Nguyễn Trãi với tập thơ Ức Trai thi tập – Tập thơ chữ Hán đặc sắc P1



Giới thiệu đến quý độc giả yêu thơ, phần thơ thứ 2 của tập thơ Ức trai thi tập . Phần thơ này được làm sau khi ông thành công và ra làm quan ở triều đình. Phần thơ này gồm 31 bài thơ.

Tóm tắt nội dung

Phần thơ làm sau khi thành công và làm quan ở triều

Thượng nguyên hộ giá chu trung tác 上元扈駕舟中作 • Cảm đề trong thuyền hộ giá tiết thượng nguyên

上元扈駕舟中作
沿江千里燭光紅,
彩鷁乘風跨浪篷。
十丈樓臺消蜃氣,
三更鼓角壯軍容。
滄波月浸玉千頃,
仙杖雲趨天九重。
五夜篷窗清夢覺,
猶疑長樂隔花鐘。

Thượng nguyên hộ giá chu trung tác
Duyên giang thiên lý chúc quang hồng,
Thái nghịch thừa phong khoá lãng bồng.
Thập trượng lâu đài tiêu thẫn khí,
Tam canh cổ giốc tráng quân dung.
Thương ba nguyệt tẩm ngọc thiên khoảnh,
Tiên trượng vân xu thiên cửu trùng.
Ngũ dạ bồng song thanh mộng giác,
Do nghi Trường Lạc cách hoa chung.

Dịch nghĩa
Nghìn dặm ven sông ánh đuốc sáng tỏ
Chiếc thuyền vẽ hình chim nghịch thuận gió lướt sóng đi
Lâu đài mười trượng đã tiêu hết khí bẩn
Tiếng trống và tù và suốt ba canh làm cho dáng vẻ quân đội mạnh mẽ hơn lên
Sóng nước xanh ngâm ánh trăng như ngọc nghìn mảnh
Gậy tiên lướt như trên mây bay cao trên chín tầng trời
Nằm đêm bên song cửa thuyền tỉnh cơn mộng nhẹ
Còn ngỡ là nghe tiếng chuông vang cách hoa ở cung điện Trường Lạc.

Quan duyệt thuỷ trận 觀閱水陣 • Xem tập trận dưới nước

觀閱水陣
北海當年已戮鯨,
燕安猶慮詰戎兵。
旌旗旖旎連雲影,
鼙鼓喧闐動地聲。
萬甲耀霜貔虎肅,
千艘布陣鸛鵝行。
聖心欲與民休息,
文治終須致太平。

Quan duyệt thuỷ trận
Bắc hải đương niên dĩ lục kình,
Yến an do lự cật nhung binh.
Tinh kỳ y nỉ liên vân ảnh,
Bề cổ huyên điền động địa thanh.
Vạn giáp diệu sương tỳ hổ túc,
Thiên sưu bố trận quán nga hành.
Thánh tâm dục dữ dân hưu tức,
Văn trị chung tu trí thái bình.

Dịch nghĩa
Biển bắc năm ấy đã diệt cá kình
Yên ổn vẫn còn phải lo luyện binh
Cờ xí bay phấp phới liền với bóng mây
Trống trận nhiều làm huyên náo rung động cả đất
Muôn binh giáp sáng ngời dưới sương, quân dõng mãnh (như loài tỳ, hổ)
Nghìn thuyền dàn trận thành hàng (như chim quán, chim nga)
Lòng Thánh muốn cùng dân nghỉ ngơi
Rốt cuộc nên xây dựng thái bình bằng văn trị.

Hạ quy Lam Sơn kỳ 1 賀歸藍山其一 • Mừng về Lam Sơn kỳ 1

賀歸藍山其一
權謀本是用除姦,
仁義維持國勢安。
臺閣有人儒席煖,
邊陲無事柳營閒。
遠方玉帛圖王會,
中國威儀睹漢官。
朔祲已清鯨浪息,
南州萬古舊江山。

Hạ quy Lam Sơn kỳ 1
Quyền mưu bổn thị dụng trừ gian,
Nhân nghĩa duy trì quốc thế an.
Đài các hữu nhân nho tịch noãn,
Biên thùy vô sự liễu doanh nhàn.
Viễn phương ngọc bạch đồ vương hội,
Trung quốc uy nghi đổ Hán quan.
Sóc tẩm dĩ thanh kình lãng tức,
Nam châu vạn cổ cựu giang san.

Dịch nghĩa
Quyền mưu vốn là để trừ gian
Nhân nghĩa giữ cho thế nước được yên
Chốn sang trọng có người (công hầu bá tử) tất chiếu nhà nho ấm
Nơi biên thùy không có việc thì doanh trại nhàn
Phương xa dâng ngọc và lụa, vẽ cảnh hội nhà vua
Trung quốc uy nghi được thấy lại quan nhà Hán (xây dựng tốt)
Yêu khí phương bắc đã dẹp xong, sóng gió loạn lạc đã lặng
Đất Nam châu vẫn giữ giang sơn muôn thuở.

Hạ quy Lam Sơn kỳ 2 賀歸藍山其二 • Mừng về Lam Sơn kỳ 2

賀歸藍山其二
憶昔藍山玩武經,
當時志已在蒼生。
義旗一向中原指,
廟算先知大事成。
月竁日城歸德化,
卉裳椎髻識威聲。
一戎大定何神速,
甲洗弓囊樂太平。

Hạ quy Lam Sơn kỳ 2
Ức tích Lam Sơn ngoạn Vũ Kinh,
Đương thời chí dĩ tại thương sinh.
Nghĩa kỳ nhất hướng trung nguyên chỉ,
Miếu toán tiên tri đại sự thành.
Nguyệt xuế nhật thành quy đức hoá,
Huỷ thường chuỳ kế thức uy thanh.
Nhất nhung đại định hà thần tốc,
Giáp tẩy cung nang lạc thái bình.

Dịch nghĩa
Bình sinh đường đời nhiều vất vả quá thể
Vạn việc chỉ nên phó cho trời già
Tấc lưỡi hãy còn, tưởng cũng tự tin được
Cứ một cảnh nghèo như cũ thật đáng thương
Ngày tháng (sáng tối) đi qua vùn vụt khó mà trở lại
Quán khách lạnh lùng, đêm dài như cả một năm
Mười năm đọc sách (học hành) mà nghèo đến tận xương
Trên mâm cơm chỉ có rau mục túc, chỗ ngồi chẳng có chiếu.

Đề kiếm 題劍 • Đề kiếm

題劍
藍山自昔臥神龍,
世事懸知在掌中。
大任有歸天啓聖,
昌期一遇虎生風。
國讎洗盡千年恥,
金匱終藏萬世功。
整頓乾坤從此了,
世間那更數雄英。

Đề kiếm
Lam Sơn tự tích ngoạ thần long
Thế sự huyền tri tại chưởng trung
Ðại nhiệm hữu quy thiên khải thánh
Xương kỳ nhất ngộ hổ sinh phong
Quốc thù tẩy tận thiên niên sỉ
Kim quỹ chung tàng vạn thế công
Chỉnh đốn càn khôn tòng thử liễu
Thế gian na cánh sổ anh hùng.

Dịch nghĩa
Từ xưa khi rồng thiêng còn nằm ở Lam Sơn
Mà việc đời huyền nhiệm đã biết rõ ở trong lòng bàn tay
Khi gánh nặng trao về một người thì trời báo cho thánh nhân biết
Khi đời thịnh được gặp thì hổ sinh ra gió
Đã rửa sạch nỗi nhục ngàn năm của thù nước
Cuối cùng đã cất giữ cái công muôn thuở trong rương vàng
Từ nay việc chỉnh đốn đất trời đã xong
Trên đời rút cuộc có được mấy người anh hùng như thế ?

Hạ tiệp kỳ 1 賀捷其一 • Mừng vua thắng trận kỳ 1

賀捷其一
蠢爾蠻酋敢寇邊,
積凶稔惡已多年。
九重睿念憐遐俗,
萬里鸞輿冒瘴煙。
山戍已聞收魏博,
宸奎又見刻燕然。
從今四海車書一,
盛德豐功萬古前。

Hạ tiệp kỳ 1
Xuẩn nhĩ man tù cảm khấu biên,
Tích hung nẫm ác dĩ đa niên.
Cửu trùng duệ niệm liên hà tục,
Vạn lý loan dư mạo chướng yên.
Sơn thú dĩ văn thu Nguỵ Bác,
Thần Khuê hựu kiến khắc Yên Nhiên.
Tòng kim tứ hải xa thư nhất,
Thịnh đức phong công vạn cổ tiền.

Dịch nghĩa
Bọn man di ngu xuẩn sao dám quấy nhiễu biên thùy!
Đã nhiều năm tích hung dồn ác
Triều đình sáng suốt vốn thương lề thói của dân ở miền xa
Nên kiệu loan vẫn đi đến nơi sơn lam chướng khí
Nghe tin quân đồn thú đã thu được miền Ngụy Bác
Lại được biết đất Yên Nhiên cũng đã khắc sao Thần Khuê (ghi công vua, triều đình)
Từ nay các khuôn khổ xe cộ và chữ viết sẽ thống nhất
Công đức này lớn lao xưa trước không thể sánh kịp.

Hạ tiệp kỳ 2 賀捷其二 • Mừng vua thắng trận kỳ 2

賀捷其二
奸臣賊子罪難容,
到底終投憲網中。
窮壤豈堪延喘息,
大庭應已奏膚公。
角聲萬里溪山月,
旗腳千岩草木風。
四海永清從此始,
榑桑早辨掛天弓。

Hạ tiệp kỳ 2
Gian thần tặc tử tội nan dung,
Đáo để chung đầu hiến võng trung.
Cùng nhưỡng khởi kham diên suyễn tức,
Đại đình ưng dĩ tấu phu công.
Giốc thanh vạn lý khê sơn nguyệt,
Kỳ cước thiên nham thảo mộc phong.
Tứ hải vĩnh thanh tòng thử thỉ,
Phù tang tảo biện quải thiên cung.

Dịch nghĩa
Bầy tôi làm giặc khó dung tha
Chung cuộc rồi cũng sa vào lưới
Đất cũng chẳng lẽ để chúng toi thóp mãi
Cho nên triều đình đã báo tin thắng trận lớn
Tiếng tù và vang lên muôn dặm dậy ánh trăng khe núi
Bóng cờ cùng cây cối lay trong gió khoảng nghìn non
Từ nay bốn bề sẽ yên lặng mãi
Cây cung trời sớm mắc trên cây phù tang.

Hạ tiệp kỳ 3 賀捷其三 • Mừng vua thắng trận kỳ 3

賀捷其三
聖朝柔遠憫昏愚,
奈爾無知自殞軀。
累世仇深憐鏡怨,
欺天罪大鬼神誅。
莫將前世扳今代,
不作忠臣效逆囚。
為報後來藩鎮者,
征輪覆轍在前途。

Hạ tiệp kỳ 3
Thánh triều nhu viễn mẫn hôn ngu,
Nại nhĩ vô tri tự vẫn khu.
Lũy thế cừu thâm lân cảnh oán,
Khi thiên tội đại quỷ thần tru.
Mạc tương tiền thế ban kim đại,
Bất tác trung thần hiệu nghịch tù.
Vị báo hậu lai phiên trấn giả,
Chinh luân phúc triệt tại tiền đồ.

Dịch nghĩa
Thánh triều vỗ về người xa, thương hại kẻ ngu dốt
Sao các người chẳng biết lại tự hại thân?
Thù oán gây quá nhiều đời, chung quanh đều ta thán
Khinh mạn trời là tội lớn quỷ thần không tha
Chớ lấy việc đời trước mà níu kéo việc đời nay
Không chịu làm trung thần, lại làm kẻ phản nghịch
Để báo cho kẻ đến phiên trấn sau này biết
Cái vết xe đổ ở đường trước kia.

Hạ tiệp kỳ 4 賀捷其四 • Mừng vua thắng trận kỳ 4

賀捷其四
欺天罔上謂天高,
天網恢恢更莫逃。
戶外重山空設險,
林間棲鳥不歸巢。
蠻溪路遠紆鸞馭,
玉帳謀深出虎韜。
四海只今俱帖靜,
預知後逸本先勞。

Hạ tiệp kỳ 4
Khi thiên võng thượng vị thiên cao,
Thiên võng khôi khôi cánh mạc đào.
Hộ ngoại trùng sơn không thiết hiểm,
Lâm gian thê điểu bất quy sào.
Man khê lộ viễn vu loan ngự,
Ngọc trướng mưu thâm xuất Hổ thao.
Tứ hải chỉ kim câu thiếp tĩnh,
Dự tri hậu dật bổn tiên lao.

Dịch nghĩa
Dối Trời lừa vua rồi bảo rằng Trời cao
Lưới Trời lồng lộng khó mà trốn thoát
Núi non trùng điệp dựng ngay trước cửa cũng chẳng được gì
Chim ở ngay trong rừng còn không về tổ được
Khe núi gây khó khăn cho đường xe kiệu loan
Từ trong trướng ngọc đã có mưu lược xuất quân
Bốn bể từ nay sẽ yên tĩnh
Biết trước rằng muốn sau được nhàn tức trước phải nhọc.

Chu Công phụ Thành Vương đồ 周公輔成王圖 • Tranh vẽ Chu Công giúp Thành Vương

周公輔成王圖
懿親輔政想周公,
處變誰將伊尹同。
玉几遺言常在念,
金藤故事感言功。
安危自任扶王室,
左右無非保聖躬。
子孟豈能占彷彿,
擁昭僅可挹餘風。

Chu Công phụ Thành Vương đồ
Ý thân phụ chính, tưởng Chu Công,
Xử biến thùy tương Y Doãn đồng.
Ngọc kỷ di ngôn thường tại niệm,
Kim đằng cố sự cảm ngôn công.
An nguy tự nhiệm phò vương thất,
Tả hữu vô phi bảo thánh cung.
Tử Mạnh khởi năng chiêm phưởng phất,
Ủng Chiêu cẩn khả ấp dư phong.

Dịch nghĩa
Người làm công việc phụ chánh tốt đẹp nghĩ đến Châu Công
Xử sự ứng biến giống như Y Doãn
Lời bệ ngọc để lại luôn luôn để dạ
Những việc cũ ghi trong hòm vàng đâu dám lấy để xưng công?
Tự nguyện phò Vương thất lúc an nguy
Bên tả cũng như bên hữu, không phía nào là không giữ gìn cho Thánh chúa
Tử Mạnh phỏng có thể được xem tương tự như vậy chăng?
Việc phò Chiêu Đế cũng chỉ có thể đứng nhường dưới gió thôi.

Đề Bá Nha cổ cầm đồ 題伯牙鼓琴圖 • Đề bức hoạ Bá Nha đánh đàn

題伯牙鼓琴圖
鐘期不作鑄金難,
獨抱瑤琴對月彈。
靜夜碧宵涼似水,
一聲鶴唳九皋寒。

Đề Bá Nha cổ cầm đồ
Chung Kỳ bất tác chú kim nan,
Độc bão dao cầm đối nguyệt đàn.
Tĩnh dạ bích tiêu lương tự thuỷ,
Nhất thanh hạc lệ cửu cao hàn.

Thứ vận Trần thượng thư đề Nguyễn bố chánh thảo đường 次韻陳尚書題阮布政草堂 • Hoạ vần Trần thượng thư đề thảo đường của Nguyễn bố chánh

次韻陳尚書題阮布政草堂
一心報國尚桓桓,
小構茆亭且自寬。
薇省退歸花影轉,
金門夢覺漏聲殘。
琴書雅趣真堪尚,
松菊歡盟亦未寒。
後樂想知終有意,
好將事業百年看。

Thứ vận Trần thượng thư đề Nguyễn bố chánh thảo đường
Nhất tâm báo quốc thượng hoàn hoàn,
Tiểu cấu mao đình thả tự khoan.
Vi tỉnh thối quy hoa ảnh chuyển,
Kim môn mộng giác lậu thanh tàn.
Cầm thư nhã thú chân kham thượng,
Tùng cúc hoan minh diệc vị hàn.
Hậu lạc tưởng tri chung hữu ý,
Hảo tương sự nghiệp bách niên khan.

Dịch nghĩa
Một lòng báo quốc vẫn còn đeo đẳng hăng hái
Dựng mái tranh để tự giải khuây
Từ chỗ vi tỉnh về thì bóng hoa đã chuyển
Tỉnh mộng kim môn ra thì đồng hồ lâu cũng đã cạn
Cái thú cầm thư trang nhã thật đáng chuộng
Lời hẹn vui với hoa lá cũng chưa nguôi
Vui sau (lo trước) tưởng cuối cùng cũng có ý
Đáng mang sự nghiệp trọn đời ra nêu gương về sau.

Thu dạ dữ Hoàng Giang Nguyễn Nhược Thuỷ đồng phú 秋夜與黃江阮若水同賦 • Đêm thu cùng Hoàng Giang Nguyễn Nhược Thuỷ làm thơ

秋夜與黃江阮若水同賦
紅葉堆庭竹擁門,
滿階明月過黃昏。
九霄清露三更濕,
四壁寒蛩徹夜喧。
天籟語秋驚草木,
玉繩低漢轉乾坤。
高齋獨坐渾無寐,
好把新詩向志論。

Thu dạ dữ Hoàng Giang Nguyễn Nhược Thuỷ đồng phú
Hồng diệp đôi đình trúc ủng môn,
Mãn giai minh nguyệt quá hoàng hôn.
Cửu tiêu thanh lộ tam canh thấp,
Tứ bích hàn cung triệt dạ huyên.
Thiên lại ngữ thu kinh thảo mộc,
Ngọc Thằng đê Hán chuyển càn khôn.
Cao trai độc toạ hồn vô mị,
Hảo bả tân thi hướng chí luân.

Dịch nghĩa
Lá đỏ chất đầy sân, trúc ôm cửa
Đầy thềm trăng sáng, đã quá hoàng hôn
Từ chín từng mây, những hạt móc trong thấm ướt ba canh
Bốn vách dế lạnh kêu suốt đêm
Tiếng trời nói thu đến làm kinh động cây cỏ
Sao Ngọc thằng xuống thấp gần sông Ngân hà, chuyển trời đất
Ngồi một mình trên phòng cao, không ngủ được
Hãy đem bài thơ mới nói đến chí mình.

Đoan ngọ nhật 端午日 • Ngày đoan ngọ

端午日
天中共喜值佳辰,
酒泛菖蒲節物新。
進帖當年思永叔,
沉湘底事嘆靈均。
闢邪不用絲纏臂,
隨俗聊為艾結人。
願把蘭湯分四海,
從今澡雪舊污民。

Đoan ngọ nhật
Thiên trung cộng hỉ trị giai thần,
Tửu phiếm xương bồ tiết vật tân.
Tấn thiếp đương niên tư Vĩnh Thúc,
Trầm Tương để sự thán Linh Quân.
Tịch tà bất dụng ty triền tý,
Tuỳ tục liêu vi ngải kết nhân.
Nguyện bả lan thang phân tứ hải,
Tòng kim tháo tuyết cựu ô dân.

Dịch nghĩa
Giữa trưa cùng vui gặp ngày đẹp trời
Rượu xương bồ là món mới ngày tết
Nhớ năm ấy Vĩnh Thức đệ sớ
Việc trầm mình dưới sông Tương đáng than cho Linh Quân
Không dùng tơ ràng ở cánh tay để trừ tà
Theo phong tục tạm kết cây ngải bện thành hình nhân
Nguyện mang nước thang lan chia khắp bốn bổ
Từ nay rửa sạch cái dơ bẩn cũ cho dân.

Ngẫu thành (I) 偶成 • Ngẫu nhiên làm (I)

偶成
喜得身閒官又冷,
閉門盡日少相過。
滿堂雲氣朝焚柏,
遶枕松聲夜瀹茶。
修己但知為善樂,
致身未必讀書多。
平生迂闊真吾病,
無術能醫老更加。

Ngẫu thành (I)
Hỉ đắc thân nhàn quan hựu lãnh,
Bế môn tận nhật thiểu tương qua.
Mãn đường vân khí triêu phần bách,
Nhiễu chẩm tùng thanh dạ thược trà.
Tu kỉ đãn tri vi thiện lạc,
Trí thân vị tất độc thư đa.
Bình sinh vu khoát chân ngô bệnh,
Vô thuật năng y lão cánh gia.

Dịch nghĩa
Mừng được nhàn thân, chức quan rảnh rỗi
Trọn ngày đóng cửa, ít qua lại với ai
Hơi bốc đầy nhà vì xông gỗ bách buổi sáng
Tiếng reo của cây tùng làm rộn gối ngủ, đêm pha trà uống
Sửa mình chỉ biết làm điều thiện là vui
Lập thân chưa hẳn cần đọc nhiều sách
Bình sinh vu khoát quả là bệnh của ta
Vô phương chữa được mà lại thêm nặng theo tuổi già.

Thu dạ khách cảm (II) 秋夜客感 • Đêm thu ở đất khách cảm hoài (II)

秋夜客感
西風撼樹響錚錚,
搖落聲悲久客情。
黃葉滿庭秋過半,
青燈和雨夜三更。
病多骨瘦眠應少,
官冷身閒夢亦清。
一念息來千念息,
雞虫自此了相爭。

Thu dạ khách cảm (II)
Tây phong hám thụ hưởng tranh tranh,
Diêu lạc thanh bi cửu khách tình.
Hoàng diệp mãn đình thu quá bán,
Thanh đăng hòa vũ dạ tam canh.
Bệnh đa cốt sấu miên ưng thiểu,
Quan lãnh thân nhàn mộng diệc thanh.
Nhất niệm tức lai thiên niệm tức,
Kê trùng tự thử liễu tương tranh.

Dịch nghĩa
Gió tây lay động cây cối nghe tiếng rì rào
Tiếng buồn khiến đau lòng khách tha phương lâu ngày
Lá vàng rụng đầy sân, quá nửa mùa thu đã sang
Ánh đèn xanh hòa trong tiếng mưa đã ba canh
Bệnh nhiều, xương gầy nên mất ngủ
Rảnh việc quan, nhàn rỗi nên mộng cũng nhẹ nhàng
Dứt được một niềm suy tư, hẳn nghìn mối khác cũng dứt
Gà và bọ từ nay thôi chớ tranh nhau nữa

Tức sự 即事 • Tức cảnh

即事
小小軒窗矮矮廬,
官居頓覺類幽居。
滄波江上閒垂釣,
綠樹陰中靜看書。
雨過晴嵐窺戶牖,
風來雪浪舞庭除。
午窗瀟灑無塵累,
一片閒心躡太虛。

Tức sự
Tiểu tiểu hiên song nuỵ nuỵ lư,
Quan cư đốn giác loại u cư.
Thương ba giang thượng nhàn thuỳ điếu,
Lục thụ âm trung tĩnh khán thư.
Vũ quá tình lam khuy hộ dũ,
Phong lai tuyết lãng vũ đình trừ.
Ngọ song tiêu sái vô trần luỵ,
Nhất phiến nhàn tâm nhiếp thái hư.

Dịch nghĩa
Hiện và song cửa nho nhỏ, mái lá thấp
Nhà quan bỗng thấy như nhà ẩn dật
Trên sông xanh màu sóng thong thả buông câu
Trong bóng cây màu lục ung dung đọc sách
Mưa tạnh bốc hơi bay qua cửa sổ
Gió thổi làm tuyết bay múa ở sân thềm
Nằm ở cửa sổ lòng nhẹ lâng lâng chẳng vướng luỵ trần
Một tấm lòng nhàn nhã vượt lên tận cõi hư vô.

Thứ Cúc Pha tặng thi 次菊坡贈詩 • Hoạ thơ của Cúc Pha tặng

次菊坡贈詩
太平天子正崇文,
喜見黃金礫瓦分。
美玉不勞求善價,
猗蘭終自吐清芬。
羡君已作儀庭鳳,
愧我應同出岫雲。
兩眼昏花頭竟白,
涓埃何以答君恩。

Thứ Cúc Pha tặng thi
Thái bình Thiên tử chính sùng văn,
Hỷ kiến hoàng kim lịch ngoã phân.
Mỹ ngọc bất lao cầu thiện giá,
Ỷ lan chung tự thổ thanh phân.
Tiện quân dĩ tác nghi đình phụng,
Quý ngã ưng đồng xuất tụ vân.
Lưỡng nhãn hôn hoa đầu cánh bạch,
Quyên ai hà dĩ đáp quân ân.

Dịch nghĩa
Thời thái bình vua chuộng văn chương là chính
Mừng thấy vàng được phân biệt với sỏi gạch
Ngọc tốt khỏi phiền đòi giá đắt
Lan quý cuối cùng cũng toả hương thơm
Mừng thấy người đã làm chim phượng ở triều đình
Thẹn cho bản thân tôi còn giống áng mây bay khỏi cửa động
Hai mắt đã hoa, đầu tóc đã bạc
Lấy gì mà đền đáp mảy may ơn vua?

Đề Thạch Trúc oa 題石竹窩 • Đề am Thạch Trúc

題石竹窩
傍石移栽竹幾竿,
玲瓏色映碧琅玕。
煙梢露滴衣裳冷,
地骨雲生枕簞寒。
幽致已應塵外想,
清標還愛雪中看。
窗前月白供佳賞,
退食聊將寓暫歡。

Đề Thạch Trúc oa
Bàng thạch di tài trúc kỷ can,
Linh lung sắc ánh bích lang can.
Yên sao lộ trích y thường lãnh,
Địa cốt vân sinh chẩm điệm hàn.
U trí dĩ ưng trần ngoại tưởng,
Thanh tiêu hoàn ái tuyết trung khan.
Song tiền nguyệt bạch cung giai thưởng,
Thối thực liêu tương ngụ tạm hoan.

Dịch nghĩa
Dời mấy cây trúc đến trồng bên khóm đá
Ánh sáng long lanh chiếu như ngọc xanh biếc
Giọt sương trên ngọn lá cây khiến xiêm áo lạnh
Xương đất (đá trong đất) bốc hơi trong mây, khiến gối đêm cũng lạnh
Cảnh ý vị tưởng đang ở ngoài trần tục
Tính thanh tao lại khiến ưa nhìn ngắm cảnh trong tuyết
Trước song cửa trăng sáng cho ta thưởng thức vẻ đẹp
Sau bữa ăn, lấy chỗ nghỉ cũng tạm vui.

Dục Thuý sơn 浴翠山 • Núi Dục Thuý

浴翠山
海口有仙山,
年前屢往還。
蓮花浮水上,
仙景墜塵間。
塔影針青玉,
波光鏡翠鬟。
有懷張少保,
碑刻蘚花斑。

Dục Thuý sơn
Hải khẩu hữu tiên san,
Niên tiền lũ vãng hoàn.
Liên hoa phù thuỷ thượng,
Tiên cảnh truỵ nhân gian.
Tháp ảnh, trâm thanh ngọc,
Ba quang kính thuý hoàn.
Hữu hoài Trương Thiếu Bảo,
Bi khắc tiển hoa ban.

Dịch nghĩa
Gần cửa biển có núi tiên,
Năm xưa thường đi về.
Hoa sen nổi trên mặt nước,
Ðúng là cảnh tiên nơi cõi trần.
Bóng tháp như cài trâm ngọc xanh,
Ánh sáng trên sóng soi mái tóc biết,
Chạnh nhớ quan Trương Thiếu Bảo,
Tấm bia đá nói về ông đã lốm đốm rêu phong.

Vọng Doanh 望瀛 • Vọng Doanh

望瀛
望瀛投暮繫吟船,
詩景撩人晚興牽。
浴翠雨晴峰似玉,
大安潮漲水如天。
依依遠樹青煙裏,
渺渺平沙白鳥前。
三十年前湖海趣,
茲遊奇絕勝蘇仙。

Vọng Doanh
Vọng Doanh đầu mộ hệ ngâm thuyền,
Thi cảnh liêu nhân vãn hứng khiên.
Dục Thuý vũ tình phong tự ngọc,
Đại An triều trướng thủy như thiên.
Y y viễn thụ thanh yên lý,
Diểu diểu bình sa bạch điểu tiền.
Tam thập niên tiền hồ hải thú,
Tư du kỳ tuyệt thắng Tô tiên.

Dịch nghĩa
Đầu buổi chiều đến Vọng Doanh buộc thuyền thơ
Cảnh nên thơ trêu ghẹo và lôi kéo cảm hứng con người vào buổi chiều
Mưa tạnh núi Dục Thúy biếc như màu ngọc
Cảnh Đại An nước triều lên hòa với trời
Lờ mờ rặng cây, xa trong làn khói xanh
Bãi sông bát ngát bằng phẳng trước bầy chim trắng
Thú hồ hải ba mươi năm về trước
Tô tiên (Tô Đông Pha) cũng phải chịu thua cuộc chơi tuyệt vời này.

Quá Thần Phù hải khẩu 過神符海口 • Qua cửa biển Thần Phù

過神符海口
神符海口夜中過,
奈此風流月白何。
夾岸千峰排玉筍,
中流一水走青蛇。
江山如昨英雄逝,
天地無情事變多。
胡越一家今幸睹,
四溟從此息鯨波。

Quá Thần Phù hải khẩu
Thần Phù hải khẩu dạ trung qua,
Nại thử phong thanh nguyệt bạch hà.
Giáp ngạn thiên phong bài ngọc duẩn,
Trung lưu nhất thủy tẩu thanh xà.
Giang sơn như tạc anh hùng thệ,
Thiên địa vô tình sự biến đa.
Hồ Việt nhất gia kim hạnh đổ,
Tứ minh tòng thử tức kình ba.

Dịch nghĩa
Qua cửa khẩu Thần Phù vào lúc giữa đêm
Gió mát trăng thanh quá, làm sao đây?
Gần bờ nhìn ngọn núi bày ra như búp măng ngọc
Giữa dòng con nước chảy như rắn xanh
Non sông như cũ nhưng anh hùng đã mất
Trời đất vô tình tạo nên bao nhiêu biến đổi
Nay được thấy Hồ, Việt một nhà là điều may mắn
Bốn biển từ nay hết cảnh sóng kình.

Chu trung ngẫu thành kỳ 1 舟中偶成其一 • Ngồi trong thuyền ngẫu nhiên thành thơ kỳ 1

舟中偶成其一
雨後春潮漲海門,
天風吹起浪花噴。
半林殘照篩煙樹,
隔水孤鐘搗月村。
風景可人詩入畫,
湖山滿目酒盈樽。
舊遊歷歷余曾記,
往事重尋只夢魂。

Chu trung ngẫu thành kỳ 1
Vũ hậu xuân triều trướng hải môn,
Thiên phong xuy khởi lãng hoa phunbồn.
Bán lâm tàn chiếu si yên thụ,
Cách thủy cô chung đảo nguyệt thôn.
Phong cảnh khả nhân thi nhập hoạ,
Hồ sơn mãn mục tửu doanh tôn.
Cựu du lịch lịch dư tăng ký,
Vãng sự trùng tầm chỉ mộng hồn.

Dịch nghĩa
Tan mưa nước triều mùa xuân dâng lên nơi cửa biển
Gió thổi làm sóng dậy phun lên như tràng hoa
Bóng xế giữa rừng lọc (lồng) qua cây và khói (sương)
Bên kia sông tiếng chuông đơn độc vỗ (nện) vào xóm trăng
Phong cảnh khá khiến cho cảm thấy hứng thi và hoạ
Núi và hồ trông thỏa mắt nhìn, khiến chén rượu đầy
Ta còn nhớ rõ từng chuyến đi du ngọan trước
Chuyện xưa ôn lại chỉ qua mộng mị thôi.

Chu trung ngẫu thành kỳ 2 舟中偶成其二 • Ngồi trong thuyền ngẫu nhiên thành thơ kỳ 2

舟中偶成其二
海角天涯肆意遨,
乾坤到處放吟毫。
漁歌三唱煙湖闊,
牧笛一聲天月高。
清夜憑虛觀宇宙,
秋風乘興駕鯨鰲。
悠然萬事忘情後,
妙理真堪付濁醪。

Chu trung ngẫu thành kỳ 2
Hải giác thiên nhai tứ ý ngao,
Kiền khôn đáo xứ phóng ngâm hào.
Ngư ca tam xướng yên hồ khoát,
Mục địch nhất thanh thiên nguyệt cao.
Thanh dạ bằng hư quan vũ trụ,
Thu phong thừa hứng giá kình ngao.
Du nhiên vạn sự vong tình hậu,
Diệu lý chân kham phó trọc lao.

Dịch nghĩa
Góc biển chân trời mặc ý rong chơi
Trong cõi trời đất đến đâu cũng phóng bút làm thơ
Chài ca mấy khúc, khói hồ rộng mênh mông
Sáo mục đồng trổi lên một tiếng, trăng trời cao
Đêm thanh ngự lên hư không mà ngắm xem vũ trụ
Gió thu thừa hứng cỡi kình ngao
Muôn việc đời dằng dặc sau khi quên hết
Thấy lẽ huyền diệu thật đáng phó cho chén rượu đục

Đề Ngọc Thanh quán 題玉清館 • Đề quán Ngọc Thanh

題玉清館
紫府樓臺倚碧岑,
十年今夕一登臨。
松花落地金壇靜,
磬響穿雲道院深。
金鼎丹成人已去,
黃梁夢覺事難尋。
猿愁鶴怨無窮意,
寒日蕭蕭竹隔林。

Đề Ngọc Thanh quán
Tử phủ lâu đài ỷ bích sầm,
Thập niên kim tịch nhất đăng lâm.
Tùng hoa lạc địa kim đàn tĩnh,
Khánh hưởng xuyên vân đạo viện thâm.
Kim đỉnh đơn thành nhân dĩ khứ,
Hoàng lương mộng giác sự nan tầm.
Viên sầu hạc oán vô cùng ý,
Hàn nhạc tiêu tiêu trúc cách lâm.

Dịch nghĩa
Lâu đài phủ tía dựa trên núi biếc
Mười năm qua, chiều nay mới trở lại thăm
Hoa thông rụng, kim đàn tĩnh mịch
Tiếng khách vang tận mây, đạo viện thẳm sâu
Đĩnh vàng luyện thuốc xong, người tiên đã đi mất
Tỉnh giấc mộng kê vàng, sự việc cũng khó tìm
Vượn sầu hạc oán, ý vô cùng khôn xiết
Ngày lạnh có tiếng lao xao của rừng trúc bên kia.

Đề Yên Tử sơn Hoa Yên tự 題安子山花煙寺 • Đề ở chùa Hoa Yên trên núi Yên Tử

題安子山花煙寺
安山山上最高峰,
纔五更初日正紅。
宇宙眼窮滄海外,
笑談人在碧雲中。
擁門玉槊森千畝,
掛石珠流落半空。
仁廟當年遺跡在,
白毫光裏睹重瞳。

Đề Yên Tử sơn Hoa Yên tự
Yên sơn sơn thượng tối cao phong,
Tài ngũ canh sơ nhật chính hồng.
Vũ trụ nhãn cùng thương hải ngoại,
Tiếu đàm nhân tại bích vân trung.
Ủng môn ngọc sóc sâm thiên mẫu,
Quải thạch châu lưu lạc bán không.
Nhân miếu đương niên di tích tại.
Bạch hào quang lý đỗ trùng đồng.

Dịch nghĩa
Núi Yên Tử cao nhất trên dãy núi
Mặt trời đỏ rừng đầu trống canh năm
Phỏng mắt trong vũ trụ trong suốt ngoài biển xanh
Tiếng người cười nói trong mây biếc
Trước cửa hộ vệ có nghìn mẫu giáo ngọc xum xuê (trúc)
Ðã rủ những tua hạt châu rơi xuống lưng chừng không
Di tích vua Trần Nhân Tông còn đó mãi
Giữa bóng sáng lông mày trắng được thấy trong đôi mắt

Núi Yên Tử tại Đông Triều, tỉnh Quảng Yên (Bắc Việt), còn mang tên là Tượng Đầu sơn (núi Đầu Voi). Tương truyền Yên Kỳ Sanh người Trung Quốc tu luyện tại núi này nên gọi là núi Yên Tử. Trên ngọn cao nhất có chùa Hoa Yên là nơi vua Trần Nhân Tông (1257-1308) lên tu đạo Phật sau khi nhường ngôi cho con (1293). Ngài trở thành Trúc Lâm đệ nhất tổ và tịch ở đây, miếu thờ còn ghi dấu tích với tháp và tượng đá.

Vân Đồn 雲屯 • Vân Đồn

雲屯
路入雲屯山復山,
天恢地設付奇觀。
一盤藍碧澄明鏡,
萬斛鴉青鬌翠鬟。
宇宙頓清塵海岳,
風波不動鐵心肝。
望中岸草萋萋綠,
道是藩人駐舶灣。

Vân Đồn
Lộ nhập Vân Đồn sơn phục sơn,
Thiên khôi địa thiết phó kỳ quan.
Nhất bàn lam bích trừng minh kính,
Vạn hộc nha thanh đỏa thuý hoàn.
Vũ trụ đốn thanh trần hải nhạc,
Phong ba bất động thiết tâm can.
Vọng trung ngạn thảo thê thê lục,
Đạo thị phiên nhân trú bạc loan.

Dịch nghĩa
Đường vào Vân Đồn núi non trùng điệp
Trời đất cao rộng rõ là cảnh diệu kỳ
Cả một mặt phẳng màu xanh biếc, nước trong như gương sáng
Hàng vạn ô màu huyền xanh như mái tóc rũ
Vũ trụ bỗng thể hiện rõ ràng qua dáng núi và biển
Sóng gió chẳng lay chuyển được tâm can vững chắc
Nhìn vào thấy bờ cỏ màu lục xanh dờn
Thấy nói người thiểu số xưa từng đỗ thuyền trong vịnh.

Bạch Đằng hải khẩu 白藤海口 • Cửa biển Bạch Đằng

白藤海口
朔風吹海氣凌凌,
輕起吟帆過白藤。
鱷斷鯨刳山曲曲,
戈沉戟折岸層層。
關河百二由天設,
豪傑功名此地曾。
往事回頭嗟已矣,
臨流撫影意難勝。

Bạch Đằng hải khẩu
Sóc phong xung hải khí lăng lăng,
Khinh khởi ngâm phàm quá Bạch Đằng.
Ngạc đoạn kình khoa sơn khúc khúc,
Qua trầm kích chiết ngạn tằng tằng.
Quan hà bách nhị do thiên thiết,
Hào kiệt công danh thử địa tằng.
Vãng sự hồi đầu ta dĩ hĩ,
Lâm lưu phủ ảnh ý nan thăng.

Dịch nghĩa
Cửa biển lồng lộng, gió bấc thổi băng băng;
Buồm thơ nhẹ lướt qua sông Bạch Đằng.
Nhìn núi từng khúc, như cá mập, cá sấu bị chặt từng đoạn,
Nhìn bờ từng lốp, như giáo kích gươm đao bị gãy chìm.
Cảnh núi sông hiểm yếu, tạo ra cái thế “lấy ít địch nhiều”,
Ðây là nơi hào kiệt từng lập nên công danh oanh liệt.
Việc xưa nghĩ lại, ôi tất cả đã qua rồi!
Tới đây viếng cảnh, nỗi lòng sao biết nên chăng?

Bạch Đằng là con sông lịch sử của Việt Nam thuộc tỉnh Quảng Yên (Bắc Việt), bắt nguồn từ Phát Lại, chảy ra biển. Cửa Bạch Đằng xưa kia, vốn nay đã chuyển hướng, hiện thuộc Hải Phòng. Ðây là nơi mà Trần Hưng Ðạo đã đánh tan giặc Nguyên Mông. Cửa khẩu Bạch Đằng là một danh lam thắng cảnh, nơi đã từng hai lần quân Việt Nam đánh bại quân Trung Quốc xâm lược, Ngô Quyền (thế kỷ 10) phá quân Nam Hán, bắt sống thái tử Hoằng Thao, Trần Hưng Đạo (thế kỷ 13) đại thắng quân Nguyên, bắt được các tướng Ô Mã Nhi, Phan Tiệp, Tích Lệ…

Tĩnh Yên vãn lập 靖安晚立 • Tĩnh Yên chiều đứng trông

靖安晚立
淡煙疏雨晚摸糊,
水色天光半有無。
萬古乾坤清景致,
海山為我出新圖。

Tĩnh Yên vãn lập
Đạm yên sơ vũ vãn mô hồ,
Thuỷ sắc thiên quang bán hữu vô.
Vạn cổ càn khôn thanh cảnh trí,
Hải sơn vị ngã xuất tân đồ.

Oan thán 冤嘆 • Oán than

冤嘆
浮俗升沉五十年,
故山泉石負情緣。
虛名實禍殊堪笑,
眾謗孤忠絕可憐。
數有難逃知有命,
大如未喪也關天。
獄中牘背空遭辱,
金闕何由達寸箋。

Oan thán
Phù tục thăng trầm ngũ thập niên,
Cố sơn tuyền thạch phụ tình duyên.
Hư danh thực họa thù kham tiếu,
Chúng báng cô trung tuyệt khả liên.
Số hữu nan đào tri thị mệnh,
Văn như vị táng dã quan thiên.
Ngục trung độc bối không tao nhục,
Kim khuyết hà do đạt thốn tiên.

Dịch nghĩa
Nổi chìm trong cảnh phù tục đã năm mươi năm
Đành phụ với khe đá núi cũ
Danh hư mà họa thực, thật đáng buồn cười
Chúng nhạo kẻ trung thành đơn độc thật đáng thương hại
Khó chạy khỏi số trời, biết là có mạng
Nền văn cũng chưa mai một nhờ trời
Trong ngục xem lưng tờ giấy, thật là nhục nhã
Làm sao đạt được tờ giấy (khiếu oan) đến cửa khuyết vàng (cung vua)?

Đề Hoàng ngự sử Mai Tuyết hiên 題黃御史梅雪軒 • Đề hiên Mai Tuyết của Hoàng ngự sử

題黃御史梅雪軒
豸冠峨峨面似鐵,
不獨愛梅兼愛雪。
愛梅愛雪愛緣何?
愛緣愛雪梅清潔。
天然梅雪自兩奇,
更添臺柏真三絕。
羅浮仙子冰為魂,
頃刻能令瓊作屑。
夜深琪樹碎玲瓏,
月戶風窗寒凜烈。
若非風遞暗香來,
紛紛一色何由別。
巡簷不怕玉樓寒,
銀海搖光更清徹。
九重軫念及遐氓,
萬里錦衣遙駐節。
霜風捲地氣橫秋,
身在炎荒心魏闕。
交南十月暖如春,
夢中只有花堪折。
將心托物古有之,
高蠋深期蹈前哲。
東坡謂竹不可無,
濂溪愛連亦有說。
乾坤萬古一清致,
灞橋詩思西湖月。

Đề Hoàng ngự sử Mai Tuyết hiên
Trãi quan nga nga diện tự thiết,
Bất độc ái mai kiêm ái tuyết.
Ái mai ái tuyết ái duyên hà,
Ái duyên tuyết bạch mai thanh khiết.
Thiên nhiên mai tuyết tự lưỡng kỳ,
Cánh thiêm đài bách chân tam tuyệt.
La Phù tiên tử băng vi hồn,
Khoảnh khắc năng linh quỳnh tác tiết.
Dạ thâm kỳ thụ toái linh lung,
Nguyệt hộ phong song hàn lẫm liệt.
Nhược phi phong đệ ám hương lai,
Phân phân nhất sắc hà do biệt.
Tuần thiềm bất phạ ngọc lâu hàn,
Ngân hải dao quang cánh thanh triệt.
Cửu trùng chẩn niệm cập hà manh,
Vạn lý cẩm y dao trú tiết.
Sương phong quyển địa khí hoành thu,
Thân tại viêm hoang lâm nguỵ khuyết.
Giao nam thập nguyệt noãn như xuân,
Mộng trung chỉ hữu hoa kham chiết.
Tương tâm thác vật cổ hữu chi,
Cao trục thâm kỳ đạo tiền triết.
Đông Pha vị trúc bất khả vô,
Liêm Khê ái liên diệc hữu thuyết.
Càn khôn vạn cổ nhất thanh trí,
Bá Kiều thi tứ Tây Hồ nguyệt.

so1vn - Tags: