Giới thiệu với độc giả yêu thơ phần 3 của tập thơ Ức trai thi tập. Phần thơ này được sáng tác trong giai đoạn nhà thơ Nguyễn Trãi về ở ẩn tại Côn Sơn.

Tóm tắt nội dung

Tập thơ làm trong thời ở ẩn tại Côn Sơn

Giang hành 江行 • Đi thuyền trên sông

江行
西津初艤棹,
風景便江湖。
雨過山容瘦,
天長鴈影孤。
滄浪何處是?
漁釣好為徒。
回首東華地,
塵埃覺已無。

Giang hành
Tây tân sơ nghĩ trạo,
Phong cảnh tiện giang hồ.
Vũ quá sơn dung sấu,
Thiên trường nhạn ảnh cô.
Thương Lang hà xứ thị?
Ngư điếu hảo vi đồ.
Hồi thủ Đông Hoa địa,
Trần ai giác dĩ vô.

Dịch nghĩa
Vừa ghé bên bến phía tây
Quả là cảnh đẹp tiện ngao du
Dáng núi gầy đi sau cơn mưa
Bên trời xa lẻ loi một bóng nhạn
Dòng sông Thương Lang ở đâu đây?
Vui đánh bạn với dân chài cũng tốt lắm
Nghoảnh lại nhìn đất Đông Hoa
Tự thấy ta như rũ sạch bụi trần.

Đề vân oa 題雲窩 • Đề am mây

題雲窩
半簾花影滿床書,
庭外蕭蕭水竹居。
盡日雲窩無箇事,
黑甜一枕半窗虛。

Đề vân oa
Bán liêm hoa ảnh mãn sàng thư,
Đình ngoại tiêu tiêu thuỷ trúc cư.
Tận nhật Vân Oa vô cá sự,
Hắc điềm nhất chẩm bán song hư.

Dịch nghĩa
Bóng hoa in trên nửa bức rèm, giường đầy những sách
Ngoài sân tĩnh mịch có những thuỷ trúc
Suốt ngày ở am mây chẳng làm gì cả
Một chiếc gối, ngủ ngon giấc bên song cửa khép hờ.

Mộng sơn trung 夢山中 • Giấc mộng trong núi

夢山中
清虛洞裡竹千竿,
飛瀑霏霏落鏡寒。
昨夜月明天似水,
夢騎黃鶴上仙壇。

Mộng sơn trung
Thanh Hư động lý trúc thiên can,
Phi bộc phi phi lạc kính hàn.
Tạc dạ nguyệt minh thiên tự thuỷ,
Mộng kỳ hoàng hạc thượng tiên đàn.

Dịch nghĩa
Trong động Thanh Hư có hàng nghìn cây trúc
Thác nước bay xuống như lớp kính lạnh
Đêm qua trăng sáng trời như nước
Chiêm bao thấy cưỡi hạc vàng lên cõi tiên.

Mộ xuân tức sự 暮春即事 • Tức cảnh cuối xuân

暮春即事
閑中盡日閉書齋,
門外全無俗客來。
杜宇聲中春向老,
一庭疏雨楝花開。

Mộ xuân tức sự
Nhàn trung tận nhật bế thư trai,
Môn ngoại toàn vô tục khách lai.
Ðỗ Vũ thanh trung xuân hướng lão,
Nhất đình sơn vũ luyện hoa khai.

Dịch nghĩa
Nhàn rỗi suốt ngày đóng cửa phòng sách
Ngoài cửa vắng khách tục đến
Trong tiếng đỗ vũ kêu ý chừng xuân đã muộn
Cả một sân hoa soan nở dưới mưa phùn.

Trại đầu xuân độ 寨頭春渡 • Bến đò mùa xuân ở đầu trại

寨頭春渡
渡頭春草綠如煙,
春雨添來水拍天。
野徑荒涼行客少,
孤舟鎮日擱沙眠。

Trại đầu xuân độ
Ðộ đầu xuân thảo lục như yên,
Xuân vũ thiêm lai thuỷ phách thiên.
Dã kính hoang lương hành khách thiểu,
Cô chu trấn nhật các sa miên.

Dịch nghĩa
Cỏ xuân ở đầu bến đò, xanh biếc như khói,
Lại thêm mưa xuân nước tiếp ngang trời.
Ðường đồng nội vắng tanh, ít người qua lại,
Ngày thường chiếc đò cô độc ghếch mái chèo lên bãi cát mà nằm yên.

Hí đề 戲題 • Đề vui

戲題
閑來無事不清哦,
塵外風流自一家。
珪璧千重開疊巘,
玻瓈萬頃漾晴波。
管弦嘈雜林邊鳥,
羅綺芳芬塢裡花。
眼底一時詩料富,
吟翁誰與世人多。

Hí đề
Nhàn lai vô sự bất thanh nga,
Trần ngoại phong lưu tự nhất gia.
Khuê bích thiên trùng khai điệp nghiễn,
Pha lê vạn khoảnh dạng tình ba.
Quản huyền tào tạp lâm biên điểu,
La ỷ phương phân ổ lý hoa.
Nhãn để nhất thì thi liệu phú,
Ngâm ông thuỳ dữ thế nhân đa.

Dịch nghĩa
Khi nhàn rỗi, không việc gì mà không ngâm nga thanh nhã
Ta tự là bậc phong lưu ngoài cõi tục
Núi non trùng điệp mở ra như ngọc khuê ngọc bích
Nước trong sóng sánh như muôn khoảnh pha lê
Chim bên rừng ríu rít như đàn sáo
Hoa trong giậu như lụa là thơm ngát
Nơi đáy mắt nhà thơ, một khi đã giàu thi liệu
Thì nhà thơ với người đời, ai hơn ai ?

Tức hứng 即興 • Cao hứng làm ngay

即興
攬翠亭東竹滿林,
柴門晝掃凈陰陰。
雨餘山色清詩眼,
潦退江光凈俗心。
戶外鳥啼知客至,
庭邊木落識秋深。
午窗睡醒渾無寐,
隱几焚香理玉琴。

Tức hứng
Lãm Thuý đình đông trúc mãn lâm,
Sài môn trú tảo tịnh âm âm.
Vũ dư sơn sắc thanh thi nhãn,
Lạo thoái giang quang tịnh tục tâm.
Hộ ngoại điểu đề tri khách chí,
Ðình biên mộc lạc thức thu thâm.
Ngọ song thuỵ tỉnh hồn vô mị,
Ẩn kỷ phần hương lý ngọc cầm.

Dịch nghĩa
Phía đông đỉnh Lãm Thúy trúc mọc đầy rừng
Cửa rào tre ban ngày quét sạch bong
Mưa tạnh, sắc núi xanh làm trong trẻo mắt nhìn thơ mộng
Lụt rút rồi, ánh sáng trên sông tẩy sạch lòng tục
Chim kêu ngoài cửa biết là có khách
Lá rụng bên sân báo mùa thu đã muộn
Bên cửa sổ ban trưa tỉnh dậy rồi không ngũ được nữa
Dựa ghế đốt trầm đánh đàn ngọc.

Vãn hứng 晚興 • Hứng buổi chiều

晚興
窮巷幽居苦寂寥,
烏巾竹杖晚逍遙。
荒村日落霞棲樹,
野徑人稀水沒橋。
今古無窮江漠漠,
英雄有恨葉蕭蕭。
歸來獨憑欄杆坐,
一片冰蟾掛碧霄。

Vãn hứng
Cùng hạng u cư khổ tịch liêu,
Ô cân trúc trượng vãn tiêu diêu.
Hoang thôn nhật lạc, hà thê thụ.
Dã kính nhân hy, thuỷ một kiều.
Kim cổ vô cùng giang mạc mạc,
Anh hùng hữu hận diệp tiêu tiêu.
Quy lai độc bẵng lan can toạ,
Nhất phiến băng thiềm quải bích tiêu.

Dịch nghĩa
Trong ngõ cùng, ở nơi vắng vẻ, buồn nỗi quạnh hiu,
Khăn đen, gậy trúc đi dạo chơi buổi chiều.
Nơi thôn vắng, mặt trời xế, ráng đậu trên cây,
Con đường ngoài nội ít người qua lại, nước ngập cầu.
Xưa nay thời gian không cùng như sông chảy xuôi mờ mịt,
Anh hùng mang hận như tiếng gió thổi cây lá nghe vu vu.
Trở về một mình ngồi tựa lan can,
Một mảnh trăng sáng lạnh như băng treo trên nền trời biếc.

Mạn thành (II) 漫成 • Tản mạn (II)

漫成
青年芳譽靄儒林,
老去虛名付夢尋。
杖策何從歸漢室,
抱琴空自操南音。
仲尼三月無君念,
孟子孤臣慮患心。
但喜弓箕存舊業,
傳家何用滿贏金。

Mạn thành (II)
Thanh niên phương dự ái nho lâm,
Lão khứ hư danh phó mộng tầm.
Trượng sách hà tòng quy Hán thất,
Bão cầm không tự tháo Nam âm.
Trọng Ni tam nguyệt vô quân niệm,
Mạnh Tử cô thần lự hoạn tâm.
Đãn hỉ cung cơ tồn cựu nghiệp,
Truyền gia hà dụng mãn doanh câm.

Dịch nghĩa
Thuở thanh xuân từng được tiếng thơm trong rừng nho học
Đến lúc già chỉ biết tìm danh hão trong mộng
Do đâu (có người) chống roi ngựa đi theo phục vụ nhà Hán?
Ôm đàn chỉ gãy khúc nhạc Nam âm
Trọng Ni buồn vì ba tháng không có vua
Mạnh Tử lo lắng cho cảnh cô thần (lòng lâm cảnh hoạn nạn)
Mừng được sự nghiệp cung cơ cũ còn lại
Cần gì nhiều vàng bạc để lưu lại cho con cháu?

Thứ vận Hoàng môn thị lang Nguyễn Cúc Pha hạ tân cư thành 次韻黃門侍郎阮菊坡賀新居成 • Hoạ vần bài thơ của Hoàng môn thị lang Nguyễn Cúc Pha mừng nhà mới

次韻黃門侍郎阮菊坡賀新居成
弓餘僻地半榛荊,
喜得新詩當座銘。
瓮秫屢傾謀婦酒,
囊書惟有草玄經。
蓬門倒履迎佳客,
花塢移床近曲櫺。
笑我老來狂更甚,
旁人休怪次公醒。

Thứ vận Hoàng môn thị lang Nguyễn Cúc Pha hạ tân cư thành
Cung dư tịch địa bán trăn kinh,
Hỷ đắc tân thi đương toạ minh.
Ung thuật lũ khuynh mưu phụ tửu,
Nang thư duy hữu thảo Huyền kinh.
Bồng môn đảo lý nghinh giai khách,
Hoa ổ di sàng cận khúc linh.
Tiếu ngã lão lai cuồng cánh thậm,
Bàng nhân hưu quái Thứ công tinh.

Dịch nghĩa
Chỗ đất vắng hơn một công, phân nửa rậm rạp gai
Mừng được bài thơ mới nên chép vào chỗ ngồi (để nhớ)
Hũ gạo thường dốc nghiêng, nghĩ chuyện nấu rượu với vợ
Túi sách chỉ có chép Thái Huyền kinh thôi
Mang ngược dép vội ra cửa bồng đón khách quý
Dời giường gần chỗ gốc giàn hoa
Tự cười ta về già càng điên lắm
(Nhưng) người láng giềng chớ lạ rằng Thứ Công vẫn tỉnh đây.

Đồ trung ký Thao giang thứ sử Trình Thiêm Hiến 途中寄洮江何刺史程僉憲 • Dọc đường gửi thứ sử đất Thao Giang là Trình Thiêm Hiến

途中寄洮江何刺史程僉憲
洮江一別意悠悠,
杯酒論文憶舊遊。
東岸梅花晴映纜,
平灘月色遠隨舟。
程公世上無雙士,
何老朝中第一流。
鈴閣想應清話處,
天涯肯念故人不。

Đồ trung ký Thao giang thứ sử Trình Thiêm Hiến
Thao Giang nhất biệt ý du du,
Bôi tửu luận văn ức cựu du.
Đông Ngạn mai hoa tình ánh lãm,
Bình Than nguyệt sắc viễn tuỳ châu.
Trình Công thế thượng vô song sĩ,
Hà Lão triều trung đệ nhất lưu.
Linh các tưởng ưng thanh thoại xứ,
Thiên nhai khẳng niệm cố nhân phù?

Dịch nghĩa
Sau khi từ biệt sông Thao lòng ta bồi hồi
Chén rượu câu văn luận bàn gợi nhớ lại chỗ đã đến chơi xưa
Bên bờ phía đông trời tạnh ánh sáng quyện vào hoa mai
Trên bãi sông ánh trăng đã đi xa theo thuyền
Trình Công là kẻ sĩ có một không hai trên đời
Trong triều Hà Lão là người bậc nhất
Nghĩ rằng Linh các đúng là nơi đời sống thanh nhàn
Có nhớ đến cố nhân ở chân trời chăng?

Thu nguyệt ngẫu thành 秋月偶成 • Đêm trăng thu ngẫu nhiên làm

秋月偶成
幽齋睡起獨沈吟,
案上香消凈客心。
靜裏乾坤驚萬變,
閑中日月値千金。
儒風冷淡時情薄,
聖域優遊道味深。
讀罷群書無箇事,
老梅窗畔理瑤琴。

Thu nguyệt ngẫu thành
U trai thuỵ khởi độc trầm ngâm,
Án thượng hương tiêu tịnh khách tâm.
Tĩnh lý càn khôn kinh vạn biến,
Nhàn trung nhật nguyệt trị thiên kim.
Nho phong lãnh đạm thời tình bạc,
Thánh vực ưu du đạo vị thâm.
Độc bãi quần thư vô cá sự,
Lão mai song bạn lý dao cầm.

Dịch nghĩa
Phòng vắng ngủ dậy, một mình trầm ngâm,
Hương trên án cháy hết lắng sạch lòng khách.
Trong cõi tĩnh lặng kinh sợ nỗi biến hoá muôn ngàn của trời đất,
Ở cảnh nhàn tháng ngày đáng giá ngàn vàng.
Thói nhà nho lạnh nhạt, tình đời bạc bẽo,
Cõi thánh thong dong mùi đạo thâm sâu.
Đọc xong các sách không bận việc gì,
Bên cội mai già cạnh song cửa gảy dao cầm.

Hạ nhật mạn thành (II) 夏日漫成 • Tản mạn ngày hè (II)

夏日漫成
雨過庭柯長綠陰,
蟬聲宮徵奏虞琴。
窗前黃卷公媒睡,
戶外青山故索吟。
晝靜乾坤寬道思,
人間名利醒初心。
回頭三十年前事,
夢裡悠悠更莫尋。

Hạ nhật mạn thành (II)
Vũ quá đình kha trưởng lục âm,
Thiền thanh cung chuỷ tấu Ngu cầm.
Song tiền hoàng quyển công môi thuỵ,
Hộ ngoại thanh sơn cố sách ngâm.
Trú tĩnh càn khôn khoan đạo tứ,
Nhân gian danh lợi tỉnh sơ tâm.
Hồi đầu tam thập niên tiền sự,
Mộng lý du du cánh mạc tầm.

Dịch nghĩa
Mưa tạnh, cành cây ngoài sân thêm sắc xanh
Tiếng ve ngâm như tấu nhạc vua Ngu Thuấn
Trước song cửa cuốn sách vàng ru giấc ngủ
Ngoài kia núi non xanh biếc giục ngâm thơ
Ngày lặng, trong trời đất gieo ý đạo
Người nhàn đã giác ngộ về lòng ham danh lợi buổi đầu
hồi tưởng lại công việc ba mươi năm về trước
Trong mộng mịt mù khó thể tìm lại được.

Tiên Du tự 仙遊寺 • Chùa Tiên Du

仙遊寺
短棹繫斜陽,
匆匆謁上方。
雲歸禪榻冷,
花落澗流香。
日暮猿聲急,
山空竹影長。
箇中真有意,
欲語忽還忘。

Tiên Du tự
Đoản trạo hệ tà dương,
Thông thông yết thượng phương.
Vân quy Thiền sáp lãnh,
Hoa lạc giản lưu hương.
Nhật mộ viên thanh cấp,
Sơn không trúc ảnh trường.
Cá trung chân hữu ý,
Dục ngữ hốt hoàn vương (vong).

Dịch nghĩa
Mái chèo ngắn buộc trong bóng xế
Vội vàng lên chùa lễ Phật
Mây kéo về làm lạnh giường Thiền
Hoa rụng xuống khiến dòng suối thơm.
Chiều hôm tiếng vượn kêu rộn
Núi trống bóng trúc dài ra;
Trong cảnh ấy thật có ý
Ta muốn nói ra bỗng lại quên lời.

Đề Bão Phúc nham 題抱腹岩 • Đề vách Bão Phúc

題抱腹岩
平明擱棹上岩頭,
乘興聊為玉局遊。
九轉丹成孤鶴去,
三神股斷一鰲浮。
石欄影附滄江月,
仙洞煙含碧樹秋。
是處真堪容我隱,
山中還有舊砂不。

Đề Bão Phúc nham
Bình minh các trạo thướng nham đầu,
Thừa hứng liêu vi Ngọc Cục du.
Cửu chuyển đơn thành cô hạc khứ,
Tam thần cổ đoạn nhất ngao phù.
Thạch lan ảnh phụ thương giang nguyệt,
Tiên động yên hàm bích thụ thu.
Thị xứ chân kham dung ngã ẩn,
Sơn trung hoàn hữu cựu sa phù.

Dịch nghĩa
Sáng sớm gác mái chèo lên đỉnh núi
Thừa hứng tham quan cảnh Ngọc Cục
Sau chín lần luyện thành linh đơn chim hạc đã đi mất
Ba núi thần bị đứt chân và một con ngao đã nổi lên ở đây
Lan can đá phản chiếu ánh trăng trên dòng sông xanh
Khói ở cửa động tiên nhuốm vẻ mùa thu trên cây lá
Chốn này quả đáng cho ta ở ẩn
Trong núi còn có đơn sa để luyện thuốc trường sinh chăng?

Bài thơ này hoạ vần bài Đề Hiệp Sơn Bão Phúc nham của Phạm Sư Mạnh.

Bão Phúc nham tức núi Bão Phúc ở Đông Triều (Quảng Yên, Bắc Việt) gồm nhiều ngọn ở giữa lòng sông lớn, có động Bão Phúc ở chân núi ăn ra đến dòng nước, ngoài có bãi cát, cây cối um tùm, có thờ thuỷ thần rất thiêng, nay gọi là Hang Son. Trong động có hang sâu, đốt đuốc đi không cùng được, đất toàn màu đỏ gạch.

Về chữ Hán của tên Bão Phúc, sách Nguyễn Trãi toàn tập của Đào Duy Anh in là 抱腹, nhưng không nêu rõ văn bản gốc. Bài Bão Phúc nham của Thái Thuận cũng dùng 抱腹. Tuy nhiên, bài Đề Hiệp Sơn Bão Phúc nham của Phạm Sư Mạnh tương truyền từng được khắc tại động này lại dùng chữ 抱福. Chữ đại tự “Bão Phúc nham” còn trên động hiện nay do vua Trần Hiến Tông cho khắc năm 1329 cũng dùng 抱福. Chưa rõ hai cách dùng khác biệt này do đâu.

Côn Sơn ca 崑山歌 • Bài ca Côn Sơn

崑山歌
崑山有泉,
其聲冷冷然,
吾以為琴弦。
崑山有石,
雨洗苔鋪碧,
吾以為簞席。
岩中有松,
萬里翠童童,
吾於是乎偃息其中。
林中有竹,
千畝印寒綠,
吾於是乎吟嘯其側。
問君何不歸去來,
半生塵土長膠梏。
萬鐘九鼎何必然,
飲水飯蔬隨分足。
君不見:董卓黃金盈一塢,
元載胡椒八百斛。
又不見:伯夷與叔齊,
首陽餓死不食粟?
賢愚兩者不相侔,
亦各自求其所欲。
人生百歲內,
畢竟同草木。
歡悲憂樂迭往來,
一榮一謝還相續。
丘山華屋亦偶然,
死後誰榮更誰辱。
人間箬有巢由徒,
勸渠聽我山中曲。

Côn Sơn ca
Côn Sơn hữu tuyền,
Kỳ thanh lãnh lãnh nhiên,
Ngô dĩ vi cầm huyền.
Côn Sơn hữu thạch,
Vũ tẩy đài phô bích,
Ngô dĩ vi đạm tịch.
Nham trung hữu tùng,
Vạn lí thuý đồng đồng,
Ngô ư thị hồ yển tức kì trung.
Lâm trung hữu trúc,
Thiên mẫu ấn hàn lục,
Ngô ư thị hồ ngâm tiếu kì trắc.
Vấn quân hà bất quy khứ lai,
Bán sinh trần thổ trường giao cốc ?
Vạn chung cửu đỉnh hà tất nhiên,
Ẩm thuỷ phạn sơ tuỳ phận túc.
Quân bất kiến: Đổng Trác hoàng kim doanh nhất ổ,
Nguyên Tái hồ tiêu bát bách hộc.
Hựu bất kiến: Bá Di dữ Thúc Tề,
Thú Dương ngạ tự bất thực túc ?
Hiền ngu lưỡng giả bất tương mâu,
Diệc các tự cầu kì sở dục.
Nhân sinh bách tuế nội,
Tất cánh đồng thảo mộc.
Hoan bi ưu lạc điệt vãng lai,
Nhất vinh nhất tạ hoàn tương tục.
Khâu sơn hoa ốc diệc ngẫu nhiên,
Tử hậu thuỳ vinh cánh thuỳ nhục.
Nhân gian nhược hữu Sào Do đồ,
Khuyến cừ thính ngã sơn trung khúc.

Côn Sơn là một ngọn núi ở xã Chí Ngại, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương (Bắc Việt), trên núi có động Thanh Hư, dưới có cầu Thấu Ngọc, đều là thắng cảnh (theo sách Quảng Dư Chí). Đời Trần, Trúc Lâm thiền sư dựng am ở đây, và trạng nguyên Lý Đạo Tái (tức sư Huyền Quang) sau khi từ chức trở về nhập thiền và trụ trì chùa Ân Tứ ở núi này. Triều Trần, quan Tư đồ Trần Nguyên Đán, ông ngoại của Nguyễn Trãi, thường ngâm thơ uống rượu ở núi Côn Sơn sau khi từ chức vì can gián Hồ Quý Ly chuyên quyền mà không được. Tác giả từng thừa hưởng cơ ngơi của ngoại tổ.

Bài ca này Nguyễn Trãi làm khi về nghỉ ở Côn Sơn, cạnh chùa Hun, nhân dịp sưu tập, sắp xếp tập thơ Băng Hồ Ngọc hác tập của Trần Nguyên Ðán, ông ngoại mình.

Phần thơ làm trong giai đoạn nhà thơ sang Trung Quốc

Gồm 12 bài thơ

Quá hải 過海 • Qua biển

過海
撥盡閑愁獨倚蓬,
水光渺渺思何窮。
松林地斥疆南北,
龍尾山橫限要衝。
義氣掃空千障客,
壯懷呼起半帆風。
扁舟羨我朝天客,
直駕鯨鯢跨海東。

Quá hải
Bát tận nhàn sầu độc ỷ bồng,
Thuỷ quang diểu diểu tứ hà cùng.
Tùng Lâm địa xích cương Nam Bắc,
Long Vĩ sơn hoành hạn yếu xung.
Nghĩa khí tảo không thiên chướng vụ,
Tráng hoài hô khởi bán phàm phong.
Biển chu tiển ngã triều thiên khách,
Trực giá kình nghê khoá hải Đông.

Dịch nghĩa
Gác bên mọi sầu muộn, một mình ta tựa mạn thuyền
Ánh nước mênh mông khó tả sao cho hết ý
Rừng tùng mở ra ranh giới chia Nam Bắc
Núi Long Vĩ chặn ngay chỗ hiểm yếu
Lòng nghĩa khí quét sạch mây mù
Chí anh hùng gọi gió thổi căng nửa cánh buồm
Thuyền con mừng ta làm khách đi chầu thiên khuyết (triều đình Trung Quốc)
Cưỡi cá kình vượt biển Đông.

Tầm Châu 潯州 • Quận Tầm Châu

潯州
潯州城下鼓鼙聲,
客路還淹數月程。
溪洞有氓山八萬,
戍樓吹角月三更。
岸篁瑟瑟悲風起,
江水悠悠旅夢清。
老我世途艱險熟,
中宵不寐獨傷情。

Tầm Châu
Tầm Châu thành hạ cổ bề thanh,
Khách lộ hoàn yêm sổ nguyệt trình.
Khê động hữu manh sơn bát vạn,
Thú lâu xuy giốc nguyệt tam canh.
Ngạn hoàng sắt sắt bi phong khởi,
Giang thuỷ du du lữ mộng thanh.
Lão ngã thế đồ gian hiểm thục,
Trung tiêu bất mị độc thương tình.

Dịch nghĩa
Dưới thành Tầm Châu vang tiếng trống
Hành trình của khách phải dừng lại ở đây mấy tháng
Trong khe động có dân miền núi ở hàng vạn (tám vạn)
Trên vọng gác vang tiếng tù và
Bụi tre bên sông nổi tiếng gió buồn thảm
Khách lữ hành mơ màng trên nước sông mênh mông
Ta đã già, đường đời gian khó đã thấm nhuần
Giữa đêm không ngủ, một mình riêng thương xót.

Bình Nam dạ bạc 平南夜泊 • Đêm đậu thuyền ở Bình Nam

平南夜泊
片帆高颭晚風輕,
暮宿平南古縣城。
燈影照人和月影,
樹聲敲夢併灘聲。
湖山有約違初志,
歲月如流漫此生。
夜半戍樓吹畫角,
客中悽愴不勝情。

Bình Nam dạ bạc
Phiến phàm cao chiếm vãn phong khinh,
Mộ túc Bình Nam cổ huyện thành.
Đăng ảnh chiếu nhân hoà nguyệt ảnh,
Thụ thanh xao mộng tính than thanh.
Hồ sơn hữu ước vi sơ chí,
Tuế nguyệt như lưu mạn thử sinh.
Dạ bán thú lâu xuy hoạ giốc,
Khách trung thê sảng bất thăng tình.

Dịch nghĩa
Cánh buồm giương phập phồng trong gió chiều thổi nhẹ
Buổi tối tá túc ở huyện thành cổ Bình Nam
Ánh đèn hoà cùng ánh trăng chiếu vào người
Tiếng cây cùng với tiếng thác nước xua giấc mộng
Chí nguyện trước với núi sông giờ đã bị vi phạm
Năm tháng như trôi qua cuộc đời uổng phí
Nửa đêm tù và thổi trên lầu canh
Trong lòng khách thương xót khôn xiết.

Ngô Châu 梧州 • Quận Ngô Châu

梧州
路入青梧景更嘉,
岸邊陽柳映人家。
九疑積翠峰如玉,
二廣分流水若叉。
琳觀空聞飛白鶴,
仙人不見袖青蛇。
火山冰井真奇事,
舊俗相傳恐亦差。

Ngô Châu
Lộ nhập Thanh Ngô cảnh cánh gia,
Ngạn biên dương liễu thốc nhân gia.
Cửu Nghi tích thuý phong như ngọc,
Nhị Quảng phân lưu thuỷ nhược xoa.
Lâm Quán không văn phi bạch hạc,
Tiên nhân bất kiến tụ thanh xà.
Hoả sơn băng tỉnh chân kỳ sự,
Cựu tục tương truyền khủng diệc soa.

Dịch nghĩa
Đường đến Thanh Ngô (Ngô Châu) cảnh lại càng đẹp
Dương liễu bên bờ rợp bóng nhà dân
Núi Cửu Nghi màu biếc nom như ngọc
Miền Lưỡng Quảng (Quảng Đông, Quảng Tây) dòng nước chia như rẽ đôi
Đền Ngọc (Bạch hạc quán) thấy nói có hạc trắng bay
Trong (bụi) cây tiên nhân chẳng thấy có rắn xanh tụ tập
Núi lửa và giếng băng quả là chuyện lạ
Tục xưa truyền lại e có sai chăng?

Du Nam Hoa tự 遊南華寺 • Chơi chùa Nam Hoa

遊南華寺
神錫飛來幾百春,
寶林香火契前因。
降龍伏虎機何妙,
無樹非臺語若新。
殿側起樓藏佛缽,
龕中遺跡蛻真身。
門前一派漕溪水,
洗盡人間劫劫塵。

Du Nam Hoa tự
Thần tích phi lai kỷ bách xuân,
Bảo Lâm hương hoả khế tiền nhân.
Hàng long phục hổ cơ hà diệu,
Vô thụ phi đài ngữ nhược tân.
Ðiện trắc khởi lâu tàng Phật bát,
Kham trung di tích thuế chân thân.
Môn tiền nhất phái Tào Khê thuỷ,
Tẩy tận nhân gian kiếp kiếp trần.

Dịch nghĩa
Gậy thần tích bay đến đây đã mấy trăm xuân rồi
Hương hoả chùa Bảo Lâm họp cùng nhân duyên trước.
Rồng giáng, hổ phục, mấy huyền vi thật thần diệu
“Không cây, cũng không đài” lời nói nghe như mới
Bên điện dựng lầu giữ gìn bát Phật
Trong hộp còn ghi dấu nhưng chân thân đã giải thoát
Một dòng suối Tào Khê tuôn trước cửa
Rửa sạch bụi bám đời đời cho nhân gian

Nam Hoa là một ngôi chùa lớn tại huyện Khúc Giang, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Nguyên mang tên chùa Bảo Lâm, do nhà sư Ấn Độ Trí Dược lập vào năm 502 đời nhà Lương. Đến đời nhà Tống, chùa đổi tên là Nam Hoa.

Thiều Châu Văn Hiến miếu 韶州文憲廟 • Miếu thờ Văn Hiến ở Thiều Châu

韶州文憲廟
反狀當年辨羯兒,
至明先見若蓍龜。
濟時儒術生平有,
諫主忠言死後知。
萬古不磨金鑑錄,
千年猶享曲江祠。
高風追想渾如昨,
手拂青苔認石碑。

Thiều Châu Văn Hiến miếu
Phản trạng đương niên biện Yết nhi,
Chí minh tiên kiến nhược thi quy.
Tế thì nho thuật sinh bình hữu,
Gián chúa trung ngôn tử hậu tri.
Vạn cổ bất ma Kim giám lục,
Thiên niên do hưởng Khúc giang từ.
Cao phong truy tưởng hồn như tạc,
Thủ phất thanh đài nhận thạch bi.

Dịch nghĩa
Kết tội phản trắc của bọn Yết nhi (chỉ An Lộc Sơn) năm xưa
Sáng suốt thấy trước như bói quẻ (cỏ thi, mai rùa)
Thuật của nhà nho giúp đời thường vốn có
Lời trung can gián chúa sau khi chết rồi mới nhận ra
Muôn thuở chẳng mòn tấm gương vàng được ghi lại
Nghìn năm hướng lên từ đường (miếu tổ) ở sông Khúc Giang
Phong độ cao quý nhớ lại hoàn toàn như mới hôm qua
Dùng tay phủi lớp bụi rêu để nhận ra bia đá.

Thiều Châu là một châu quận thuộc Trung Quốc. Đây nói về Văn Hiến Trương Cửu Linh.

Quá lĩnh 過嶺 • Qua đèo

過嶺
前崗日落馬虺隤,
行盡梅關不見梅。
夾道千松撐漢立,
緣雲一路擘山開。
長安日近聊舒目,
故國天遙重感懷。
唐相一從通此道,
不知今幾百年來。

Quá lĩnh
Tiền cương nhật lạc mã hôi đồi,
Hành tận Mai quan bất kiến mai.
Giáp đạo thiên tùng xanh Hán lập,
Duyên vân nhất lộ phách sơn khai.
Trường An nhật cận liêu thư mục,
Cố quốc thiên dao trọng cảm hoài.
Đường tướng nhất tòng thông thử đạo,
Bách tri kim kỷ bách niên lai.

Dịch nghĩa
Ở dốc núi phía trước mặt trời đã lặn, ngựa đã nhọc
Đi đến (cửa ải) Mai quan mà chẳng thấy có mai
Sát đường nghìn cây tùng (vươn lên) chống giải ngân hà
Gần cõi mây một con đường xẻ núi mà đi
Mặt trời đã xuống (kinh đô) Trường An, khiến tầm mắt tạm được thư thái
Xa bầu trời cố quốc lòng nặng cảm hoài
Khi tướng nhà Đường mở con đường này
Đến nay chẳng biết đã mấy trăm năm rồi.

Giang Tây 江西 • Giang Tây

江西
自古洪都稱勝地,
今朝客裡暫相過。
煙收南浦暗光好,
日落西山暮景佳。
告訐成風憐俗薄,
詞章有學中科多。
旌揚鐵柱今猶在,
碑刻千年蘚已花。

Giang Tây
Tự cổ Hồng Đô xưng thắng địa,
Kim triêu khách lý tạm tương qua.
Yên thu Nam Phố tình quang hảo,
Nhật lạc Tây Sơn mộ cảnh gia (giai).
Cáo kiết thành phong liên tục bạc,
Từ chương hữu học trúng khoa đa.
Tinh Dương thiết trụ kim do tại,
Bi khắc thiên niên tiển dĩ hoa.

Dịch nghĩa
Từ xưa Hồng Đô nổi tiếng là thắng cảnh
Sáng hôm nay trên đường khách đi tạm ghé qua
Khói từ Nam Phố trời sáng tốt
Mặt trời xuống ở Tây Sơn cảnh chiều đẹp
Thói thưa gửi (kiện tụng, bươi móc) trở thành lệ khiến phong tục kém
Có học từ chương nên thi cử đỗ nhiều
Trụ sắt của (Hứa) Tinh Dương nay hãy còn
Bia khắc nghìn năm đã lốm đốm rêu.

Giang Tây là một tỉnh ở Trung Quốc, phía nam sông Trường Giang, nổi tiếng về khoáng sản, tỉnh lị là Nam Xương, cũng gọi là Hồng Đô. Giang Tây cũng nổi tiếng về đồ sứ.

Thái Thạch hoài cổ 采石懷古 • Ở sông Thái Thạch nhớ chuyện xưa

采石懷古
采石曾聞李謫仙,
騎鯨飛去已多年。
此江若變為春酒,
只恐波心尚醉眠。

Thái Thạch hoài cổ
Thái Thạch tằng văn Lý trích tiên,
Kỵ kình phi khứ dĩ đa niên.
Thử giang nhược biến vi xuân tửu,
Chỉ khủng ba tâm thượng tuý miên.

Dịch nghĩa
Về sông Thái Thạch từn gnghe chuyện trích tiên họ Lý
Cưỡi cá kình bay đi đã nhiều năm qua
Ví thử (nước) sông ấy biến thành rượu xuân
Ắt sẽ ngại ông còn mãi ngủ say dưới lòng sông!

Thái Thạch là sông thuộc tỉnh An Huy, Trung Quốc. Tương truyền Lý Bạch (Lý Thái Bạch) đi thuyền uống rượu say, cúi xuống sông định bắt lấy ánh trăng nên chết đuối tại sông này. Nơi đây có xây một cái đài gọi là Tróc Nguyệt đài (đài bắt trăng). Lý Bạch tự cho mình là Hải thượng kỵ kình (khách cưỡi cá kình trên biển). Người đương thời bảo Lý Bạch là tiên bị đày xuống trần gian (Lý Trích Tiên). Đỗ Phủ, cùng thời với Lý Bạch, có câu: “Nhược phùng Lý Bạch kỵ kình ngư, Đạo Phủ vấn tấn kim hà như” (Nếu gặp Lý Bạch cưỡi cá kình, Thì bảo giùm rằng Phủ đây hỏi Bạch nay ra sao).

Nguyễn Tôn Quai, thi nhân Việt Nam đời Hậu Lê, có câu thơ về Lý Bạch như sau: “Ẩm tàn giang quốc thiên ba nguyệt, Ngâm động tinh hà ngũ dạ thiên” (Uống hết bóng trăng trong nghìn sóng giữa sông, Ngâm lên cho chuyển động dòng sông Ngân Hà suốt đêm).

Đồ trung ký hữu 途中寄友 • Trên đường gửi bạn

途中寄友
上國觀光萬里途,
天涯屈指歲云租。
夢中水遠山還遠,
別後書無雁亦無。
客夜不眠千感集,
清時誰料寸忠孤。
南州舊識如相問,
報道今吾亦故吾。

Đồ trung ký hữu
Thượng quốc quan quang vạn lý đồ,
Thiên nhai khuất chỉ tuế vân tồ.
Mộng trung thuỷ viễn sơn hoàn viễn,
Biệt hậu thư vô nhạn diệc vô.
Khách dạ bất miên thiên cảm tập,
Thanh thì thuỳ liệu thốn trung cô.
Nam châu cựu thức như tương vấn,
Báo đạo kim ngô diệc cố ngô.

Dịch nghĩa
Thượng quốc đi thăm, đường xa vạn dặm,
Bên trời đếm đốt ngón tay, đã đến cuối năm rồi.
Trong mộng thấy nước xa non cũng xa,
Sau khi biệt, thư không có nhạn cũng không có.
Đêm đất khách không ngủ, nghìn mối cảm dồn dập,
Thời thanh bình ai ngờ tấc lòng trung phải mồ côi.
Ở Nam Châu người quen cũ có ai hỏi thăm,
Bảo cho rằng cái tôi nay vẫn là cái tôi cũ.

Ký hữu (II) 寄友 • Gửi bạn (II)

寄友
亂後親朋落葉空,
天邊書信斷秋鴻。
故園歸夢三更雨,
旅舍吟懷四壁蛩。
杜老何曾忘渭北,
管寧猶自客遼東。
越中故舊如相問,
為道生涯似轉蓬。

Ký hữu (II)
Loạn hậu thân bằng lạc diệp không,
Thiên biên thư tín đoạn thu hồng.
Cố viên quy mộng tam canh vũ,
Lữ xá ngâm hoài tứ bích cùng.
Đỗ lão hà tằng vong Vị Bắc,
Quản Ninh do tự khách Liêu Đông.
Việt Trung cố cựu như tương vấn,
Vị đạo sinh nhai tự chuyển bồng.

Dịch nghĩa
Sau loạn lạc bà con bạn bè thưa thớt như lá rụng
Bên trời vắng bóng chim hồng mùa thu đưa thư
Suốt ba canh mưa ta mộng về vườn cũ
Ngâm thơ trong quán khách, tiếng dế rộn bốn phía tường
Đỗ lão có bao giờ quên bờ bắc sông Vị?
Quản Ninh còn tự mình làm trú khách Liêu Đông
Giá có ai ở đất Việt Trung xưa hỏi thăm
Xin hãy nói lý do sự sống đổi dời mãi như cỏ bồng.

Chu trung ngẫu thành (III) 舟中偶成 • Ngồi trong thuyền ngẫu nhiên thành thơ (III)

舟中偶成
佩劍攜書膽氣粗,
海山萬里片帆孤。
途中日月三冬過,
客裡親朋一字無。
異境每驚新歲月,
扁舟重憶舊江湖。
四方壯志平生有,
此去寧辭我僕痡。

Chu trung ngẫu thành (III)
Bội kiếm huề thư đảm khí thô,
Hải sơn vạn lý phiến phàm cô.
Ðồ trung nhật nguyệt tam đông quá,
Khách lý thân bằng nhất tự vô.
Dị cảnh mỗi kinh tân tuế nguyệt,
Biển chu trùng ức cựu giang hồ.
Tứ phương tráng chí bình sinh hữu,
Thử khứ ninh từ ngã bộc phô?

Dịch nghĩa
Ðeo gươm, cắp sách kể cũng to gan lớn mật,
Biển núi muôn dặm, với cánh buồm trơ trọi!
Trên đường đi, tháng ngày trôi quá ba đông rồi,
Nơi đất khách, chẳng có tin nào của bà con, bạn bè.
Giữa cảnh lạ, rất e ngại mỗi khi sang năm mới,
Trong thuyền nhỏ, lại như thú chơi sông hồ thời xưa.
Tráng chí bốn phương, vốn ta sẵn có,
Chuyến này, không lẽ vì đầy tớ ta mệt, mà từ chối?

Kết thục tập thơ Ức trai thi tập của nhà thơ Nguyễn Trãi, hi vọng với những chia sẻ đầy đủ về các tập thơ nổi tiếng của nhà thơ Nguyễn Trãi sẽ giúp các bạn đọc yêu thơ có thể chọn lọc được những bài thơ mình yêu thích nhất.