Tiếp tục ở bài viết này chúng tôi sẽ giới thiệu đến độc giả yêu thơ phần 4 của tập thơ Bắc hành tạp lục. Tập thơ Bắc hành tạp lục với nội dung thể lòng thương cảm sâu xa những người trung nghĩa bị hãm hại, những người tài hoa bị vùi dập, những người lao động cùng khổ bị đói rét cùng nỗi khinh ghét giới thống trị kiêu căng & tàn bạo, được Nguyễn Du nói lên bằng những vần thơ hết sức sâu sắc.

Âu Dương Văn Trung Công mộ 歐陽文忠公墓 • Mộ ông Âu Dương Văn Trung

歐陽文忠公墓
五尺豐碑立道傍,
宋朝古墓記歐陽。
平生直道無遺憾,
天古重泉尚有香。
秋草一丘藏鼠貉,
名家八大擅文章。
長松芝草生何處,
樵牧歌吟過夕陽。

Âu Dương Văn Trung Công mộ
Ngũ xích phong bi lập đạo bàng,
Tống triều cổ mộ ký Âu Dương.
Bình sanh trực đạo vô di hám,
Thiên cổ trùng tuyền thượng hữu hương.
Thu thảo nhất khâu tàng thử lạc,
Danh gia bát đại thiện văn chương.
Trường tùng chi thảo sinh hà xứ,
Tiều mục ca ngâm quá tịch dương.

Dịch nghĩa
Tấm bia cao năm thước dựng bên đường
Ghi rõ mộ cổ của Âu Dương Tu đời nhà Tống
Bình sinh theo đường ngay, lòng không để hận
Nghìn thuở nơi chín suối vẫn có mùi hương
Một gò cỏ thu chứa đầy chuột cáo
Đó là chỗ nghỉ của một trong tám nhà văn tiếng tăm lừng lẫy
Giống thông cao tốt, sống lâu, và cỏ chi mọc ở chốn nào?
Tiếng hát của kẻ đốn củi kẻ chăn trâu lướt qua bóng chiều hôm

Bùi Tấn Công mộ 裴晉公墓 • Mộ Bùi Tấn Công

裴晉公墓
蕩蕩秋原丘隴平,
墓碑猶誌晉公名。
丹心一點留今古,
白骨天年隔死生。
儘有猷為優將相,
無妨形貌厭丹青。
傷心近日昭陵樹,
一帶啼鵑徹渭城。

Bùi Tấn Công mộ
Đãng đãng thu nguyên khâu lũng bình,
Mộ bi do chí Tấn Công danh.
Đan tâm nhất điểm lưu kim cổ,
Bạch cốt thiên niên cách tử sinh.
Tẫn hữu du vi ưu tướng tướng,
Vô phương hình mạo yếm đan thanh.
Thương tâm cận nhật Chiêu Lăng thụ,
Nhất đới đề quyên triệt Vị Thành.

Dịch nghĩa
Cánh đồng mùa thu rộng bát ngát, gò đống vắng vẻ
Bia mộ còn ghi tên Tấn Công
Một tấm lòng son để lại tiếng xưa nay
Nghìn năm xương trắng chia cách kẻ sống và người chết
Có thừa mưu lược làm tướng văn tướng võ
Hình mạo cần chi tô vẽ đỏ xanh
Đau lòng gần đây trên cây ở Chiêu lăng
Tiếng quyên kêu suốt một dải Vị Thành

Bùi Tấn Công tức Bùi Độ, tự Trung Lập, người đời Đường làm quan dưới triều Đường Hiến Tông, có công dẹp giặc được phong chức Tấn quốc công, làm tể tướng 30 năm. Sau vì nhóm hoạn quan lộng quyền, ông cáo quan, về nhà ngâm vịnh với các nhà thơ đương thời như Bạch Cư Dị, Lưu Vũ Tích.

Hoàng hà 黃河 • Sông Hoàng Hà

黃河
一氣茫茫混沌前,
其來無際去無邊。
天潢巨派九千里,
聖主休期五十年。
懷古未能忘夏禹,
至今誰復羨張騫。
秋中可有浮槎過,
我欲乘之再上天。

Hoàng hà
Nhất khí mang mang hỗn độn tiền,
Kỳ lai vô tế khứ vô biên.
Thiên Hoàng cự phái cửu thiên lý,
Thánh chủ hưu kỳ ngũ thập niên.
Hoài cổ vị năng vong Hạ Vũ,
Chí kim thuỳ phục tiện Trương Khiên.
Thu trung khả hữu phù tra quá,
Ngã dục thừa chi tái thướng thiên.

Dịch nghĩa
Một bầu khí mênh mông trước thời hỗn độn
Không biết từ đâu đến, chẳng biết chảy về bến bờ nào
Là nhánh lớn của Sông Trời, dài chín ngàn dặm
Vào thời kì vua thánh, năm trăm năm ra đời một lần
Nhớ chuyện xưa, không thể quên vua Hạ Vũ
Đến nay còn ai muốn làm như Trương Khiên
Giữa thu mà có bè vượt sông
Ta cũng muốn cưỡi nó lên trời lần nữa

Hoàng Hà: sông lớn ở phía Bắc Trung Hoa, nước vàng. Lý Bạch viết: “Hoàng Hà chi thuỷ thiên thượng lai” 黃河之水天上來 (nước sông Hoàng Hà từ trên trời đổ xuống). Theo truyền thuyết, cứ năm trăm năm, nước sông Hoàng Hà trong lại một lần, có vua thánh ra đời, thiên hạ đại thịnh.

Hoàng Hà trở lạo 黃河阻潦 • Lũ sông Hoàng Hà làm trở ngại

黃河阻潦
龍門西上赤雲浮,
傾盡崑崙一片秋。
百里散流無定派,
一波矗起便成洲。
麥糕土狗難為食,
落梗漂萍失自謀。
剩有閒心無罣礙,
不妨終日對浮鷗。

Hoàng Hà trở lạo
Long Môn tây thượng xích vân phù,
Khuynh tận Côn Lôn nhất phiến thu.
Bách lý tản lưu vô định phái,
Nhất ba sực khởi tiện thành châu.
Mạch cao thổ cẩu nan vi thực,
Lạc ngạnh phiêu bình thất tự mưu.
Thặng hữu nhân tâm vô quải ngại,
Bất phương chung nhật đối phù âu.

Dịch nghĩa
Phía tây núi Long Môn, mây đỏ nổi
Làm nghiêng cả một mảng trời thu núi Côn Lôn
Nước tràn trăm dặm không thấy đâu là phương hướng
Sóng dựng một luồng nổi thành bãi
Bánh bột mạch, thịt dê thật khó ăn
Cành gãy, bèo trôi, không tự mình lo toan gì được
Có thừa một tấm lòng an nhiên vô ngại
Chẳng ngại gì, cả ngày đối mặt với đám chim âu

Tỉ Can mộ 比干墓 • Mộ Tỉ Can

比干墓
遯狂君子各全身,
八百諸侯會孟津。
七竅有心安避剖,
一丘遺殖盡成人。
目中所觸能無淚,
地下同遊可有人。
慚愧貪生魏田舍,
忠良胡亂彊相分。

Tỉ Can mộ
Độn cuồng quân tử các toàn thân,
Bát bách chư hầu hội Mạnh Tân.
Thất khiếu hữu tâm an tị phẫu,
Nhất khâu di thực tẫn thành nhân.
Mục trung sở xúc năng vô lệ,
Địa hạ đồng du khả hữu nhân.
Tàm quý tham sinh Nguỵ điền xá,
Trung lương hồ loạn cưỡng tương phân.

Dịch nghĩa
Bậc quân tử phải đi trốn hoặc giả điên để khỏi bị giết
Tám trăm chư hầu họp nhau ở Mạnh Tân (để đánh vua Trụ tàn ác)
Có trái tim bảy lỗ thì sao không khỏi bị mổ ?
(Này đây) một gò cây cỏ (của người chịu chết) thành bậc nhân
Trông tận mắt, có thể nào không rơi nước mắt
Ở dưới đất có người có thể làm bạn đồng tâm
Đáng xấu hổ họ Ngụy quê mùa tham sống
Dám hồ đồ gượng ép chia hai Trung với Lương

Tỉ Can: là một người trong hàng chú bác của bạo chúa nhà Ân là Trụ. Ông thường can gián Trụ nên bị Trụ giết.

Trở binh hành 阻兵行 • Bài hành về việc binh đao làm nghẽn đường

阻兵行
金鏘鏘鐵錚錚,
車馬馳驟雞犬鳴。
小戶不閉大戶閉,
扶老攜幼移入城。
本地六月至九月,
滑濬二縣齊稱兵。
賊殺官吏十八九,
滿城西風吹血腥。
更有山東直隸遙相應,
白蓮異術多神靈。
州官聞賊至,
挑燈終夜籍民丁。
州弁聞賊至,
磨礪刀劍戛戛鳴。
州人聞賊至,
三三五五交頭細語聲咿嚶。
行人遠來不解事,
但聞城外進退皆炮聲。
河南一路皆振動,
羽檄急發如飛星。
滾滾塵埃蔽天日,
步騎一蹤復一橫。
騎者彎角弓,
長箭滿壺白羽翎。
步者肩短槊,
新磨鐵刃懸朱纓。
又有新點丁壯之兵器,
削竹為鎗皮上青。
大車載弓,
小車裝尖釘,
終日往來無暫停。
數百里地遍戈甲,
道路壅塞無人行。
長送長嘆短送默,
進退維谷難為情。
昨日黃河水大至,
五日無食棲沙汀。
今日衛州阻盜賊,
不知前路何時清。
安得風車日萬里,
飛身一息來天京。
吾聞內顧頻年苦荒旱,
只有春作無秋成。
湖南河南久無雨,
自春徂秋田不耕。
大男小女頻饑色,
糠枇為食藜為羹。
眼見饑莩死當道,
懷中棗子身邊傾。
空戶壁上有查字,
數百餘戶皆饑零。
小民不忍寒且饑,
苟圖飽燠身為輕。
黃池弄甲不足道,
稍加存恤當自平。
民死在歲不在我,
勿得欺心蔽聖明。
昨見新鄭城門粘榜示,
按戶給粟蘇殘氓。
黃河以北麥又熟,
百日而輩妻子皆得生。
歸來歸來勿作死,
撫官惠保如父兄。

Trở binh hành
Kim tương tương, thiết tranh tranh,
Xa mã trì sâu, kê khuyển minh.
Tiểu hộ bất bế, đại hộ bế,
Phù lão huề ấu di nhập thành.
Bản địa lục nguyệt chí cửu nguyệt,
Hoạt, Tuấn nhị huyện tề xưng binh.
Tặc sát quan lại thập bát cửu,
Mãn thành tây phong xuy huyết tinh.
Cánh hữu Sơn Đông, Trực Lệ dao tương ứng,
Bạch Liên dị thuật đa thần linh.
Châu quan văn tặc chí,
Khiêu đăng chung dạ tịch dân đinh.
Châu biền văn tặc chí,
Ma lệ đao kiếm giát giát minh.
Châu nhân văn tặc chí,
Tam tam ngũ ngũ giao đầu tế ngữ thanh y anh.
Hành nhân viễn lai bất giải sự,
Đản văn thành ngoại tiến thoái giai pháo thanh.
Hà Nam nhất lộ giai chấn động,
Vũ hịch cấp phát như phi tinh.
Cổn cổn trần ai tế thiên nhật,
Bộ kỵ nhất tung phục nhất hoành.
Kỵ giả loan giác cung,
Trường tiễn mãn hồ bạch vũ linh.
Bộ giả kiên đoản sáo,
Tân ma thiết nhận huyền chu anh.
Hựu hữu tân điểm đinh tráng chi binh khí,
Tước trúc vi thương bì thượng thanh.
Đại xa tải cung chước,
Tiểu xa trang tiêm đinh,
Chung nhật vãng lai vô tạm đình.
Sổ bách lý địa biến qua giáp,
Đạo lộ ủng tắc vô nhân hành.
Trường tống trường thán, đoản tống mặc,
Tiến thoái duy cốc nan vi tình.
Tạc nhật Hoàng Hà thuỷ đại chí,
Ngũ nhật vô thực thê sa đinh.
Kim nhật Vệ Châu trở đạo tặc,
Bất tri tiền lộ hà thời thanh.
An đắc phong xa nhật vạn lý,
Phi thân nhất tức lai thiên kinh.
Ngô văn nội cố tần niên khổ hoang hạn,
Chỉ hữu xuân tác vô thu thành.
Hồ Nam, Hà Nam cửu vô vũ,
Tự xuân tồ thu điền bất canh.
Đại nam tiểu nữ tần cơ sắc,
Khang tì vi thực lê vi canh.
Nhãn kiến cơ biểu tử đương đạo,
Hoài trung táo tử thân biên khuynh.
Không ốc bích thượng hữu “tra” tự,
Sổ bách dư hộ giai cơ linh.
Tiểu dân bất nhẫn hàn thả cơ,
Cầu đồ bão úc thân vi khinh.
Hoàng trì lộng giáp bất túc đạo,
Sảo gia tồn tuất đương tự bình.
“Dân tử tại tuế bất tại ngã”,
Vật đắc khi tâm tế thánh minh.
Tạc kiến Tân Trịnh thành môn niêm bảng thị,
Án hộ cấp túc tô tàn manh.
Hoàng Hà dĩ bắc mạch hựu thục,
Bách nhật nhi bối thê tử giai đắc sinh.
Qui lai quy lai vật tác tử,
Phủ thần huệ bảo như phụ huynh.

Dịch nghĩa
Đồ đồng đồ sắt leng keng loảng xoảng
Xe ngựa chạy rầm rập, gà chó kêu
Nhà nghèo không đóng cửa, nhà giàu đóng cửa
Dìu già dắt trẻ dời vào trong thành
Ðất này từ tháng sáu đến tháng chín
Hai huyện Hoạt, Tuấn cùng nổi binh
Quan lại mười người, giặc giết tám chín người
Ðầy thành gió tây thổi mùi máu tanh
Lại thêm Sơn Ðông, Trực Lệ từ xa hưởng ứng
Bạch Liên giáo có nhiều phép thuật thần linh
Quan châu nghe tin giặc đến
Khêu đèn suốt đêm lập sổ đinh
Quan võ nghe tin giặc đến
Mài dao liếc kiếm nghe chối tai
Dân trong châu nghe tin giặc đến
Túm ba, tụm năm châu đầu nói xì xào
Khách từ xa đến không hiểu chuyện gì
Chỉ nghe ngoài thành lui tới đều theo tiếng pháo lệnh
Cả miền Hà Nam đều chấn động
Hịch lệnh cấp tốc như sao bay
Bụi cuốn che lấp mặt trời
Bộ binh kị binh chạy dọc ngang
Kị binh giương cung sừng
Tên dài gắn lông chim trắng để đầy bầu
Bộ binh vác giáo ngắn
Mũi thép mới mài, tua đỏ treo lủng lẳng
Lại có binh khí của tráng binh mới gọi
Vót trúc làm giáo, vỏ còn xanh
Xe lớn chở cung dây
Xe nhỏ chở chông nhọn
Suốt ngày qua lại không ngừng
Mấy trăm dặm chỗ nào cũng có binh lính
Ðường sá bế tắc, không người đi
Người đưa tiễn xa than dài, người đưa tiễn gần im lặng
Tới lui đều trong tình trạng khó khăn
Hôm qua nước Hoàng Hà dâng cao
Năm ngày không có ăn, đậu thuyền trên bãi sông
Hôm nay ở Vệ Châu giặc cướp chận đường
Không biết đường trước mặt bao giờ yên
Sao được xe gió một ngày đi vạn dặm
Bay vù một mạch đến thiên kinh
Ta nghe dân trong vùng nhiều năm khổ đại hạn
Chỉ có cầy cấy mà không có thu hoạch
Hồ Nam, Hà Nam đã lâu không mưa
Từ xuân tới thu ruộng bỏ không cày
Trai lớn gái nhỏ vẻ ốm đói
Tấm cám làm cơm, rau lê làm canh
Tận mắt thấy người đói chết trên đường
Hột táo trong bọc lăn bên mình
Nhà bỏ không, có chữ “tra” (xét) trên vách
Mấy trăm nhà đều trôi giạt vì đói
Dân mọn không kham nổi đã lạnh lại đói
Chỉ sao lo được no ấm mà coi nhẹ tấm thân
(Dân đói làm loạn chỉ như trẻ con) chơi đùa binh khí trong vũng ao, không đáng nói
Xét thương một chút là yên ngay
“Dân chết vì năm mất mùa, chẳng phải tại ta” (vua quan)
Ðừng dối lòng che mắt thánh minh.
Hôm trước thấy cửa thành Tân Trịnh yết bảng cáo thị:
“Xét theo từng nhà mà cấp lúa cứu dân sống sót.
Phía bắc sông Hoàng Hà lúa mạch lại chín
Trăm ngày nữa vợ con các người đều được sống
Về đi về đi, chớ có liều chết
Quan phủ gìn giữ dân như cha anh”

Kê thị trung từ 嵇侍中祠 • Đền thờ ông thị trung họ Kê

嵇侍中祠
古廟松篁一帶幽,
清風猶似竹林秋。
廣陵調絕餘聲響,
正氣歌成立懦夫。
亙古未乾流血地,
奇忠能破問蟆愚。
可憐江左多名士,
空對江山泣楚囚。

Kê thị trung từ
Cổ miếu tùng hoàng nhất đới u,
Thanh phong do tự Trúc Lâm thu.
Quảng Lăng điệu tuyệt dư thanh hưởng,
Chính khí ca thành lập nọa phu.
Cắng cổ vị can lưu huyết địa,
Kỳ trung năng phá vấn ma ngu.
Khả liên Giang tả đa danh sĩ,
Không đối giang san khấp Sở tù.

Kệ Thị Trung: tức Kê Thiệu 嵇紹 (253-304), con Kê Khang 嵇康, làm chức Thị trung đời Tấn Huệ Ðế 晉惠帝 (290-306). Khi Huệ Ðế bị giặc đuổi, tên bắn như mưa, Kê Thiệu lấy thân che cho vua, chết, máu phun vào cả áo vua.

Nhạc Vũ Mục mộ 岳武穆墓 • Mộ Nhạc Vũ Mục

岳武穆墓
中原百戰出英雄,
丈八神鎗六石弓。
相府已成三字獄,
軍門猶惜十年功。
江湖處處空南國,
松柏錚錚傲北風。
悵望臨安舊陵廟,
栖霞山在暮煙中。

Nhạc Vũ Mục mộ
Trung nguyên bách chiến xuất anh hùng,
Trượng bát thành thương lục thạch cung.
Tướng phủ dĩ thành tam tự ngục,
Quân môn do tích thập niên công.
Giang hồ xứ xứ không Nam quốc,
Tùng bách tranh tranh ngạo bắc phong.
Trường vọng Lâm An cựu lăng miếu,
Thê Hà sơn tại mộ yên trung.

Dịch nghĩa
Bậc anh hùng xuất hiện trong trăm trận ở Trung Nguyên
Thương thần dài trượng tám, cung nặng sáu thạch
Ở phủ tướng đã khép vào tội “ba chữ”
Nơi ba quân còn tiếc công mười năm chiến đấu
Sông hồ chốn chốn khắp Nam Tống
Cây tùng cây bách hiên ngang trước gió bắc
Buồn trông lăng miếu cũ ở Lâm An
Núi Thê Hà chìm trong khói chiều

Nhạc Vũ Mục: tức Nhạc Phi 岳飛, người thời Nam Tống 南宋. Lúc bấy giờ trong triều đình Nam Tống có hai phe, phe Tần Cối chủ hoà với Kim, phe Nhạc Phi chủ trương đánh Kim. Sau mười năm xây dựng lực lượng, Nhạc Phi đem quân tiến đánh quân Kim thì Tần Cối 秦檜 mạo lệnh vua gọi về, bỏ ngục rồi giết chết. Vũ Mục là tên thuỵ được truy tặng. Ở Tây Hồ, Hàng Châu (Chiết Giang) về sau có mộ Nhạc Phi, lại có tượng vợ chồng Tần Cối quỳ phía trước.

Tần Cối tượng kỳ 1 秦檜像其一 • Tượng Tần Cối kỳ 1

秦檜像其一
殿檜何年椎作薪,
卻來依傍岳王墳。
是非盡屬千年事,
打罵何傷一假身。
如此錚錚真鐵漢,
奈何靡靡事金人。
誰云於世無功烈,
萬古猶能懼亂臣。

Tần Cối tượng kỳ 1
Điện cối hà niên chuỳ tác tân,
Khước lai y bạng Nhạc vương phần.
Thị phi tẫn thuộc thiên niên sự,
Đả mạ hà thương nhất giả thân.
Như thử tranh tranh chân thiết hán,
Nại hà mĩ mĩ sự Kim nhân?
Thuỳ vân ư thế vô công liệt?
Vạn cổ vô năng cụ loạn thần.

Dịch nghĩa
Cây cối bên điện vua bị chẻ làm củi năm nào
Sao đến nương tựa bên mộ Nhạc Vương
Đúng hay sai, là chuyện nghìn năm phán xét
Đánh mắng đâu có làm đau đớn một cái thân giả
Coi cứng cáp thế kia thật là người sắt thép
Sao lại quị luỵ đi thờ người Kim
Ai bảo nó không có công trạng gì ở đời?
Muôn đời lấy đó làm cho loạn thần phải sợ

Tần Cối làm Ngự sử trung thừa đời Tống Khâm Tông 宋欽宗, chủ hoà với người Kim, sát hại Nhạc Phi và nhiều trung thần, nghĩa sĩ nhà Tống. Cối chết được phong là Trung vương 忠王, nhưng đến đời Tống Minh Tông 宋明宗 bị xoá tước vương và đặt tên thuỵ là Mâu Xú 繆醜. Người đời sau dựng tượng Tần Cối quỳ chịu tội ở chân miếu Nhạc Phi (xem bài Nhạc Vũ Mục mộ). Người ta thường lấy gậy đánh và nhổ vào mặt tượng.

Tần Cối tượng kỳ 2 秦檜像其二 • Tượng Tần Cối kỳ 2

秦檜像其二
格天閣毀玉樓殘,
猶有頑皮在此間。
一世死心懷大毒,
千年生鐵負奇冤。
獄中已濺生前血,
階下徒誅死後奸。
得與忠臣同不朽,
齊天奇福太無端。

Tần Cối tượng kỳ 2
Cách Thiên các huỷ ngọc lâu tàn,
Do hữu ngoan bì tại thử gian.
Nhất thế tử tâm hoài đại độc,
Thiên niên sinh thiết phụ kỳ oan.
Ngục trung dĩ tiễn sinh tiền huyết,
Giai hạ đồ tru tử hậu gian.
Đắc dữ trung thần đồn bất hủ,
Tề thiên kỳ phúc thái vô đoan.

Dịch nghĩa
Gác Cách Thiên đổ nát, lầu ngọc tan hoang
Vẫn còn tên gian ngu bướng càn rở ở đây
Cả một đời trái tim chết chứa nọc độc
Nghìn năm cục sắt sống mang nỗi oan kì lạ
Trong ngục (kẻ trung thần) khi sống đã đổ máu
Dưới thềm hành tội tên gian ác đã chết rồi
Được với bậc trung thần cùng bất hủ
Cái phúc lạ tày trời đó thật oái ăm vô lý

Vương thị tượng kỳ 1 王氏像其一 • Tượng Vương thị kỳ 1

王氏像其一
舌長三尺更何為,
好與權奸備唱隨。
後患正殷擒虎日,
前功安問飲龍期。
一生心跡同夫婿,
千古形骸辱女兒。
底事想來莫須有,
閨中私語更誰知。

Vương thị tượng kỳ 1
Thiệt trường tam xích cánh hà vi?
Hảo dữ quyền gian bị xướng tuỳ.
Hậu hoạn chính ân cầm hổ nhật,
Tiền công an vấn ẩm Long kỳ.
Nhất sinh tâm tích đồng phu tế,
Thiên cổ hình hài nhục nữ nhi.
Để sự tưởng lai “mạc tu hữu”,
Khuê trung tư ngữ cánh thuỳ tri?

Dịch nghĩa
Lưỡi dài ba tấc để làm chi
Khéo cùng quyền thần gian ác kết nên vợ chồng
Ngày bắt được cọp chính là ngày trừ được cái lo về sau
Hỏi làm chi cái công ước hẹn uống rượu mừng (thắng trận) ở Hoàng Long
Một đời bụng dạ giống như chồng
Nghìn năm hình hài làm nhục cho phụ nữ
Ngẫm lại cái án “không cần tội” (án ba chữ)
Trong phòng khuê thủ thỉ nói riêng, ai biết được

Vương thị: vợ gian thần Tần Cối 秦檜 đời Tống (960-1279). Xem bài Tần Cối tượng.

Vương thị tượng kỳ 2 王氏像其二 • Tượng Vương thị kỳ 2

王氏像其二
深圖密算勝夫君,
應是晨雞第一人。
不爛已生三寸舌,
純綱還得萬年身。
唱隨盡道應無悔,
伎倆同年更可親。
莫道女兒無力量,
也曾撼破岳家軍。

Vương thị tượng kỳ 2
Thâm đồ mật toán thắng phu quân,
Ưng thị thần kê đệ nhất nhân.
Bất lạn dĩ sinh tam thốn thiệt,
Thuần cương hoàn đắc vạn niên thân.
Xướng tuỳ tận đạo ưng vô hối,
Kĩ lưỡng đồng niên cánh khả thân.
Mạc đạo nữ nhi vô lực lượng,
Dã tằng hám phá Nhạc gia quân.

Dịch nghĩa
Mưu tính thâm hiểm hơn chồng
Đúng là “gà mái gáy sáng” bậc nhất
Sinh ra đã có ba tấc lưỡi “ngoại hạng”
Lại có được tấm thân muôn năm toàn bằng sắt cứng
Giữ trọn đạo vợ chồng, không có gì hối tiếc
Tài khéo gian xảo cùng chồng càng thêm thân mật
Chớ bảo đàn bà không có sức mạnh
(Y thị) đã từng phá tan quân của họ Nhạc

Đồng Tước đài 銅雀臺 • Đài Đồng Tước

銅雀臺
一世之雄安在哉,
古人去兮今人來。
不見鄴中魏武帝,
但見江邊銅雀臺。
臺基雖在已傾圮,
陰風怒號秋草靡。
玉龍金鳳盡茫茫,
何況臺中歌舞妓。
斯人盛時誰敢當,
眇視皇帝凌侯王。
只恨層臺空律屼,
小喬終老嫁周郎。
一朝大限有時至,
尚食奏歌圖悅鬼。
分香賣履苦叮嚀,
落落丈夫何爾爾。
奸雄別自有機心,
不是鳴哀兒女氣。
千機萬巧盡成空,
終古傷心漳江水。
我思古人傷我情,
徘徊俯仰悲浮生。
如此英雄且如此,
況乎寸功與薄名。
人間勳業若長在,
此地高臺應未傾。

Đồng Tước đài
Nhất thế chi hùng an tại tai,
Cổ nhân khứ hề kim nhân lai.
Bất kiến Nghiệp trung Nguỵ Vũ Đế,
Đãn kiến giang biên Đồng Tước đài.
Đài cơ tuy tại dĩ khuynh bĩ,
Âm phong nộ hào thu thảo mĩ.
Ngọc Long, Kim Phượng tận mang mang,
Hà huống đài trung ca vũ kỹ.
Tư nhân thịnh thời thuỳ cảm đương,
Miễu thị hoàng đế lăng hầu vương.
Chỉ hận tằng đài không luật ngột,
Tiểu Kiều chung lão giá Chu Lang.
Nhất triêu đại hạn hữu thì chí,
Thượng thực tấu ca đồ duyệt quỷ.
Phân hương mại lí khổ đinh ninh,
Lạc lạc trượng phu hà nhĩ nhĩ.
Gian hùng biệt tự hữu cơ tâm,
Bất thị minh ai nhi nữ khí.
Thiên cơ vạn xảo tận thành không,
Chung cổ thương tâm Chương Giang thuỷ.
Ngã tư cổ nhân thương ngã tình,
Bồi hồi phủ ngưỡng bi phù sinh.
Như thử anh hùng thả như thử,
Huống hồ thốn công dữ bạc danh.
Nhân gian huân nghiệp nhược trường tại,
Thử địa cao đài ưng vị khuynh.

Dịch nghĩa
Anh hùng một thuở nay ở đâu ?
Người xưa đã qua, ôi! người nay tới
Chẳng thấy Nguỵ Vũ đế trong thành Nghiệp
Chỉ thấy đài Đồng Tước ở bên sông
Nền đài tuy còn, nhưng đã nghiêng đổ
Gió lạnh thét gào, cỏ thu tàn úa
Lầu Ngọc Long, Kim Phụng cũng mịt mờ dấu vết
Huống chi ca nhi, vũ nữ trong đài
Người ấy lúc thịnh, ai dám chống lại?
Coi thường vua, lấn lướt vương hầu
Chỉ hận mấy tầng lầu cao sừng sững
Mà nàng Tiểu Kiều đến già vẫn là vợ Chu Lang
Một sớm mai hạn lớn xảy đến
Dâng thức ăn, đàn hát mong làm vui hồn ma
Chia hương, bán giày, khổ tâm dặn dò
Bậc trượng phu tài ba lỗi lạc mà sao như thế ?
Kẻ gian hùng riêng có mưu kế trong lòng
Chẳng phải kêu thương uỷ mị như tính khí đàn bà ?
Rốt cuộc muôn khéo nghìn khôn cũng thành không tất cả
Từ ngàn xưa đau lòng nước sông Chương
Ta nghĩ đến người xưa mà xót nỗi mình
Bồi hồi ngẩng lên cúi xuống, thương kiếp phù sinh
Anh hùng đến như thế mà như thế
Huống chi những kẻ có chút công nhỏ mọn, danh vọng mỏng manh
Nghiệp lớn ở đời nếu còn mãi
Thì toà đài cao ở đất này đã chưa đổ

Thất thập nhị nghi trủng 七十二疑冢 • Bảy mươi hai ngôi mộ giả

七十二疑冢
鄴城城外野風吹,
秋草蕭蕭舊事非。
枉用一人無限智,
空留萬古許多疑。
臭名滿槨藏何用,
賊骨千年罵不知。
何似錦城先主廟,
至今松柏有光輝。

Thất thập nhị nghi trủng
Nghiệp thành thành ngoại dã phong xuy,
Thu thảo tiêu tiêu cựu sự phi.
Uổng dụng nhất nhân vô hạn trí,
Không lưu vạn cổ hứa đa nghi.
Xú danh mãn quách tàng hà dụng,
Tặc cốt thiên niên mạ bất tri.
Hà tự Cẩm Thành Tiên chủ miếu,
Chí kim tùng bách hữu quang huy.

Dịch nghĩa
Bên ngoài thành Nghiệp gió đồng thổi
Cỏ thu tiêu điều, việc cũ đã qua
Dùng mưu trí vô hạn của một người thật uổng phí
Chỉ để lại bao nỗi ngờ cho muôn đời sau
Tiếng xấu đầy hòm, chôn giấu để làm chi
Nắm xương giặc nghìn năm bị chửi rủa mà không biết
Sao bằng miếu Tiên chủ ở Cẩm Thành
Đến nay cây tùng cây bách còn chiếu sáng

Thất thập nhị nghi trủng: Tào Tháo 曹操 (155-220), tự là Mạnh Đức 孟德, thời Kiến An có công thống nhất bắc Trung Quốc, làm quan đến chức thừa tướng, phong Nguỵ Vương 魏王. Tào Tháo nổi tiếng là người đại mưu trí, có tánh đa nghi. Trước khi chết, sợ sau này có kẻ đào mồ, Tào Tháo cho làm 72 ngôi mộ giả ở ngoài Nghiệp Thành 鄴城 là nơi chôn mình. Nguyễn Du, trên đường đi sứ Yên Kinh năm Quí Dậu (1813), đã đi qua thành Nghiệp, vào mùa thu năm đó.

Lạn Tương Như cố lý 藺相如故里 • Làng cũ của Lạn Tương Như

藺相如故里
大勇不以力,
僅有藺相如。
僥倖能完璧,
徘徘善避車。
豐碑留姓字,
全趙免丘墟。
慚愧力扼虎,
平生無可書。

Lạn Tương Như cố lý
Đại dũng bất dĩ lực,
Cận hữu Lạn Tương Như.
Kiểu hãnh năng hoàn bích,
Bồi bồi thiện tị xa.
Phong bi lưu tính tự,
Toàn Triệu miễn khâu khư.
Tàm quý lực ách hổ,
Bình sanh vô khả thư.

Dịch nghĩa
Bậc đại dũng không cần đến sức mạnh
Chỉ có Lạn Tương Như
Cầu may lấy lại được ngọc bích
Đi vòng đường khéo tránh xe
Bia lớn ghi tên họ
Bảo toàn cho nước Triệu không thành gò đống
Thẹn thay cho kẻ có sức bắt được cọp
Mà trọn đời không có gì đáng ghi

Lạn Tương Như người nước Triệu thời Chiến Quốc, là xá nhân của viên thái giám trưởng trong cung. Nhờ trí dũng của Lạn Tương Như mà vua Triệu Huệ Vương 趙惠王 không mất viên ngọc Hoà Bích 和璧 rất quý vào tay vua Tần Chiêu Vương 秦昭王. Khi được thăng làm Thượng khanh, hơn cả đại tướng Liêm Pha 廉頗, Liêm Pha ganh tị, nhất định tìm cách làm nhục Tương Như. Lạn Tương Tư vẫn nhún nhường, khi ra đường, thấy bóng Liêm Pha, ngoặt xe lẩn tránh. Tương như nói: “Sở dĩ nước Tần hùng cường kia không dám đem quân đánh Triệu, là vì ở đây còn có hai con hổ (chỉ Lạn Tương Như và Liêm Pha). Tương Như tôi nhẫn nhục nhường nhịn, là vì để mối nguy của quốc gia lên trên cái hiềm thù cá nhân đấy”. Lời nói này đến tai Liêm Pha, Liêm Pha cởi trần, lưng mang cành có cây gai đến nhà Tương Như tạ tội.

Hàm Đan tức sự 邯鄲即事 • Tức cảnh Hàm Đan

邯鄲即事
一帶垂楊半暮煙,
邯鄲勝跡見遺編。
高原豐草呼鷹路,
何處雲和挾妓筵。
鴻嶺夢中荒射獵,
白頭足跡遍山川。
黃河南北皆秋水,
鄉信何由達鴈邊。

Hàm Đan tức sự
Nhất đới thuỳ dương bán mộ yên,
Hàm Đan thắng tích kiến di biên.
Cao nguyên phong thảo hô ưng lộ,
Hà xứ Vân Hoà hiệp kỹ diên.
Hồng Lĩnh mộng trung hoang xạ liệp,
Bạch đầu túc tích biến sơn xuyên.
Hoàng Hà nam bắc giai thu thuỷ,
Hương tín hà do đạt nhạn biên.

Dịch nghĩa
Một dải dương liễu rủ trong khói gần chiều
Thắng cảnh Hàm Ðan thấy ghi trong sách cũ
Trên cao nguyên, bãi cỏ tươi xanh là đường gọi chim ưng (đi săn)
Còn đâu núi Vân Hoà tiệc vui ca kỹ ?
Hồng Lĩnh trong giấc mộng thiếu vắng những cuộc đi săn
Ðầu bạc còn in dấu chân khắp núi sông
Nam bắc Hoàng Hà đều ngập nước mùa thu
Tin nhà làm sao đưa tới bên chim nhạn được

Hàm Ðan: kinh đô nước Triệu thời Chiến Quốc, nay thuộc tỉnh Hà Bắc (Trung Quốc).

Hàn Tín giảng binh xứ 韓信講兵處 • Chỗ Hàn Tín luyện quân

韓信講兵處
百萬旌麾北渡河,
燕交地下有沉戈。
悠悠事後二千載,
蕩蕩城邊一片沙。
噲伍未成甘碌碌,
君前猶自善多多。
可憐十世山河在,
厚誓徒延絳灌家。

Hàn Tín giảng binh xứ
Bách vạn tinh huy bắc độ Hà,
Yên giao địa hạ hữu trầm qua.
Du du sự hậu nhị thiên tải,
Đãng đãng thành biên nhất phiến sa.
Khoái ngũ vị thành cam lục lục,
Quân tiền do tự thiện đa đa.
Khả liên thập thế sơn hà tại,
Hậu thệ đồ duyên Giáng Quán gia.

Dịch nghĩa
Trăm vạn cờ xí vượt sông Hoàng Hà phía bắc
Dưới đất Yên còn vùi gươm giáo
Việc xa xôi xảy ra đã hai nghìn năm
Mênh mông ở bên thành một bãi cát
Cùng hàng với bọn Phàn Khoái, chưa thành công, cam chịu tầm thường
Trước mặt vua vẫn tự cho (có tài cầm quân), “càng nhiều càng tốt”
Thương thay, sơn hà nhà Hán đã được mười đời rồi
Nhưng chỉ có Giáng hầu, Quán Anh là được hưởng lời thề nồng hậu (của vua Hán Cao Tổ)

Hàn Tín người đất Hoài Âm 淮陰 (thuộc tỉnh Giang Tô ngày nay) giúp Lưu Bang 劉邦, lập nhiều công trạng, là công thần bậc nhất nhà Hán. Sau bị mang tiếng làm phản, Hán Cao Tổ 漢高祖 giáng chức làm Hoài Âm Hầu 淮陰侯. Lữ Hậu 呂后 giết cả ba họ nhà Tín. (Xem bài Độ Hoài hữu cảm Hoài Âm Hầu).

Liêm Pha bi 廉頗碑 • Bia Liêm Pha

廉頗碑
廉頗亡去武安將,
四十萬人同穴葬。
乳臭小兒易言兵,
一國長城徒自喪。
寄閫重任須老成,
內審國勢外敵情。
所以臨敵能制勝,
端在捐仇知負荊。
一國兩虎不可犯,
二十餘年誰與爭。
將軍在時趙以重,
將軍去時令趙輕。
所恨讒人織萋斐,
何須一食三遺屎。
白頭去後不重來,
邯鄲之事可知矣。
趙亡秦繼三千年,
將軍名序至今傳。
摩挲古碣三太息,
勃勃壯氣想見其生前。
今人不少食多肉,
幾令家養無遺畜。
清平時節無戰爭,
一口雄談不數廉頗與李牧。

Liêm Pha bi
Liêm Pha vong khứ Võ An tướng,
Tứ thập vạn nhân đồng huyệt táng.
Nhũ xú tiểu nhi dị ngôn binh,
Nhất quốc trường thành đồ tự táng.
Ký khổn trọng nhậm tu lão thành,
Nội thẩm quốc thế ngoại địch tình.
Sở dĩ lâm địch năng chế thắng,
Đoan tại quyên cừu tri phụ kinh.
Nhất quốc lưỡng hổ bất khả phạm,
Nhị thập dư niên thuỳ dữ tranh.
Tướng quân tại thời, Triệu dĩ trọng,
Tướng quân khứ thời linh Triệu khinh.
Sở hận sàm nhân chức thê phỉ,
Hà tu nhất thực tam di thỉ.
Bạch đầu khứ hậu bất trùng lai,
Hàm Đan chi sự khả tri hĩ.
Triệu vong Tần kế tam thiên niên,
Tướng quân danh tự chí kim truyền.
Ma sa cổ kiệt tam thái tức,
Bột bột tráng khí tưởng kiến kỳ sinh tiền.
Kim nhân bất thiểu thực đa nhục,
Cơ linh gia dưỡng vô di súc.
Thanh bình thời tiết vô chiến tranh,
Nhất khẩu hùng đàm bất sổ Liêm Pha dữ Lý Mục.

Liêm Pha là một lương tướng nước Triệu. Đời Triệu Văn Vương 趙文王, năm thứ 16, Liêm Pha giúp Triệu đánh Tề đại bại, lấy được Dương Tân và được lãnh chức thượng khanh, nổi tiếng với chư hầu là người có dũng khí.

Tô Tần đình kỳ 1 蘇秦亭其一 • Đình Tô Tần kỳ 1

蘇秦亭其一
敝盡貂裘不復西,
趙臺抵掌吐虹霓。
縱橫自可愚庸主,
富貴還能倨寡妻。
六國印銷沙漠漠,
一亭秋暮草萋萋。
人生權利成無味,
今古誰能破此迷。

Tô Tần đình kỳ 1
Tệ tận điêu cừu bất phục tê,
Triệu đài để chưởng thổ hồng nghê.
Tung hoành tự khả ngu dung chúa,
Phú quý hoàn năng cứ quả thê.
Lục quốc ấn tiêu sa mạc mạc,
Nhất đình thu mộ thảo thê thê.
Nhân sinh quyền lợi thành vô vị,
Kim cổ thuỳ năng phá thử mê.

Dịch nghĩa
Rách hết áo cừu đen, không trở lại phía Tây (nhà Tần)
Nơi triều đường nước Triệu, đập tay thở ra cầu vồng (ra tài hùng biện)
Thuyết hợp Tung, liên Hoành chỉ phỉnh được vua chúa tầm thường
Giàu sang có thể ngạo nghễ với đàn bà goá
Ấn sáu nước tiêu tan, cát bụi mịt mùng
Một ngôi đình trong cảnh thu muộn, cỏ um tùm
Trong đời người, quyền lợi thật là vô vị
Xưa nay ai phá được điều mê muội đó

Thời Chiến Quốc, Tô Tần mười lần dâng thư thuyết Tần vương (ở phía Tây) mà không có kết quả. Áo cừu đen đã rách, trăm cân vàng đã tiêu hết, thiếu tiền chi dụng, phải rời nước Tần mà về quê nhà, đùi quấn cạp, chân đi dép cỏ, đội sách đeo đẫy, hình dung tiều tuỵ, mặt mày xanh xạm, có vẻ xấu hổ. Về tới nhà, vợ thản nhiên không rời khung cửi, chị không nấu cơm cho ăn, cha mẹ không hỏi han tới. Tô Tần bùi ngùi than rằng: “Vợ không coi ta là chồng, chị không coi ta là em, cha mẹ không coi ta là con, đều là lỗi của Tần này cả”. Đêm đó, lấy trong tráp cũ ra được mấy chục bộ sách, tìm được bộ binh pháp Âm Phù của Khương Thái Công 姜太公, gục đầu trên án mà đọc (…). Đọc sách mệt mà buồn ngủ thì tự cầm dùi đâm vào vế, máu chảy tới bàn chân, bảo: “Có lẽ nào đi du thuyết bọn vua chúa mà không cho họ mang vàng ngọc, gấm vóc tặng mình, đem chức khanh tướng tôn quý phong mình không?” Được một năm, công tinh luyện đã thành (…), Tô Tần yết kiến Triệu Vương, ở dưới một ngôi nhà lộng lẫy, vỗ tay mà đàm luận. (…) Khi Tô Tần đi du thuyết vua Sở, đường qua Lạc Dương, cha mẹ hay tin, cọ nhà quét sân, bày nhạc đặt tiệc, ra ngoài ba chục dặm để đón rước, vợ chỉ dám liếc trộm, nghe trộm, còn chị thì bò như rắn, tự quì xuống tạ tội. (…) Tô Tần than: “Ôi! Nghèo khốn thì bố mẹ không nhận làm con, giàu sang thì thân thích sợ sệt. Người sinh ở đời, thế lực, chức vị và tiền của có thể coi thường được đâu!”

Tô Tần đình kỳ 2 蘇秦亭其二 • Đình Tô Tần kỳ 2

蘇秦亭其二
季子黑裘敝,
徒步擔囊歸。
其妻不下機,
其嫂不為炊。
父母不復顧,
相看如路岐。
丈夫一失志,
骨肉皆相離。
一朝大運有時至,
六印纏腰鳴得意。
黄金百鎰璧百雙,
從車千乘來鄉里。
父母郊迎嫂膝行,
妻見其夫側目視。
平生志願畢於斯,
前倨後恭言正鄙。
合縱不在卻彊秦,
但向所親驕富貴。
刺股原為權利謀,
嗟呼此人小哉氣。
書中飽聞蘇秦名,
道中卻過蘇秦亭。
車馬金玉已無跡,
亭前之草空青青。
世人多讀蘇秦傳,
猶為位勢富貴傷其生。

Tô Tần đình kỳ 2
Quý Tử hắc cừu tệ,
Đồ bộ đảm nang quy.
Kỳ thê bất hạ ky,
Kỳ tẩu bất vi xuy.
Phụ mẫu bất phục cố,
Tương khán như lộ kỳ.
Trượng phu nhất thất chí,
Cốt nhục giai tương ly.
Nhất triêu đại vận hữu thì chí,
Lục ấn triền yêu minh đắc ý.
Hoàng kim bách dật bích bách song,
Tòng xa thiên thặng lai hương lý.
Phụ mẫu giao nghênh tẩu tất hành,
Thê kiến kỳ phu trắc mục thị.
Bình sinh chí nguyện tất ư tư,
Tiền cứ hậu cung ngôn chính bỉ.
Hợp tung bất tại khước cường Tần,
Đãn hướng sở thân kiêu phú quý.
Thích cổ nguyên vi quyền lợi mưu,
Ta hồ thử nhân tiểu tai khí.
Thư trung bão văn Tô Tần danh,
Đạo trung khước quá Tô Tần đình.
Xa mã kim ngọc dĩ vô tích,
Đình tiền chi thảo không thanh thanh.
Thế nhân đa độc Tô Tần truyện,
Do vi vị thế phú quý thương kỳ sinh.

Dịch nghĩa
Quý Tử, áo cừu đen rách
Đành đi bộ mang gói về
Vợ không rời khung cửi
Chị không nấu cơm cho ăn
Cha mẹ không đoái nhìn
Như gặp người lạ ở ngã ba đường
Kẻ trượng phu khi thất chí
Người ruột thịt cũng đều lìa bỏ
Một sớm vận lớn thành công đến
Ấn tướng quốc sáu nước đeo trên lưng, được đắc ý
Hoàng kim trăm dật, ngọc bích trăm đôi
Nghìn cỗ xe theo trở về làng
Cha mẹ ra xa nghênh đón, chị dâu lết gối ra chào
Vợ thấy chồng lấm lét nhìn
Chí nguyện một đời chính là lúc đó
“Trước rẻ rúng, sau cung kính”, lời nói thật đáng khinh
Kế hợp tung chẳng phải để chống nước Tần mạnh
Mà chỉ nhắm cho vênh vang phú quý với người thân
“Dùi đâm vào vế” cốt để mưu quyền lợi
Than ôi, khí độ người đó thật là nhỏ mọn
Trong sách nghe danh Tô Tần
Nay trên đường, lại qua đình Tô Tần
Ngựa xe vàng ngọc không còn dấu vết
Trước đình chỉ thấy cỏ mọc xanh xanh
Người đời lắm kẻ đọc truyện Tô Tần
Thế mà còn để địa vị, giàu sang làm hại đời mình

Tô Tần: xem chú thích trong kỳ 1.