẩm tịch thượng tác

Mỗi hẹn xuân về mang rượu tới
Xuân về âm tín bặt tăm hơi
Soi gương đất khách ba phần rộc
Giữa bệnh nhìn hoa một vẻ lười
Vào cuộc công danh như chõ vỡ
Nếp nhà kinh sử mổ rồng chơi
Người ta nhầm tưởng văn chương quý
Muốn mượn men nồng chuyển mặt tươi

Biệt Phạm Đôn Nhân lang trung

Đã bốn năm rồi không gặp mặt
Gặp nhau thương bác lại thương thân
Mịt mù thân thế rồi sao nhỉ
Man mác càn khôn tạm bợ phần
Muôn dặm mong về hồn Tử Mỹ
Một quan lắm bệnh rạc Hưu Văn
Sớm mai lại ngó cầu sông ấy
Một dải mây liền núi bắc nam

Bồn lan hoạ Di Xuân thứ vận

Hang sâu quen nhẽ khóm lan thơm
Vắng vẻ còn hay lánh tục nhàn
Thân rễ vốn nương nơi viện thẳm
Lá cành thêm biếc chốn lan can
Vẻ trinh sớm biết niềm sương gió
Khí tiết đành thương tuế nguyệt tàn
Cũng có tấm lòng đồng cảm đấy
Ân cần gìn giữ vẻ hồng nhan

Cảm phú

Nghe nói đây là Tam Tấn cũ
Từng chia triều chính mấy sơn hà
Cớ sao sông núi bao hùng hiểm
Lại vội tơi bời rệu rã ra
Cỏ biếc vây quanh mồ chiến sĩ
Tro đen kiếp cuối đến Di Đà
Thiếu gì trai tráng “xin dây” đấy
Mà chỉ tướng quân hát khải ca

Cấm sở cảm sự, túng bút ngẫu thư

Trẻ trai tâm tính sớm ngông cuồng
Được hỏng đôi đằng chả vấn vương
Say rượu lính coi thường Lý lão
Cảnh nghèo trò vẫn mến Tiêu lang
Sáo rung Thử Cốc trời xoay ấm
Gươm rớt Phong Thành tối loé gương
Thơ phú đừng đem vào núi thẳm
Thạch Cừ rồi lại kén văn chương

Cấm sở cửu nguyệt trình chư hữu nhân

Vừa giống Đông Pha, tựa Thoái Chi
Nỗi đời sâu bọ có hay gì
Những đau răng lưỡi làm tai vạ
Mà chuyện văn chương khó quẳng đi
Đâu biết xưa nay trùng cửu hận
Chính giờ người tự chuốc thu bi
Tiện đây thơ gửi dòng Hương ấy
Đành mượn Thiều Khê ý trước kia

Cửu nhật chiêu khách

Nhà giam lại gặp ngày thu muộn
Vui giữa trùng dương chuốc chén men
Rơi mũ ai đề văn Tết mới
Mang roi chừng thử gã ngoan tiên
Nhìn quanh các khách quen ta cả
Trong đó riêng mình tuổi thiếu niên
Ngày khác tiệc này đâu có nữa
Cuộc chơi kỳ diệu chép niên thiên

Cửu nhật hoạ Di Xuân kiến ký thứ vận

Hoa vàng đẹp tựa ly vàng đấy
Say rượu lên cao nhớ mấy hồi
Hái ngắt chưa hay bao nữa tốt
Đìu hiu chẳng thấy lúc này tươi
Một thu mưa khổ ai người khoẻ
Ba luống đằm sương tối xế rồi
Rầu rĩ gió tây thân bến khách
Nỗi niềm linh lạc thảy tơi bời

Dạ quan Thanh nhân diễn kịch trường

Sân khấu bừng lên đuốc sáng choang
Tiếng hò vụt dậy gió đêm hàn
Dựng râu tráng sĩ nghênh ngang giáp
Trừng mắt tướng quân đã nhảy yên
Vào cuộc há không mày mặt thực
Áo quần kiểu cũ nói cười ran
Hổ Môn chuyện mới người hay chẳng
Ngán nỗi người nao dán mũi xem

Dạ thoại thị Phan Hành Phủ

Vội vã ngâm rồi lại tự bi
Mười năm đun đẩy chuyện chi chi
Không đành ngó lại đường Kinh khuyết
Nhớ lúc gần nhau chốn trấn ty
Thấm thoắt lại qua đều định mệnh
Cuối cùng lo lắng có nơi nghe
Trước đèn nhác chuyện anh nên tiếc
Đẩu lặn Sâm tà sáng đã hoe

