Tập thơ Bắc hành tạp lục của nhà thơ  được sáng tá trong vòng 1 năm từ tháng 2 năm 1813 đến tháng 12 năm 1813. Tập thơ gồm 132 bài thơ chữ Hán được ông sáng tác trong khoảng thời gian ông dẫn đầu một phái đoàn sang sứ Trung Quốc. Ở bài viết này chúng tôi sẽ giới thiệu đến quý bạn đọc phần 3 của tập thơ này. Mời các bạn cùng cảm nhận.

Tóm tắt nội dung

Vĩnh Châu Liễu Tử Hậu cố trạch 永州柳子厚故宅 • Nhà cũ của Liễu Tử Hậu ở Vĩnh Châu

永州柳子厚故宅
衡嶺浮雲瀟水波,
柳州故宅此非耶。
一身斥逐六千里,
千古文章八大家。
血指汗顏誠苦矣,
清溪嘉木奈愚何。
壯年我亦為材者,
白髮秋風空自嗟。

Vĩnh Châu Liễu Tử Hậu cố trạch
Hành lĩnh phù vân Tiêu thuỷ ba,
Liễu châu cố trạch thử phi gia ?
Nhất thân xích trục lục thiên lý,
Thiên cổ văn chương bát đại gia.
Huyết chỉ hãn nhan thành khổ hỹ,
Thanh khê gia mộc nại ngu hà.
Tráng niên ngã diệc vi tài giả,
Bạch phát thu phong không tự ta!

Dịch nghĩa
Trên núi Hành Lĩnh mây nổi, sông Tiêu sóng gợn
Nơi đây có phải nhà cũ của thứ sử Liễu Châu ?
Một thân bị đày ải nơi xa sáu ngàn dặm
Văn chương nghìn thuở, là một trong tám nhà văn thơ lớn bậc nhất
(Thợ vụng) tay bầm, mặt đổ mồ hôi, coi thật là khốn khổ
(Người tài như) khe trong, cây tốt, lại chịu tiếng ngu
Thời trai trẻ, ta cũng có tài ví như gỗ tốt
Nay bạc đầu, tự mình than vãn trước gió thu

Bài thơ này nói về ông Liễu Tông Nguyên (773-819) tự Tử Hậu. Thơ ông Liễu Tử Hậu hay nhưng không được trọng dùng, mà những kẻ nịnh vua thời đó lại được thảo chiếu của vua.

Vĩnh Châu: Liễu Tông Nguyên 柳宗元 (773-819), tự là Tử Hậu 子厚, người đất Hà Đông 河東 (nay thuộc tỉnh Sơn Tây 山西). Từng làm thứ sử Liễu Châu 柳州 (nay là Quảng Tây 廣西), đỗ tiến sĩ năm 21 tuổi, nổi tiếng tài hoa. Làm quan, chủ trương cải cách chế độ, chống tham ô nên bị đày đi xa như ở Vĩnh Châu 永州 chẳng hạn (nay thuộc Hồ Nam 湖南).

Tương giang dạ bạc 湘江夜泊 • Đêm Đậu Thuyền Trên Sông Tương Giang

湘江夜泊
一去六十里,
悠悠江水長。
浮雲連五嶺,
明月會三湘。
別浦分新色,
遥空失故鄉。
鶴來人不見,
晚樹鬱滄滄。

Tương giang dạ bạc
Nhất khứ lục thập lý,
Du du giang thuỷ trường.
Phù vân liên Ngũ Lĩnh,
Minh nguyệt hội Tam Tương.
Biệt phố phân tân sắc,
Dao không thất cố hương.
Hạc lai nhân bất kiến,
Vãn thụ uất thương thương.

Dịch nghĩa
Đi một mạch sáu mươi dặm
Nước sông chảy dài dằng dặc
Mây nổi nối liền dãy Ngũ Lĩnh
Trăng sáng tụ lại vùng Tam Tương
Phố xa chia sắc đẹp mới
Trời vòi vọi làm mất cố hương
Hạc trở lại nhưng không thấy người cưỡi hạc
Cây buổi tối chứa lạnh lẽo

Tương Đàm điếu Tam Lư đại phu kỳ 1 湘潭弔三閭大夫其一 • Qua Tương Đàm viếng Tam Lư đại phu kỳ 1

湘潭弔三閭大夫其一
好修人去二千載,
此地猶聞蘭芷香。
宗國三年悲放逐,
楚詞萬古擅文章。
魚龍江上無殘骨,
杜蒻洲邊有眾芳。
極目傷心何處是,
秋風落木過沅湘。

Tương Đàm điếu Tam Lư đại phu kỳ 1
Hiếu tu nhân khứ nhị thiên tải,
Thử địa do văn lan chỉ hương.
Tông quốc tam niên bi phóng trục,
Sở từ vạn cổ thiện văn chương.
Ngư long giang thượng vô tàn cốt,
Đỗ nhược châu biên hữu chúng phương.
Cực mục thương tâm hà xứ thị,
Thu phong lạc mộc quá Nguyên Tương.

Dịch nghĩa
Người hiếu tu sống cách hai nghìn năm,
Ngày nay đất này còn thơm mùi hoa chỉ, hoa lan.
Xa quê ba năm buồn phiền vì bị tống xuất,
Nghìn đời sau thơ của ông vẫn hay nhất.
Rồng cá đầy sông cốt tìm chẳng thấy,
Bên bờ Đỗ nhược có giống cỏ thơm.
Nhướng mắt đau lòng không biết là đâu,
Gió thu lá rụng khi qua vùng Nguyên, Tương.

Tương Đàm (Trường Sa): tên một huyện tỉnh Hồ Nam.
Tam lư đại phu: là chức tước của Khuất Nguyên người nước Sở đời Chiến Quốc. Khuất Nguyên là người tài giỏi lúc đầu được vua Sở tin dùng và thực thi chủ trương chính trị do ông đề xướng, nhưng sau vì lới gièm pha của nịnh thần ông bị đầy đi Giang Nam. Ngày mồng 5 tháng 5 ông trẫm mình ở Mịch La.

Tương Đàm điếu Tam Lư đại phu kỳ 2 湘潭弔三閭大夫其二 • Qua Tương Đàm viếng Tam Lư đại phu kỳ 2

湘潭弔三閭大夫其二
楚國冤魂葬此中,
煙波一望渺何窮。
直交憲令行天下,
何有離騷繼國風。
千古誰人憐獨醒,
四方何處托孤忠。
近時每好為奇服,
所揹椒蘭竟不同。

Tương Đàm điếu Tam Lư đại phu kỳ 2
Sở quốc oan hồn táng thử trung,
Yên ba nhất vọng diểu hà cùng.
Trực giao hiến lệnh hành thiên hạ,
Hà hữu Ly tao kế Quốc phong ?
Thiên cổ thuỳ nhân liên độc tỉnh,
Tứ phương hà xứ thác cô trung ?
Cận thời mỗi hiếu vi kỳ phục,
Sở bội tiêu lan cánh bất đồng.

Dịch nghĩa
Oan hồn của nước Sở chôn tại nơi này,
Khói sóng mênh mông cứ ngóng theo khôn cùng.
Hiến lệnh đó nếu đã được ban ra khắp mọi nơi,
Thì làm gì có Ly tao kế với Quốc phong?
Ngàn năm trước ai hiểu người tỉnh một mình,
Bốn phương lòng trung biết gửi nơi nào?
Thời nay người thích trang phục lạ,
Hoa tiêu lan của họ đeo cũng chẳng giống của ông.

Phản chiêu hồn 反招魂 • Chống bài “Chiêu hồn”

反招魂
魂兮魂兮胡不歸,
東西南北無所依。
上天下地皆不可,
鄢郢城中來何為。
城郭猶是人民非,
塵埃滾滾汙人衣。
出者驅車入踞坐,
坐談立議皆皋夔。
不露爪牙與角毒,
咬嚼人肉甘如飴。
君不見湖南數百州,
只有瘦瘠無充肥。
魂兮魂兮率此道,
三皇之後非其時。
早斂精神返太極,
慎勿再返令人嗤。
後世人人皆上官,
大地處處皆汨羅。
魚龍不食豺虎食,
魂兮魂兮奈魂何。

Phản chiêu hồn
Hồn hề! Hồn hề! Hồ bất quy?
Đông tây nam bắc vô sở y.
Thướng thiên há địa giai bất khả,
Yên, Dĩnh thành trung lai hà vi?
Thành quách do thị, nhân dân phi,
Trần ai cổn cổn ô nhân y.
Xuất giả khu xa, nhập cứ toạ,
Toạ đàm lập nghị giai Cao, Quỳ.
Bất lộ trảo nha dữ giác độc,
Giảo tước nhân nhục cam như di!
Quân bất kiến Hồ Nam sổ bách châu,
Chỉ hữu sấu tích, vô sung phì.
Hồn hề! hồn hề! suất thử đạo
Tam Hoàng chi hậu phi kỳ thì.
Tảo liễm tinh thần phản thái cực,
Thận vật tái phản linh nhân xi,
Hậu thế nhân gian giai Thượng Quan
Đại địa xứ xứ giai Mịch La,
Ngư long bất thực, sài hổ thực,
Hồn hề! hồn hề! nại hồn hà?

Dịch nghĩa
Hồn ơi! hồn ơi! sao chẳng về?
Ðông tây nam bắc không chốn nương tựa
Lên trời xuống đất đều không được
Còn trở về thành Yên thành Sính làm gì?
Thành quách còn đây, nhân dân đã khác
Bụi bặm mù bay làm dơ bẩn quần áo
Ra ngoài thì ruổi xe, vào nhà ngồi chễm chệ
Ðứng ngồi bàn bạc như hai bậc hiền thần Cao, Quỳ
Không để lộ ra nanh vuốt nọc độc
Mà cắn xé thịt người ngọt xớt
Không thấy sao mấy trăm châu ở Hồ Nam
Chỉ có người gầy gò, không ai béo tốt
Hồn ơi! hồn ơi! nếu cứ noi theo lối đó
Thì sau Tam Hoàng không hợp thời nữa
Hãy sớm thu góp tinh thần trở lại Thái Cực
Ðừng trở lại đây nữa để người ta mai mỉa
Ðời sau đều là Thượng Quan
Khắp mặt đất đều là sông Mịch La
Cá rồng không ăn, sói hùm cũng nuốt
Hồn ơi! hồn ơi! hồn làm sao đây?

Chiêu hồn là một bài từ của Tống Ngọc 宋玉, người cùng thời với Khuất Nguyên 屈原. Trong bài có nói Tống Ngọc thương Khuất Nguyên hồn phách sắp tiêu tan nên làm bài từ để gọi hồn cho sống lâu hơn. Nguyễn Du phản lại ý đó, ý muốn nói hồn không nên trở lại cõi trần gian có đầy những kẻ gian ác thâm hiểm.

Biện Giả 辯賈 • Bác Giả Nghị

辯賈
不涉湖南道,
安知湘水深。
不讀懷沙賦,
安識屈原心。
屈原心湘江水,
千秋萬秋清見底。
古今安得同心人,
賈生一賦徒為耳。
烈女從來不二夫,
何得栖栖相九州。
未必古人知有我,
眼中湘水空悠悠。

Biện Giả
Bất thiệp Hồ Nam đạo,
An tri Tương Thuỷ thâm?
Bất độc Hoài sa phú
An thức Khuất Nguyên tâm?
Khuất Nguyên tâm, Tương giang thuỷ,
Thiên thu vạn thu thanh kiến để.
Cổ kim an đắc đồng tâm nhân,
Giả sinh nhất phú đồ vi nhĩ.
Liệt nữ tòng lai bất nhị phu,
Hà đắc thê thê “tướng cửu châu”.
Vị tất cổ nhân tri hữu ngã,
Nhãn trung Tương Thuỷ, không du du!

Dịch nghĩa
Không đi qua Hồ Nam
Sao biết sông Tương sâu
Không đọc phú Hoài sa
Sao hiểu lòng Khuất Nguyên
Lòng Khuất Nguyên, nước sông Tương
Nghìn thu vạn thu trong suốt thấy đáy
Xưa nay mấy ai có được bạn đồng tâm
Bài phú của thư sinh họ Giả chẳng có nghĩa lý gì
Liệt nữ xưa nay không lấy hai chồng
Cần gì phải tất tả đi khắp chín châu tìm vua khác
Chưa chắc người xưa biết có ta
Trong mắt sông Tương dằng dặc trôi

Giả tức Giả Nghị (201-169 trước C.N.) một vị quan đời Hán, vì bị quan thần bài xích nên bị đổi đi làm thái phó ở Trường Sa. Khi đi qua sông Tương làm bài phú Viếng Khuất Nguyên, ngụ ý than thở cảnh ngộ mình.

Trường Sa Giả thái phó 長沙賈太傅 • Giả Thái Phó đất Trường Sa

長沙賈太傅
絳灌武人何所知,
孝文澹泊憚更為。
立談不展平生學,
事職何妨至死悲。
天降奇才無用處,
日斜異物有來時。
湘潭咫尺相鄰近,
千古相逢兩不違。

Trường Sa Giả thái phó
Giáng Quán võ nhân hà sở tri,
Hiếu Văn đạm bạc đạn canh vi.
Lập đàn bất triển bình sinh học,
Sự chức hà phương chí tử bi.
Thiên giáng kỳ tài vô dụng xứ,
Nhật tà dị vật hữu lai thì.
Tương Đàm chỉ xích tương lân cận,
Thiên cổ tương phùng lưỡng bất vi.

Dịch nghĩa
Giáng Hầu, Quán Anh là những kẻ võ biền có biết gì
Vua Hiếu Văn không tha thiết gì, sợ thay đổi
Đứng suông mà bàn luận không thể bày tỏ cái học cả đời mình
Làm tròn chức phận có gì mà phải chịu chết đau thương
Trời cho tài lạ mà không có chỗ dùng
Chiều tà vật quái dị có lúc đến
Tương Đàm gần gũi trong gang tấc
(Sống cách nhau) nghìn năm, gặp gỡ, cả hai đâu có gì trái nghịch

Giả thái phó: Tức Giả Nghị 賈誼 (200-168, trước Công Nguyên). Giỏi từ phú nghị luận, làm tới Thái Trung Đại Phu 太中大夫 đời Tây Hán 西漢, chủ trương cải cách, bị đám quý tộc bài xích, bị biếm làm Thái Phó Trường Sa Vương 長沙王. Bất đắc chí chết năm 33 tuổi. Khi qua sông Tương, Giả Nghị làm bài phú Viếng Khuất Nguyên 屈原 để giải bày tâm sự mình.

Sơ thu cảm hứng kỳ 1 初秋感興其一 • Cảm hứng đầu thu kỳ 1

初秋感興其一
蕭蕭木落楚江空,
無限傷心一夜中。
白髮生憎班定遠,
玉門關外老秋風。

Sơ thu cảm hứng kỳ 1
Tiêu tiêu mộc lạc Sở giang không,
Vô hạn thương tâm nhất dạ trung.
Bạch phát sinh tăng Ban định viễn,
Ngọc Môn Quan ngoại lão thu phong.

Dịch nghĩa
Sông Sở hoang vắng lá cây rụng bời bời
Trong một đêm xiết bao đau lòng
Ban Định Viễn ghét tóc trắng mọc ra
Ở ngoài cửa Ngọc môn, già với gió thu

Sơ thu cảm hứng kỳ 2 初秋感興其二 • Cảm hứng đầu thu kỳ 2

初秋感興其二
江上西風木葉稀,
寒蟬終日噪高枝。
其中自有清商調,
不是愁人不許知。

Sơ thu cảm hứng kỳ 2
Giang thượng tây phong mộc diệp hy,
Hàn thiền chung nhật táo cao chi.
Kỳ trung tự hữu thanh thương điệu,
Bất thị sầu nhân bất hứa tri.

Dịch nghĩa
Gió tây thổi trên sông lá cây thưa thớt
Ve sầu lạnh suốt ngày kêu trên cành cao
Trong tiếng kêu có điệu thanh thương
Không phải người buồn thì không biết được

Sở vọng 楚望 • Trông vời đất Sở

楚望
荊襄千里古名都,
一半襟江一帶湖。
天假富彊供百戰,
地留缺陷限三吳。
秋風落日皆鄉望,
流水浮雲失霸圖。
孫索劉分何處在,
蒼然一望盡平蕪。

Sở vọng
Kinh, Tương thiên lý cổ danh đô,
Nhất bán khâm giang nhất đới hồ.
Thiên giả phú cường cung bách chiến,
Địa lưu khuyết hãm hạn Tam Ngô.
Thu phong lạc nhật giai hương vọng,
Lưu thuỷ phù vân thất bá đồ.
Tôn sách Lưu phân hà xứ tại,
Thương nhiên nhất vọng tẫn bình vu.

Dịch nghĩa
Kinh, Tương nghìn dặm hai đất kinh đô nổi tiếng thời xưa
Một nửa sông bao quanh, một nửa là hồ
Trời cho giàu mạnh, đem cung ứng cho chiến tranh trăm trận
Đất để chừa khoảng trống giới hạn Tam Ngô
Gió thu lúc mặt trời lặn ngóng quê nhà
Nước trôi mây nổi, sạch hết mưu đồ làm bá làm vua
Đâu rồi đất Tôn Quyền tranh giành với Lưu Bị ?
Trông chỉ thấy xanh um một vùng cỏ hoang

Sở là một lớn thời Chiến Quốc.

Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng mộ kỳ 1 耒陽杜少陵墓其一 • Mộ Đỗ Thiếu Lăng ở Lỗi Dương kỳ 1

耒陽杜少陵墓其一
天古文章天古師,
平生佩服未常離。
耒陽松柏不知處,
秋浦魚龍有所思。
異代相憐空灑淚,
一窮至此豈工詩。
掉頭舊症醫痊未,
地下無令鬼輩嗤。

Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng mộ kỳ 1
Thiên cổ văn chương thiên cổ si (sư),
Bình sinh bội phục vị thường ly.
Lỗi Dương tùng bách bất tri xứ,
Thu phố ngư long hữu sở ti (tư).
Dị đại tương liên không sái lệ,
Nhất cùng chí thử khởi công thi?
Trạo đầu cựu chứng y thuyên vị?
Địa hạ vô linh quỷ bối xi.

Dịch nghĩa
Văn chương lưu muôn đời, bậc thầy muôn đời
Bình sinh bái phục không lúc nào ngớt
Cây tùng cây bá ở Lỗi Dương, không biết ở nơi nào?
Cá rồng trong bến thu, còn có chỗ để tưởng nhớ
Ở hai thời đại khác nhau, thương nhau, luống lơi lệ
Cùng khổ đến thế há phải bởi tại thơ hay?
Chứng bệnh lắc đầu ngày trước, bây giờ đã khỏi chưa?
Dưới địa phủ đừng để cho lũ quỷ cười.

Đỗ Thiếu Lăng: chỉ Ðỗ Phủ 杜甫 (712-770), một thi bá đời Thịnh Ðường. Vì có nhà ở đất Thiếu Lăng 少陵, phía nam Trường An 長安, tỉnh Thiểm Tây 陝西 nên có biệt hiệu là Thiếu Lăng.

Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng mộ kỳ 2 耒陽杜少陵墓其二 • Mộ Đỗ Thiếu Lăng ở Lỗi Dương kỳ 2

耒陽杜少陵墓其二
每讀儒冠多誤身,
天年一哭杜陵人。
文章光燄成何用,
男女呻吟不可聞。
共羨詩名師百世,
獨悲異域寄孤墳。
扁舟江上多秋思,
悵望耒陽日暮雲。

Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng mộ kỳ 2
Mỗi độc nho quan đa ngộ thân,
Thiên niên nhất khốc Ðỗ Lăng nhân.
Văn chương quang diệm thành hà dụng,
Nam nữ thân ngâm bất khả văn.
Cộng tiển thi danh sư bách thế,
Ðộc bi dị vực ký cô phần.
Biên chu giang thượng đa thu tứ,
Trướng vọng Lỗi Dương nhật mộ vân.

Tương Âm dạ 湘陰夜 • Đêm ở Tương Âm

湘陰夜
滿目皆秋色,
滿江皆月明。
寂寥今夜望,
遷謫古人情。
秋水從西來,
茫然通洞庭。
靜夜息吟啸,
無使蛟龍驚。

Tương Âm dạ
Mãn mục giai thu sắc
Mãn giang giai nguyệt minh
Tịch liêu kim dạ vọng
Thiên trích cổ nhân tình
Thu thủy tòng tây lai
Mang nhiên thông Động Đình
Tĩnh dạ tức ngâm khiếu
Vô sử giao long kinh.

Đăng Nhạc Dương lâu 登岳陽樓 • Lên lầu Nhạc Dương

登岳陽樓
危樓峙高岸,
登臨何壯哉。
浮雲三楚盡,
秋水九江來。
往事傳三醉,
故鄉空一涯。
西風倚孤檻,
鴻雁有餘哀。

Đăng Nhạc Dương lâu
Nguy lâu trĩ cao ngạn,
Đăng lâm hà tráng tai!
Phù vân Tam Sở tận,
Thu thuỷ Cửu giang lai.
Vãng sự truyền tam tuý,
Cố hương không nhất nhai.
Tây phong ỷ cô hạm,
Hồng nhạn hữu dư ai!

Dịch nghĩa
Lầu cao ngất sừng sững trên bờ cao
Lên cao nhìn xuống, cảnh thật hùng tráng
Mây nổi khắp vùng Tam Sở
Nước thu từ chín sông đổ về
Truyện xưa truyền lại (Lã Đồng Tân) đã say ba lần ở đây
Quê hương một góc trời không
Gió tây thổi, một mình dựa lan can
Chim hồng chim nhạn kêu thêm buồn

Nhạc Dương lâu: tên một toà lầu ở cửa tây thành huyện Nhạc Dương, tỉnh Hồ Nam do Trương Duyệt đời Đường xây, đối mặt với hồ Động Đình. Phạm Trọng Yêm đời Tống có bài Nhạc Dương lâu phú nổi tiếng.

Hoàng Hạc lâu 黃鶴樓 • Lầu Hoàng Hạc

黃鶴樓
何處神仙經幾時,
猶留仙跡此江湄?
今來古往爐生夢,
鶴去樓空崔顥詩。
檻外煙波終渺渺,
眼中草樹尚依依。
衷情無限朋誰訴,
明月清風也不知。

Hoàng Hạc lâu
Hà xứ thần tiên kinh kỷ thì
Do lưu tiên tích thử giang mi ?
Kim lai cổ vãng Lư sinh mộng
Hạc khứ lâu không Thôi Hạo thi
Hạm ngoại yên ba chung diểu diểu
Nhãn trung thảo thụ thượng y y
Trung tình vô hạn bằng thùy tố
Minh nguyệt thanh phong dã bất tri

Hoàng Hạc lâu: lầu Hoàng hạc ở Võ Xương, thuộc thị trấn Võ Hán, tỉnh Hồ Bắc. Tương truyền Phí Huy Văn khi lên tiên từng cưỡi hạc vàng đỗ ở đây.

Hán Dương vãn diểu 漢陽晚眺 • Ngắm cảnh chiều ở Hán Dương

漢陽晚眺
霸王陳跡屬悠悠,
漢水滔滔晝夜流。
龜鶴兩山相對岸,
神仙一去只空樓。
詩成草樹皆千古,
日暮鄉關共一愁。
想像當年吹笛夜,
白蘋紅蓼滿汀洲。

Hán Dương vãn diểu
Bá vương trần tích thuộc du du,
Hán thuỷ thao thao trú dạ lưu.
Quy Hạc lưỡng sơn tương đối ngạn,
Thần tiên nhất khứ chỉ không lâu.
Thi thành thảo thụ giai thiên cổ,
Nhật mộ hương quan cộng nhất sầu.
Tưởng tượng đương niên xuy địch dạ,
Bạch tần hồng liễu mãn đinh châu.

Dịch nghĩa
Vua xưa dấu cũ đã xa rồi
Triền miên sông Hán ngày đêm trôi
Hai bờ Quy Hạc nhìn nhau mãi
Tiên đã đi rồi lầu bỏ không
Cây cỏ tiếng truyền nhờ thơ cũ
Chiều tà nhớ nước mối sầu chung
Nghe như tiếng sáo trong đêm vọng
Trắng tần đỏ liễu đầy bên sông

Hán Dương: một huyện thuộc tỉnh Hồ bắc, cách Võ Xương một con sông. Võ Xương là nơi có lầu Hoàng Hạc. Trong bài thơ “Hoàng Hạc lâu” của Thôi Hiệu có câu: “Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ, Phương thảo thê thê Anh Vũ châu” (Tản Đà dịch: Hán Dương sông tạnh cây bày, Bãi xa Anh Vũ xanh đầy cỏ non

Nhiếp Khẩu đạo trung 灄口道中 • Trên đường đi Nhiếp Khẩu

灄口道中
秋滿楓林霜葉紅,
小猧嗥出短籬東。
數畦粳稻雞豚外,
一帶茅茨楊柳中。
鴻嶺隔年虛宿夢,
白頭千里走秋風。
茫然不辨還鄉路,
觸目浮雲處處同。

Nhiếp Khẩu đạo trung
Thu mãn phong lâm sương diệp hồng,
Tiểu oa hào xuất đoản ly đông.
Sổ huề canh đạo kê đồn ngoại,
Nhất đới mao tỳ dương liễu trung.
Hồng Lĩnh cách niên hư túc mộng,
Bạch đầu thiên lý tẩu thu phong.
Mang nhiên bất biện hoàn hương lộ,
Xúc mục phù vân xứ xứ đồng.

Dịch nghĩa
Thu ngập rừng phong, sương nhuộm đỏ lá
Tiếng chó con sủa rộn nơi rào thấp phía đông
Vài thửa ruộng lúa tám còn thêm gà lợn
Một dãy nhà tranh trong hàng dương liễu
Xa núi Hồng Lĩnh một năm trời, chỉ mộng mị suông
Ðầu tóc trắng chạy nghìn dặm trước gió thu
Mờ mịt không còn nhận ra dường trở lại quê nhà
Mây nổi ngợp mắt, đâu cũng như đâu

Nhiếp Khẩu: thị trấn ở cửa sông Nhiếp Giang, phía đông thành Vũ Hán. Nguyễn Du qua đây vào lúc mùa thu chín. Những túp lều tranh, ruộng lúa, gà lợn, tiếng chó sủa vang bên hàng giậu: cảnh làng mạc Trung Hoa mang ít nhiều hơi hướm Việt Nam.

Lý gia trại tảo phát 李家寨早發 • Buổi sáng từ nhà họ Lý ra đi

李家寨早發
曉色何滄茫,
初日隱山腹。
路上人旣行,
枝頭鳥猶宿。
萬古一紅塵,
其中皆碌碌。
犬噬竹村中,
定有高人屋。

Lý gia trại tảo phát
Hiểu sắc hà thương mang,
Sơ nhật ẩn sơn phúc.
Lộ thượng nhân ký hành,
Chi đầu điểu do túc.
Vạn cổ nhất hồng trần,
Kỳ trung giai lục lục.
Khuyển phệ trúc thôn trung,
Định hữu cao nhân ốc.

Dịch nghĩa
Sắc trời ban mai thật là bát ngát
Mặt trời mới mọc còn nấp trong lòng núi
Trên đường, người đã đi
Đầu cành, chim còn ngủ
Muôn thuở một đám bụi hồng
Trong đó mọi người bận rộn
Tiếng chó sủa trong xóm trúc
Chắc có nhà của bậc cao nhân

Lý gia trại: trại nhà họ Lý, chắc đoàn sứ Nguyễn Du đã ghé qua đêm.

Vũ Thắng quan 武勝關 • Ải Vũ Thắng

武勝關
谷口雄關武勝名,
古時此地限蠻荊。
一兵不設自雄壯,
百載承平無戰爭。
半日樹蔭隨馬背,
十分秋意到蟬聲。
傷心千里一迴首,
滿目楚山無限青。

Vũ Thắng quan
Cốc Khẩu hùng quan Vũ Thắng danh,
Cổ thời thử địa hạn Man Kinh.
Nhất binh bất thiết tự hùng tráng,
Bách tải thừa binh vô chiến tranh.
Bán nhật thụ âm tuỳ mã bối,
Thập phần thu ý đáo thiền thanh.
Thương tâm thiên lý nhất hồi thủ,
Mãn mục Sở sơn vô hạn thanh.

Dịch nghĩa
Cửa ải hùng tráng ở núi Cốc Khẩu mang tên ải Vũ Thắng
Thời xưa, nơi này giới hạn đất Man Kinh
Không cần đóng quân, tự nó hùng tráng
Trăm năm nay hưởng thái bình, không có chiến tranh
Suốt nửa ngày, bóng cây chạy theo lưng ngựa
Mười phần, ý thu đến với tiếng ve kêu
Trên đường nghìn dặm, đau lòng quay đầu lại
Mắt ngợp núi nước Sở, xanh biết bao

Tín Dương tức sự 信陽即事 • Viết ở Tín Dương

信陽即事
河南首信陽,
天下此中央。
片石存申國,
重山限楚彊。
馬鳴思飼秣,
民食半枇糠。
白發秋何恨,
西風遍異鄉。

Tín Dương tức sự
Hà Nam thủ Tín Dương,
Thiên hạ thử trung ương.
Phiến thạch tồn Thân quốc,
Trùng sơn hạn Sở cương.
Mã minh tư tự mạt,
Dân thực bán tỳ khang.
Bạch phát thu hà hận,
Tây phong biến dị hương.

Ngẫu hứng 偶興 • Ngẫu hứng

偶興
信陽城上動悲笳,
秋滿河南百姓家。
萬里鄉心回首處,
白雲南下不勝多。

Ngẫu hứng
Tín Dương thành thượng động bi già,
Thu mãn Hà Nam bách tính gia.
Vạn lý hương tâm hồi thủ xứ,
Bạch vân nam hạ bất thăng đa!

Dịch nghĩa
Trên thành Tín Dương vang lên tiếng kèn ai oán
Thu tràn ngập nhà (trăm họ) dân Hà Nam
Lòng nhớ quê xa vạn dặm, quay đầu lại
Mây trắng ở phía nam nhiều biết là bao

Độ Hoài hữu cảm Hoài Âm hầu tác 渡淮有感淮陰侯作 • Qua sông Hoài nhớ Hoài Âm hầu

渡淮有感淮陰侯作
尋常一飯報千金,
五載君臣分誼深。
推食解衣難背德,
藏弓烹狗亦甘心。
百蠻谿峒留苗裔,
兩漢山河變古今。
惆悵江頭思往事,
斷雲衰草滿淮陰。

Độ Hoài hữu cảm Hoài Âm hầu tác
Tầm thường nhất phạn báo thiên câm (kim),
Ngũ tải quân thần phận nghị thâm.
Thôi thực giải y nan bội đức,
Tàng cung phanh cẩu diệc cam tâm.
Bách man khê động lưu miêu duệ,
Lưỡng Hán sơn hà biến cổ câm (kim).
Trù trướng giang đầu tư vãng sự,
Đoạn vân suy thảo mãn Hoài Âm.

Dịch nghĩa
Được cho một bữa cơm thường, đền ơn ngàn vàng
Năm năm trời, tình nghĩa vua tôi thật thắm thiết
Ơn đức nhường cơm sẻ áo thật khó quên
Dù chịu nạn “cất cung giết chó” cũng cam lòng
Trong khe động đất Bách Man còn để lại dòng giống
Núi sông hai nhà Hán thay đổi theo thời gian
Qua bến sông, ngậm ngùi nhớ chuyện cũ
Mây rời rạc, cỏ úa tàn tràn đầy đất Hoài Âm

Hoài Âm hầu tức Hàn Tín 韓信 đời Hán. Ông người đất Hoài Âm, nhờ Tiêu Hà tiến cử, được phong đại tướng, trong năm năm giúp Hán Cao tổ lập được nhiều công trạng, được phong Tề vương, sau đổi thành Sở vương. Về sau có người tố cáo oan cho ông là mưu phản, Hán Cao tổ giả vờ đi chơi đất Vân Mộng, bắt về giáng làm Hoài Âm Hầu. Sau bị Lã Hậu giết ba họ.

Độ Hoài hữu cảm Văn thừa tướng 渡淮有感文丞將 • Qua sông Hoài nhớ Văn thừa tướng

渡淮有感文丞將
山河風景尚依然,
丞相孤忠萬古傳。
一渡淮河非故宇,
重來江左更何年?
哀衷觸處鳴金石,
怨血歸時化杜鵑。
南北只今無異俗,
夕陽無限往來船。

Độ Hoài hữu cảm Văn thừa tướng
Sơn hà phong cảnh thượng y nhiên,
Thừa tướng cô trung vạn cổ truyền.
Nhất độ Hoài Hà phi cố vũ,
Trùng lai Giang Tả cánh hà niên?
Ai trung xúc xứ minh kim thạch,
Oán huyết qui thời hoá đỗ quyên.
Nam bắc chí kim vô dị tục,
Tịch dương vô hạn vãng lai thuyền.

Văn thừa tướng: tức Văn Thiên Tường 文天祥 (1236-1282), hiệu Văn Sơn 文山, làm thừa tướng nhà Nam Tống. Khi quân Nguyên vượt sông Hoài đánh xuống nam, Thiên Tường khởi binh chống cự, được phong là hữu thừa tướng. Quân Tống thua, nhà Tống mất. Văn Thiên Tường bị bắt giam ở Yên Kinh 4 năm, không chịu khuất phục nên bị giết, mới 47 tuổi. Văn Thiên Tường có tập thơ nhan đề là “Chỉ nam lục” 指南錄 và “Chỉ nam hậu lục” 指南後錄, tả những cảnh ngộ đã trải qua khi chạy nạn, lời văn bi thiết. Bài “Chính khí ca” của ông khẳng khái, lẫm liệt được nhiều người truyền tụng.

Độ Hoài: sông Hoài thuộc phần đất hai tỉnh An Huy, Giang Tô. Khi nước Tống bị người Kim đánh bại, phải cắt đất để cầu hoà, lấy sông Hoài làm ranh giới. Từ sông Hoài trở lên bắc thuộc về Kim, từ sông trở xuống nam thuộc về nhà Tống. Từ ấy nhà Tống gọi là Nam Tống, còn gọi là miền Giang Tả vì ở tả ngạn sông Hoài.

Hà Nam đạo trung khốc thử 河南道中酷暑 • Nắng to trên đường đi Hà Nam

河南道中酷暑
河南秋八月,
殘暑未消融。
路出涼風外,
人行烈日中。
途長嘶倦馬,
目斷滅歸鴻。
何處推車漢,
相看碌碌同。

Hà Nam đạo trung khốc thử
Hà Nam thu bát nguyệt,
Tàn thử vị tiêu dung.
Lộ xuất lương phong ngoại,
Nhân hành liệt nhật trung.
Đồ trường tê quyện mã,
Mục đoạn diệt quy hồng.
Hà xứ thôi xa hán?
Tương khan lục lục đồng.

Dịch nghĩa
Tiết thu, tháng tám ở Hà Nam
Khí nóng tàn vẫn chưa tan hết
Chỗ đường ra không có gió mát
Người đi giữa nắng gay gắt
Đường dài, ngựa mệt hý vang
Mỏi mắt trông bóng chim hồng bay mất
Quê ở đâu hả anh đẩy xe?
Nhìn nhau thấy vất vả như nhau

Cựu Hứa Đô 舊許都 • Hứa Đô cũ

舊許都
許州城漢帝都,
曹氏于此栘漢圖。
受禪臺基已不見,
風雨夜夜猶號呼。
自古得國當以正,
奈何侮寡而欺孤。
魏受漢禪晉受魏,
前後所出如一途。
魏亡晉續更朝代,
自此迄今幾千載。
其中興廢知幾人,
峨峨城堞何曾改。
城外青山似舊時,
奸雄篡竊人何在。
漢人宗廟已無蹤,
魏人圓陵亦頹敗。
蕩蕩城中一片土,
亭午巿人趨賣買。
惟有建安二十五年事,
人口成碑終不壞。
遠來使我多沉吟,
遺臭留芳皆古今。
突兀名城當大道,
巨奸到此應寒心。

Cựu Hứa Đô
Hứa Châu thành, Hán đế đô,
Tào thị ư thử di Hán đồ.
Thụ thiện đài cơ dĩ bất kiến,
Phong vũ dạ dạ do hào hô.
Tự cổ đắc quốc đương dĩ chính,
Nại hà vụ quả nhi khi cô!
Nguỵ thụ Hán thiện, Tấn thụ Nguỵ,
Tiền hậu sở xuất như nhất đồ.
Nguỵ vong Tấn tục canh triều đại,
Tự thử hất kim kỷ thiên tải.
Kỳ trung hưng phế tri kỷ nhân,
Nga nga thành điệp hà tằng cải.
Thành ngoại, thanh sơn tự cựu thì,
Gian hùng soán thiết nhân hà tại?
Hán nhân tông miếu dĩ vô tung,
Nguỵ nhân viên lăng diệc đồi bại.
Đãng đãng thành trung nhất phiến thổ,
Đình ngọ thị nhân xu mại mãi.
Duy hữu Kiến An nhị thập ngũ niên sự,
Nhân khẩu thành bi chung bất hoại.
Viễn lai sử ngã đa trầm ngâm,
Di xú lưu phương giai cổ câm (kim).
Đột ngột danh thành đương đại đạo,
Cự gian đáo thủ ưng hàn tâm.

Hứa Đô: Nước Hứa thời xưa, nay ở phía Ðông huyện Hứa Xương 許昌, tỉnh Hà Nam 河南. Năm Kiến An 建安 nguyên niên (196) Tào Tháo 曹操 dời đô nhà Hán từ Lạc Dương 洛陽 đến đó nên gọi là Hứa Ðô.