Di đĩnh nhập Dũng Cảng

Đò đưa vang giọng lối Ba Tân
Ngàn dặm thành non mới bội phần
Một bến chia dòng trong đục khác
Cùng thuyền quen lạ thảy nên thân
Xa nhà hồ biển niềm trăn trở
Vào cuộc phong ba mộng rõ dần
Chỉ muốn túi nghèo không ngại giữ
Long đong đất khách khói hoa xuân

Du Đằng giang dữ hữu nhân đăng Kim Chung tự, tuý hậu lưu đề

Trượng phu ba chục chẳng thành danh
Đi khắp trời xa vẫn bất bình
Tóc ngắn nên thương ta vẫn sống
Mê dương sao cứ vướng chân mình
Có trò ưa mến Tiêu Tài tử
Không rượu ai mời Nguyễn Bộ binh
Hát trọn “Bảy bài” quay ngó lại
Mắt trừng… thân thế quá mông mênh

Du mỗ cố trạch dạ thính đàn tranh

Tay lướt đàn tranh nhịp rộn ràng
Càng nghe càng rõ “Tiểu Tần vương”
Tám năm xa cách bao ngơ ngẩn
Mối tối buồn xuân mãi ngổn ngang
Sen hạt có tâm rành tự đắng
Hoa dương mềm yếu vị ai thương
Thử đem sóng nước dòng Tô Lịch
Niềm tục trần gian rửa sạch trơn

Du Nam Tào sơn tự, lâu thượng ký vọng đề bích trình Thúc Minh kỳ 1

Hai chục năm qua lại tới chơi
Non sông như thế, ta sao rồi
Ruổi rong ngoài cuộc như nay tốt
Lắm khách trong chùa bạn cũ thôi
‘Núi Phượng khói che nhà ẩn sĩ
Kiếp giang xuân tới miếu vua tài
Cổ Phao thành ấy đừng nên ngó
Chuyện cũ anh hùng sóng biếc trôi

Du Nam Tào sơn tự, lâu thượng ký vọng đề bích trình Thúc Minh kỳ 2

Hỏi đạo non cao ý chửa vừa
Vạn An cầu ấy tạm nương nhờ
Thử mang rượu đục tìm nơi vắng
Lại tới sông trong chuyển hướng đò
Chín khúc khe quanh cây gió lượn
Trăm năm cuộc thế sóng triều đưa
Nam Tào sớ ấy xin cho biết
Mơ tới thiên đình tuyệt đỉnh chưa?

Du Quan thị viên cư khán cúc

Gió vàng hiu hắt trời se mát
Bụi quế, chòm lan thảy toả hương
Cúc quý mấy nhành thanh đạm cả
Tranh thu một bức vẻ phong quang
Cát Hồng quan hỏi bên hồ nước
Đào lệnh người tìm dưới giậu thơm
Hoa xã muốn cùng ông kết bạn
Nơi say men ấy đã là làng

Dữ gia nhân tác biệt thị dạ dư bệnh chuyển phát

Tự cười mình chẳng mau quên lãng
Bao nỗi buồn vui bấn suốt năm
Bọc kín tấm gương ngày tạm biệt
Chập chờn đèn lẻ mối sầu dăng
Mơ quê bên gối ba canh vẳng
Sợi bạc trên đầu một tối tăng
Xuân lạnh ai mong người đất khách
Phong phanh áo cói lệ thành băng

Dữ Hoàng Liên Phương ngữ cập hải ngoại sự, triếp hữu sở cảm, tẩu bút dư chi

Đìu hiu bên trướng gã tham quân
Nghe tới “tu ngu” chợt ngại ngần
Thân khách khói mây còn vạn dặm
Gặp người trăng gió thuở ba xuân
Cưỡi bè mình tự bàn Trương sứ
Khoét mắt nhờ ai viếng Ngũ Viên
Ta vốn Trung Nguyên nhân vật cũ
Gió tây quay ngó lệ khăn đằm

Dư hốt ư mộng trung vãng thám Tuần Phủ, ám tưởng kinh trung cố nhân hoặc đương hữu niệm ngã giả, nhân ký Tuần Phủ kiêm trình Đôn Nhân Phạm tử kỳ 1

Góc thành ở náu buồn day dứt
Giữa mộng… sông nam chợt ghé chơi
Tôi đã nhác lười nằm khểnh mãi
Cố nhân nên gắng tới hương đài
Mắt xanh khổ nỗi nguyền khi sống
Riêng tấm lòng son thác chửa thôi
Quay ngó Hải Vân xa chót vót
Rưng rưng châu lệ ngó nhành mai

Dư hốt ư mộng trung vãng thám Tuần Phủ, ám tưởng kinh trung cố nhân hoặc đương hữu niệm ngã giả, nhân ký Tuần Phủ kiêm trình Đôn Nhân Phạm tử kỳ 2

Bình sinh mọi việc chả theo tâm
Chí lớn giờ sao vẫn lữa lần
Không nỡ Chim Vàng nghe đọc nữa
Lẽ đâu Rồng náu mãi thơ ngâm
Ải tây chiêng trống ran thành động
Bắc đẩu trời mây tối thấp dần
Phiêu bạt thân này vô dụng quá
Ốm đau tiều tuỵ cả mùa xuân

Dương phụ hành

Thiếu phụ phương Tây áo màu huyết
Dưới trăng bên chồng ngồi ghé vai
Ngó sang thuyền Nam đèn nến sáng
Tay nắm áo chồng trò chuyện dài
Một li sữa cầm vẻ chểnh mảng
Đêm biển từ đâu gió lạnh về
Đứng lên lại có chồng nâng đỡ
Có biết người Nam nỗi biệt ly

Đại cảnh môn ngoại diểu vọng trình đồng du giả

Núi rám mồng tơi dâu bến mướt
Mịt mù mắt ngó cảnh đau thương
Đầy trời diều cắt thu dông gió
Bãi thả trâu dê cỏ ải hoang
Cồn cát ví không thành chiến địa
Núi mây cũng tự vẻ tang thương
Chỉ e nhắc khổ Long thành nữa
Vàng ngọc giờ thêm dựng Kiến Chương

Đại vũ kỳ 1

Ngoài thành Đại La mưa ròng ròng
Phía tây dòng Nhị nước mênh mông
Màu mỡ giúp cho rau thu tốt
Sóng dào lan khắp mọi nương đồng
Nơi nơi ra cửa đều thuyền mảng
Nhà nhà mai, cuốc đều ngăn sông
Xóm cũ hẹn nhau nay lại tới
Mùa nay các bác cứ ung dung

Đại vũ kỳ 2

Gái goá đêm qua chốn hậu cung
Làm sao châu lệ ngập ngang không
Phùng Di giận bực, thuồng luồng quấy
Trục đất xoay nghiêng lũ cuốn rừng
Khua mái vì ai Trùng Dã tử
Tựa lầu sao nhỉ Thiếu Lăng ông
Xin đem khí thế ngàn thôn xóm
Muôn trượng ngang mây bắc nhịp vồng

Đắc Hà thành cố nhân thư thoại cập gia tình kiêm vấn cận tác

Thăm hỏi Chương Sơn nơi ẩn cũ
Mẹ cha hai trẻ thảy vuông tròn
Sáu năm sinh tử bao chìm nổi
Một lá thư giao cảm khái dồn
Nay trước việc nhiều nên nhận rõ
Văn chương đạo nhỏ phải chăm hơn
Cũng hay trần luỵ không lâu được
Đầu bạc khi về khép cổng luôn

Đăng Hoành Sơn

Non xanh lớp lớp đường muôn dặm,
Cỏ nội bên non rộn bước chân.
Chinh chiến còn suông tên một luỹ,
Anh hùng chẳng giữ nước ngàn năm.
Tan mây núi bắc mưa đêm tạnh,
Rạng sáng thôn nam nắng mới lâng.
Xuống núi mới hay leo núi khổ,
Tự than dằng dặc nợ duyên trần.

Tương vũ hý tác

Sông chiều rộn rã tiếng ve rền,
Trời chuyển âm u cảnh dịu liền.
Nắng xế non tây mây tựa lụa,
Gió nồm chợt lạnh chớp như xiên.
Một con ếch ộp bờ rau động,
Muôn cánh chuồn chuồn khói nội chen.
Về xóm bác nông mừng hớn hở,
Được mùa, giò lợn cỗ ngon thêm.

Xuân dạ độc thư

Người nay không biết xuân thời cổ
Đau đáu xuân này nhớ cổ nhân
Thế sự mấy rồi nay chả cổ
Mắt nhìn đừng nhận ảo thành chân
Biết bao danh lợi như mưa sáng
Vô số anh hùng tựa bụi trần
Thói tục cười ta chưa rũ được
Gần đây sách vở quá say chăm

Bản dịch của Bùi Hạnh Cẩn về các bài thơ của Cao Thích (Trung Quốc)

Bồi Đậu thị ngự phiếm Linh Vân trì

Móc trắng đầu thu đổ
Sông trong tứ chẳng cùng
Giang hồ chơi ải ngắt
Thuyền khuấy động quân trung
Múa rộn cây ven biển
Ca vang gió muộn rung
Nắng chiều liền nước biển
Màu ải thu mênh mông
Hứng dậy nên giữ khách
Tìm vui chẳng tránh ông
Ai thương chim cánh nhỏ
Còn muốn gần uyên hồng

Cửu Khúc từ kỳ 3

Dọc ngang thiết mã đầu non Thiết
Tây ngó La Sa kiếm ấn Hầu
Thanh Hải hồ giờ cho ngựa uống
Sông Hoàng khỏi nghĩ chuyện ngừa thu

Điền gia xuân vọng

Ra cửa chỉ nhìn thấy
Màu xuân đầy đồng nương
Đáng tiếc không tri kỷ
Toàn bạn rượu Cao Dương

Sử Thanh Di quân nhập Cư Dung kỳ 1

Dặm dài thân ngựa lẻ
Đường trận chuyển gian nan
Chẳng hay biên địa biệt
Chỉ lạ áo ai sờn
Tiếng suối đau khe lạnh
Cây lá héo non hoang
Đừng bảo quan tái rộng
Mây tuyết còn mang mang

Tái thượng thính xuy địch

Tuyết sạch trời Hồ ngựa chăn về
Khèn Khương trăng sáng trại quân nghe
Hoa mai thử hỏi nơi nào rụng
Quan ải một đêm gió bộn bề

Tống Lưu bình sự sung Sóc Phương phán quan phú đắc “Chinh mã tê”

Ngựa chiến ruổi biên châu
Tiếng hý mãi rầu rầu
Vì thu đành đứt giọng
Ly biệt nên tình sầu
Ngả rẽ gió xa mãi
Ải ngàn trăng cùng sầu
Tặng anh này chia biệt
Ngày nao gặp lại nhau

Tống Sài tư hộ sung Lưu khanh phán quan chi Lãnh Ngoại

Lãnh Ngoại nhờ đất mạnh
Cần quân gửi tước cao
Công khanh ngồi mạc phủ
Sứ giả giỏi từ tào
Biển ngó thành Dương rộng
Non liền quận Tượng cao
Gió sương dồn chướng khí
Trung tín vượt ba đào
Hận biệt theo nước chảy
Giao tình gươm báu trao
Có tài đâu chẳng đạt
Đi nhé mặc gian lao

Tống trung kỳ 1

Vua Lương xưa thịnh đạt
Khách khứa nhiều người tài
Một ngàn năm dằng dặc
Dấu cũ trơ cao đài
Cỏ thu nhìn quạnh quẽ
Xao xác gió dặm dài

Tự Kế Bắc quy

Cửa Kế Bắc ngựa biên rong ruổi
Lạnh gió mùa giọng nỗi bi ai
Trời Hồ tít tắp trải dài
Miên man núi mở mé ngoài xa xa
Năm tướng đà vào sâu đất lạ
Cánh tiên quân ước nửa đã lui
Thương ai chí chẳng hợp thời
Một thân quay ngọn gươm dài về đây

Bùi Hạnh Cẩn được đánh giá cao bởi khả năng ngôn ngữ của mình, chính vì vậy các bản dịch của ông rất được yêu thích sử dụng. Bên cạnh đó thông qua các bản dịch này người ta có thể hiểu thêm về các sáng tác của Cao Bá Quát, Cao Thích. Do ảnh hưởng của thời đại nên các phần nguyên bản của các tác phẩm này thật khó để hiểu nhất là đối với các bạn trẻ. Và cũng đừng quên đón đọc Các bản dịch thơ tác giả khác của Bùi Hạnh Cẩn phần 3 nhé!

so1vn - Tags: