là một nhóm thơ nổi tiếng của nhà thơ Anse Độ Tagore Rabindranath. Ông là nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch, nhạc sĩ và họa sĩ Ấn Độ, giải Nobel Văn học năm 1913. Là con thứ mười bốn của một điền chủ – nhà cải cách tôn giáo giàu có

Những tác phẩm của ông có giá trị và luôn được ca tụng .Thơ của Tagore giàu tinh thần nhân loại, là chiếc gạch nối giữa những truyền thống văn hoá Ấn Độ và văn hoá hiện đại phương Tây

Hôm nay chúng ta cùng nhau tìm hiểu những bài thơ của thi sĩ vang danh này nhé!

Bài số 01

SERVANT. Have mercy upon your servant, my queen!

QUEEN. The assembly is over and my servants are all gone. Why do you come at this late hour?

SERVANT. When you have finished with others, that is my time.
I come to ask what remains for your last servant to do.

QUEEN. What can you expect when it is too late?

SERVANT. Make me the gardener of your flower garden.

QUEEN. What folly is this?

SERVANT. I will give up my other work.
I will throw my swords and lances down in the dust. Do not send me to distant courts; do not bid me undertake new conquests.
But make me the gardener of your flower garden.

QUEEN. What will your duties be?

SERVANT. The service of your idle days.
I will keep fresh the grassy path where you walk in the morning, where your feet will be greeted with praise at every step by the flowers eager for death.
I will swing you in a swing among the branches of the saptaparna, where the early evening moon will struggle to kiss your skirt through the leaves.
I will replenish with scented oil the lamp that burns by your bedside, and decorate your footstool with sandal and saffron paste in wondrous designs.

QUEEN. What will you have for your reward?

SERVANT. To be allowed to hold your little fists like tender lotus-buds and slip flower chains over your wrists; to tinge the soles of your feet with the red juice of ashoka petals and kiss away the speck of dust that may chance to linger there.

QUEEN. Your prayers are granted, my servant, you will be the gardener of my flower garden.

Bản Dịch
Tôi bộc. Xin Hoàng hậu đoái thương tên tôi bộc của Người!

Hoàng hậu. Dạ yến tan rồi, tôi bộc của ta về hết. Sao ngươi lại tới lúc đêm hôm khuya khoắt này?

Tôi bộc. Khi những người khác đã ra về, đó mới là lúc tôi đến với Người. Tôi đến để cầu xin, cầu xin làm những gì còn sót lại dành cho tên tôi bộc cuối cùng.

Hoàng hậu. Ngươi còn cầu mong gì khi đêm đã khuya?

Tôi bộc. Xin cho tôi được làm kẻ chăm sóc vườn hoa của Người.

Hoàng hậu. Lời nói nghe mới điên rồ làm sao?

Tôi bộc. Tôi sẽ bỏ những việc đang làm, đem giáo gươm đã dùng vứt vào cát bụi. Xin Người gửi tôi tới các hoàng cung xa xôi, và cũng xin đừng bắt tôi dấn thân vào cuộc chinh chiến nào khác nữa. Chỉ xin cho tôi được làm kẻ chăm sóc vườn hoa.

Hoàng hậu. Nhiệm vụ của ngươi sẽ ra sao?

Tôi bộc. Tôi sẽ hầu hạ Người trong những ngày rảnh rỗi; tôi sẽ giữ gìn cho lối đi rậm cỏ xanh tươi, nơi buổi sớm mai Người dạo gót khoan thai, những cánh hoa sắp tàn sẽ hân hoan chào đón từng bước chân Người. Tôi sẽ đu Người trên cái đu giữa những cành cây xạp-ta bạc-na, ở đó trăng non chiều tàn qua kẽ lá sẽ cố gắng hôn tà áo Người. Tôi sẽ rót thêm dầu ngào ngạt hương thơm vào ngọn đèn tỏa sáng gần giường Người ngủ và trang hoàng tấm thảm để Người đặt chân, bằng gỗ trầm máu đỏ và kim cương màu vàng với nhiều hình vẽ diệu kỳ.

Hoàng hậu. Thế còn phần thưởng?

Tôi bộc. Chỉ xin được phép nâng bàn tay nhỏ nhắn của Người, bàn tay như những búp sen nõn nà, rồi quấn nhẹ vào cổ tay những chuỗi hoa nho nhỏ; chỉ xin được nhuốm gót chân Người bằng chất nước hoa a-bô-ca mà đỏ, rồi thổi đi những hạt bụi ngẫu nhiên còn dính lại.

Hoàng hậu. Tôi bộc của ta ơi, điều ngươi cầu xin ta chấp thuận. Ngươi sẽ là kẻ chăm sóc vườn hoa.

Bản Dịch

Tôi bộc. Xin Hoàng hậu đoái thương tên tôi bộc của Người!
Hoàng hậu. Dạ yến tan rồi, tôi bộc của ta về hết. Sao ngươi lại tới lúc đêm hôm khuya khoắt này?
Tôi bộc. Khi những người khác đã ra về, đó mới là lúc tôi đến với Người. Tôi đến để cầu xin, cầu xin làm những gì còn sót lại dành cho tên tôi bộc cuối cùng.
Hoàng hậu. Ngươi còn cầu mong gì khi đêm đã khuya?
Tôi bộc. Xin cho tôi được làm kẻ chăm sóc vườn hoa của Người.
Hoàng hậu. Lời nói nghe mới điên rồ làm sao?
Tôi bộc. Tôi sẽ bỏ những việc đang làm, đem giáo gươm đã dùng vứt vào cát bụi. Xin Người gửi tôi tới các hoàng cung xa xôi, và cũng xin đừng bắt tôi dấn thân vào cuộc chinh chiến nào khác nữa. Chỉ xin cho tôi được làm kẻ chăm sóc vườn hoa.
Hoàng hậu. Nhiệm vụ của ngươi sẽ ra sao?
Tôi bộc. Tôi sẽ hầu hạ Người trong những ngày rảnh rỗi; tôi sẽ giữ gìn cho lối đi rậm cỏ xanh tươi, nơi buổi sớm mai Người dạo gót khoan thai, những cánh hoa sắp tàn sẽ hân hoan chào đón từng bước chân Người. Tôi sẽ đu Người trên cái đu giữa những cành cây xạp-ta bạc-na, ở đó trăng non chiều tàn qua kẽ lá sẽ cố gắng hôn tà áo Người. Tôi sẽ rót thêm dầu ngào ngạt hương thơm vào ngọn đèn tỏa sáng gần giường Người ngủ và trang hoàng tấm thảm để Người đặt chân, bằng gỗ trầm máu đỏ và kim cương màu vàng với nhiều hình vẽ diệu kỳ.
Hoàng hậu. Thế còn phần thưởng?
Tôi bộc. Chỉ xin được phép nâng bàn tay nhỏ nhắn của Người, bàn tay như những búp sen nõn nà, rồi quấn nhẹ vào cổ tay những chuỗi hoa nho nhỏ; chỉ xin được nhuốm gót chân Người bằng chất nước hoa a-bô-ca mà đỏ, rồi thổi đi những hạt bụi ngẫu nhiên còn dính lại.
Hoàng hậu. Tôi bộc của ta ơi, điều ngươi cầu xin ta chấp thuận. Ngươi sẽ là kẻ chăm sóc vườn hoa.

Bài số 02

Ah, poet, the evening draws near; your hair is turning grey. Do you in your lonely
musing hear the message of the hereafter?”
“It is evening,” the poet said, “and I am listening because some one may call from the
village, late though it be.”
“I watch if young straying hearts meet together, and two pairs of eager eyes beg for
music to break their silence and speak for them.”
“Who is there to weave their passionate songs, if I sit on the shore of life and
contemplate death and the beyond?”
“The early evening star disappears.”
“The glow of a funeral pyre slowly dies by the silent river.”
“Jackals cry in chorus from the courtyard of the deserted house in the light of the wornout
moon.”
“If some wanderer, leaving home, come here to watch the night and with bowed head
listen to the murmur of the darkness, who is there to whisper the secrets of life into his
ears if I, shutting my doors, should try to free myself from mortal bonds?”
“It is a trifle that my hair is turning grey.”
“I am ever as young or as old as the youngest and the oldest of this village.”
“Some have smiles, sweet and simple, and some a sly twinkle in their eyes.”
“Some have tears that well up in the daylight, and others tears that are hidden in the
gloom.”
“They all have need for me, and I have no time to brood over the after-life.”
“I am of an age with each, what matter if my hair turns grey?

Bản Dịch

“Ua, thi nhân, chiều xuống dần; tóc anh đang ngả màu xam xám. Trong trầm tư cô đơn, anh có nghe lời gọi vọng từ kiếp sau?”
“Chiều đến rôi, thi nhân đáp, tôi đang lắng nghe, lắng nghe, vì lẽ dẫu muộn màng, có thể từ thôn làng vẫn có người đứng gọi. Tôi để mắt nhìn liệu những trái tim trẻ dại, lạc loài có gặp nhau chăng, liệu những đôi mắt hăm hở đang mong cầu giai điệu, giai điệu có đến để đánh tan màn im lặng, rồi thay họ mà nói nên lời. Ai sẽ ở đó dệt những bài ca đắm đuối họ đang cất tiếng hát nếu tôi cứ ngồi bên bờ cuộc đời trầm ngâm nghĩ đến sống chết cùng thế giới bên kia?”
“Sao hôm đầu tiên đã lặn. Anh lửa đám hỏa thiêu tàn lụi dần dần bên bờ sông tịch mịch. Từ khoảnh sân thuộc căn nhà hoang vắng, bầy chó sủa suông dưới ánh trăng úa tàn. Nếu có khách tha phương nào đó, lìa bỏ căn nhà êm ấm, tới đây ngắm nhìn đêm tối, cúi đầu lắng nghe bóng tối thì thầm, ai sẽ ở đấy thì thào bên tai người ấy những huyền bí của cuộc đời nếu tôi khép cửa nhà mình lại cố gắng dứt mình khỏi mọi giàng buộc trần gian?”
“Tóc tôi ngả màu hoa râm là chuyện nhỏ nhặt. Tôi vẫn hằng trẻ như những người trẻ nhất, hoặc vẫn hằng già như những người già nhất sống trong thôn này. Ở đây, có những người có nụ cười dịu hiền, chất phác, có những người có ánh mắt ranh mãnh, tinh ma, có những người nước mắt trào tuôn trong ánh sáng ban ngày và có những người lệ nhỏ âm thầm trong bóng tối âm u. Họ thảy đều cần đến tôi, bởi thế tôi làm gì có thì giờ ấp ủ cuộc đời bên kia thế giới. Tôi thuộc về cùng thời đại với mọi người. Có sao đâu nếu tóc tôi đã ngả màu?

Bài số 03

In the morning I cast my net into the sea.
I dragged up from the dark abyss things of strange aspect and strange beauty ⎯ some
shone like a smile, some glistened like tears, and some were flushed like the cheeks of a
bride.
When with the day’s burden I went home, my love was sitting in the garden idly tearing
the leaves of a flower.
I hesitated for a moment, and then placed at her feet all that I had dragged up, and stood
silent.
She glanced at them and said, “What strange things are these? I know not of what use
they are!”
I bowed my head in shame and thought, “I have not fought for these, I did not buy them
in the market; they are not fit gifts for her.”
Then the whole night through I flung them one by one into the street.
In the morning travellers came; they picked them up and carried them into far countries.

Bản Dịch

Buổi sớm mai tôi quăng lưới xuống biển. Từ vũng sâu đen ngòm tôi kéo lên vô số vật với hình thù và vẻ đẹp lạ kỳ – có vật rạng rỡ như nụ cười, có vật long lanh như giọt lệ và có vật ửng hồng như má cô dâu.

Chiều đến, gánh nặng trên vai, tôi về nhà; người yêu tôi đang ngồi trong vườn thẫn thở xé nhỏ từng cánh hoa tươi. Tôi ngại ngần giây lát, rồi đặt xuống chân nàng những vật bắt được, đoạn đứng lặng im. Nàng đưa mắt nhìn rồi nói: “Những vật này kỳ lạ thật? Em chẳng hiểu chúng dùng để làm gì?”

Ngượng ngùng, tôi cúi đầu thầm nghĩ: “Mình đã không tốn công lao để có những thứ này, mình đã không bỏ tiền ra mua chúng ngoài chợ; chúng chẳng phải quà tặng thích hợp dành cho nàng”.

Thế rồi, suốt đêm thâu, tôi đem từng cái, từng cái ném ra ngoài đường. Buổi sáng du khác đi qua; họ nhặt tất cả rồi mang về những miền xa xôi

 

Bài số 04

Ah me, why did they build my house by the road to the market town?
They moor their laden boats near my trees.
They come and go and wander at their will.
I sit and watch them; my time wears on.
Turn them away I cannot. And thus my days pass by.
Night and day their steps sound by my door. Vainly I cry, “I do not know you.”
Some of them are known to my fingers, some to my nostrils, the blood in my veins
seems to know them, and some are known to my dreams.
Turn them away I cannot. I call them and say, “Come to my house whoever chooses.
Yes, come.”
In the morning the bell rings in the temple.
They come with their baskets in their hands.
Their feet are rosy red. The early light of dawn is on their faces.
Turn them away I cannot. I call them and I say, “Come to my garden to gather flowers.
Come hither.”
In the mid-day the gong sounds at the palace gate.
I know not why they leave their work and linger near my hedge.
The flowers in their hair are pale and faded; the notes are languid in their flutes.
Turn them away I cannot. I call them and say, “The shade is cool under my trees.
Come, friends.”
At night the crickets chirp in the woods.
Who is it that comes slowly to my door and gently knocks?
I vaguely see the face, not a word is spoken, the stillness of the sky is all around.
Turn away my silent guest I cannot. I look at the face through the dark, and hours of
dreams pass by.

Bản Dịch

Ừ nhỉ, sao họ lại xây nhà cho tôi bên đường lên phố chợ? Họ neo thuyền chở nặng gần vườn cây tôi trồng. Họ tớ lui, lang thang tuỳ ý. Tôi ngồi ngắm họ, thời gian của mình trôi mau. Xua đuổi họ đi tôi không thể. Cứ thế ngày tiếp  ngày lặng lẽ trôi qua.

Suốt ngày đêm tôi nghe bước họ vang ngoài ngõ. Hoài công tôi nói lớn: “Tôi không quen biết các người”. Trong bọn họ và người quen thuộc đối với ngón tay tôi, vài người quen thuộc đối với lỗ mũi tôi, máu trong thân thể tôi dường như cũng biết họ, và vài người quen thuộc đối với những giấc mơ của tôi. Xua đuổi họ đi tôi không nỡ. Tôi gọi họ và nói: “Bất kỳ ai muốn hãy lại nhà tôi. Vâng, xin cứ lại”.

Buổi sáng tiếng chuông vang lên ngoài đền. Họ tới, tay mang thúng mẹt, chân nhuốm sắc hồng. Anh sáng bình minh vờn trên nét mặt. Xua đuổi họ đi tôi không dám. Tôi gọi họ và nói: “Xin mời các người tơi vườn tôi mà hái hoa. Xin đến đây đi”.

Trưa đến tiếng gồng ngân vang ở Ngọ Môn. Tôi chẳng hiểu tại sao họ lại dừng tay ngưng việc, rồi lân la gần hàng dậu nhà tôi. Những bông hoa họ gài trên mái tóc đã héo tàn và phai màu; tiếng sáo họ thổi nghe não nuột. Xua đuổi họ đi tôi không đánh. Tôi gọi họ và nói: “Bóng cây vườn tôi mát lắm. Các bạn vào đây”.

Đêm về tiếng dế kêu rả rích trong rừng. Ai đó nhỉ đang từ từ tiến tới cổng nhà tôi, rồi nhẹ nhàng gõ cửa? Tôi lờ mờ nhìn thấy khuôn mặt, không ai nói một lời; bầu trời tịch mịch bao phủ khắp nơi. Xua đuổi người khách trầm lặng tôi không làm được. Tôi nhìn khuôn mặt qua màn tối, những giờ mộng mơ êm nhẹ dần trôi.

Bài số 05

I am restless. I am athirst for far-away things.
My soul goes out in a longing to touch the skirt of the dim distance.
Great Beyond, O the keen call of thy flute!
I forget, I ever forget, that I have no wings to fly, that I am bound in this spot evermore.
I am eager and wakeful, I am a stranger in a strange land.
Thy breath comes to me whispering an impossible hope.
Thy tongue is known to my heart as its very own.
Far-to-seek, O the keen call of thy flute!
I forget, I ever forget, that I know not the way, that I have not the winged horse.
I am listless, I am a wanderer in my heart.
In the sunny haze of the languid hours, what vast vision of thine takes shape in the blue
of the sky!
Farthest end, O the keen call of thy flute!
I forget, I ever forget, that the gates are shut everywhere in the house where I dwell
alone!

Bản Dịch

Lòng rộn ràng, tôi thèm khát những vật xa xôi. Tâm hồn bay xa những mong sờ mó vòng riềm của khoảng cách mịt mờ.
Ôi, Bên Kia Bao La, ôi, tiếng sáo thanh tao vọng từ Bên Kia! Tôi quên, tôi hằng quên rằng mình không cánh để bay, rằng mình vẫn bị buộc vào nơi này mãi mãi.
Lòng hăng hái, tâm thần tỉnh táo, tôi là người khách lạ trong vùng đất không quen. Hơi thở từ Bên Kia đến với tôi thì thầm một hy vọng khó thành. Tiếng nói từ Bên Kia đối với tim tôi quen thuộc như tiếng nói của chính lòng mình.
Ôi, Miền Xa Khó Tìm, ôi, tiếng sáo lanh lảnh vọng từ Miền Xa Khó Tìm! Tôi quên, tôi hằng quên rằng mình không hề thuộc lối, rằng mình chẳng có ngựa mọc cánh để ra đi.
Thẫn thờ, tôi là người khách phiêu du trong chính hồn tôi. Qua màn sương tắm nắng của những giờ khắc uể oải, hình ảnh mênh mông của Bên Kia Bao La hiển hiện mới rõ rệt làm sao trên nền trời xanh xanh!
Ôi, Tận Cùng Xa Nhất, ôi, tiếng sáo tâm tình vọng tự Tận Cùng Xa Nhất! Tôi quên, tôi hằng quên rằng mọi cửa vào đều đã khép kín trong căn nhà tôi sống cô đơn!

Bài số 06

The tame bird was in a cage, the free bird was in the forest.
They met when the time came, it was a decree of fate.
The free bird cries, “O my love, let us fly to wood.”
The cage bird whispers, “Come hither, let us both live in the cage.”
Says the free bird, “Among bars, where is there room to spread one’s wings?”
“Alas,” cries the cage bird, “I should not know where to sit perched in the sky.”
The free bird cries, “My darling, sing the songs of the woodlands.” The cage bird says,
“Sit by my side, I’ll teach you the speech of the learned.”
The forest bird cries, “No, ah no! Songs can never be taught.”
The cage bird says, “Alas for me, I know not the songs of the woodlands.”
Their love is intense with longing, but they never can fly wing to wing.
Through the bars of the cage they look, and vain is their wish to know each other.
They flutter their wings in yearning, and sing, “Come closer, my love!”
The free bird cries, “It cannot be, I fear the closed doors of the cage.”
The cage bird whispers, “Alas, my wings are powerless and dead.”

Bản Dịch

Con chim ngoan nằm trong lồng, con chim hoang ở ngoài rừng. Chúng gặp nhau khi thời cơ tới, như định mệnh đã an bài. Chim hoang kêu lên: “Ôi, người bạn tình, hãy cùng nhau ta bay về rừng xanh”. Chim lồng thì thầm: “Bạn lòng ơi, hãy vào đây trong lồng chung sống bên nhau”.
Chim rừng nói: “Trong song sắt lấy chỗ đâu để mình vươn cánh?”. “Chao ôi!” chim lồng thốt lời, “tôi chẳng biết đậu nơi nào trong bầu trời”. Chim rừng kêu lớn: “Bạn lòng ơi, hãy ca bài ca rừng xanh”. Chim lồng đáp lại: “Hãy ngồi bên đây, tôi sẽ dạy bạn lòng ngôn ngữ của người đại giác”. Chim rừng kêu: “Không, ồ không! Đã là bài ca thì có bao giờ dạy được”. Chim lồng nói: “Buồn cho thân tôi chẳng hề biết lời ca của rừng xanh”.
Tình đôi chim nhiệt nồng cùng thèm muốn, thế nhưng cả hai chẳng bao giờ có thể liền cánh cùng bay.
Đôi chim nhìn nhau qua song sắt lồng son. Ước vọng của đôi chim muốn thấu hiểu lòng nhau thực là hư huyễn. Đôi chim vỗ cánh trong thèm khát, rồi cất tiếng hót: “Xích lại gần nhau, gần thêm chút nữa, bạn lòng ơi!” Chim rừng kêu lên: “Làm sao được, tôi e cửa lồng đóng kín”. Chim lồng thở than: “Than ôi, cánh này bất lực còn đâu là đời!”

Bài số 07

O mother, the young Prince is to pass by our door, ⎯ how can I attend to my work
this morning?
Show me how to braid up my hair; tell me what garment to put on.
Why do you look at me amazed, mother?
I know well he will not glance up once at my window; I know he will pass out of my sight
in the twinkling of an eye; only the vanishing strain of the flute will come sobbing to me
from afar.
But the young Prince will pass by our door, and I will put on my best for the moment.
O mother, the young Prince did pass by our door, and the morning sun flashed from his
chariot.
I swept aside the veil from my face,
I tore the ruby chain from my neck and flung it in his path.
Why do you look at me amazed, mother?
I know well he did not pick up my chain; I know it was crushed under his wheels leaving
a red stain upon the dust, and no one knows what my gift was nor to whom.
But the young Prince did pass by our door, and I flung the jewel from my breast before
his path.

Bản Dịch

Ồ, Mẹ ơi, Hoàng tử trẻ đẹp sắp qua cửa nhà ta – làm sao con có thể chăm chú vào việc làm sáng nay? Mẹ dạy con vấn tóc đi; mẹ bảo con nên mặc áo màu nào đi. Mà sao mẹ lại nhìn con ngỡ ngàng thế hở mẹ?
Con biết chắc chàng sẽ chẳng thèm đưa mắt nhìn lên cửa sổ nhà ta; con biết chàng sẽ vượt khỏi tầm mắt con trong khoảnh khắc; chỉ còn điệu nhạc hư ảo, chập chờn của tiếng sáo từ xa nức nở sẽ đến với con.
Thế nhưng, Hoàng tử trẻ đẹp sẽ qua cửa nhà ta; con sẽ mặc chiếc áo đẹp nhất vào giây phút ấy.
Ồ, Mẹ ơi! Hoàng tử trẻ đẹp quả có qua cửa nhà ta; ánh nắng ban mai lóng lánh trên xe chàng đi. Con vén màn che mặt, giựt đứt chuỗi ngọc hổ phách đeo trên cổ, rồi quăng ra lối chàng qua. Mà sao mẹ lại nhìn con ngỡ ngàng vậy hở mẹ?
Con biết chắc chàng sẽ chẳng nhặc chuỗi hạt con ném xuống; con biết chuỗi hạt sẽ bị bánh xe chàng nghiến nát, để lại vết đỏ trên đường đất bụi; rồi chẳng ai hay vật con hiến dâng là gì và cũng chẳng ai biết con dâng hiến cho ai.
Thế nhưng, Hoàng tử trẻ đẹp thế nào cũng qua cửa nhà ta; con sẽ giứt phăng viên ngọc đeo trên ngực rồi ném xuống trước lối chàng đi.

Bài số 08

When the lamp went out by my bed I woke up with the early birds.
I sat at my open window with a fresh wreath on my loose hair.
The young traveller came along the road in the rosy mist of the morning.
A pearl chain was on his neck, and the sun’s rays fell on his crown.
He stopped before my door and asked me with an eager cry, “Where is she?”
For very shame I could not say, “She is I, young traveller, she is I.”
It was dusk and the lamp was not lit.
I was listlessly braiding my hair.
The young traveller came on his chariot in the glow of the setting sun.
His horses were foaming at the mouth, and there was dust on his garment.
He alighted at my door and asked in a tired voice, “Where is she?”
For very shame I could not say, “She is I, weary traveller, she is I.”
It is an April night. The lamp is burning in my room.
The breeze of the south comes gently. The noisy parrot sleeps in its cage.
My bodice is of the colour of the peacock’s throat, and my mantle is green as young
grass.
I sit upon the floor at the window watching the deserted street.
Through the dark night I keep humming, “She is I, despairing traveller, she is I.”

Bản Dịch

Khi ngọn đèn bên giường lụn tắt, tôi thức dậy cùng tiếng chim ban mai. Tôi ngồi bên cửa sổ mở toang, vòng hoa tươi mát nằm trên mớ tóc lỏng buông. Người du khách trẻ đẹp đi dọc bên đường trong sương hồng buổi sớm. Cổ chàng đeo chuỗi ngọc; ánh bình minh vương trên mái tóc. Dừng trước cửa nhà tôi, chàng hối hả hỏi: “Nàng ở đâu nhỉ?” Lòng nặng ngượng ngùng, tôi không thể nói: “Nàng là Em, du khách trẻ đẹp, nàng là Em”.
Trời vào hoàng hôn, nhưng đèn chưa thắp. Tôi đang thẫn thờ vấn lại làn tóc. Chàng du khách trẻ đẹp đi xe tới trong ánh chiều hôm vàng vọt. Ngựa chàng mỏi mệt, xùi bọt trắng mép; và cát bụi phủ đậm áo chàng. Xuống ngựa trước cửa nhà tôi, chàng cất tiếng hỏi, giọng mệt mỏi: “Nàng ở đâu nhỉ?” Lòng năng thẹn thùng, tôi chẳng thể nói: “Nàng là Em, du khách thấm mệt, nàng là Em”.
Đó là một đêm xuân. Đèn phòng tôi tỏa sáng. Làn gió phương Nam nhẹ nhàng thổi. Con vẹt lắm mồm đã ngủ yên trong lồng. Tấm áo tôi mặc có màu sắc như ức con công, áo choàng ngoài xanh màu xanh cỏ mướt. Tôi ngồi bên cửa sổ, ngắm phường phố vắng tanh. Qua bóng đêm thâu tôi khe khẽ thủ thỉ: “Nàng là Em, du khách tuyệt vọng, nàng là Em”.

Bài số 09

When I go alone at night to my love-tryst, birds do not sing, the wind does not stir, the
houses on both sides of the street stand silent.
It is my own anklets that grow loud at every step and I am ashamed.
When I sit on my balcony and listen for his footsteps, leaves do not rustle on the trees,
and the water is still in the river, like the sword on the knees of a sentry fallen asleep.
It is my own heart that beats wildly ⎯ I do not know how to quiet it.
When my love comes and sits by my side, when my body trembles and my eyelids
droop, the night darkens, the wind blows out the lamp, and the clouds draw veils over
the stars.
It is the jewel at my own breast that shines and gives light. I do not know how to hide it.

Bản Dịch

Khi tôi đi một mình ban đêm đến chỗ người yêu hò hẹn, chim không hót, gió không thổi, nhà cửa hai bên đường đứng lặng im. Chỉ có y trang tôi vận vang âm theo mỗi bước chân đi và tôi phát ngượng.
Khi tôi ngồi ở bao lơn ngóng đợi từng bước chân chàng, lá trên cây không rì rào, nước dưới sông nằm im, nằm im như thanh kiếm trên gối người lính gác ngủ khì. Chỉ có tim tôi đập rộn ràng – tôi chẳng biết làm sao ngăn cản nổi.
Khi người yêu tôi tới ngồi bên cạnh, khi toàn thân tôi rẩy run, mí mắt rủ xuống, màn tối giăng đen, gió thổi đèn tắt và mây kéo che mờ sao đêm. Chỉ có viên ngọc tôi đeo trên ngực óng ánh tỏa sáng – tôi chẳng biết làm sao giấu che đi được.

Bài số 10

Let your work be, bride. Listen, the guest has come.
Do you hear, he is gently shaking the chain which fastens the door?
See that your anklets make no loud noise, and that your step is not over-hurried at
meeting him.
Let your work be, bride, the guest has come in the evening.
No, it is not the ghostly wind, bride, do not be frightened.
It is the full moon on a night of April; shadows are pale in the courtyard; the sky
overhead is bright.
Draw your veil over your face if you must, carry the lamp to the door if you fear.
No, it is not the ghostly wind, bride, do not be frightened.
Have no word with him if you are shy; stand aside by the door when you meet him.
If he asks you questions, and if you wish to, you can lower your eyes in silence.
Do not let your bracelets jingle when, lamp in hand, you lead him in.
Have no word with him if you are shy.
Have you not finished your work yet, bride? Listen, the guest has come.
Have you not lit the lamp in the cowshed?
Have you not got ready the offering basket for the evening service?
Have you not put the red lucky mark at the parting of your hair, and done your toilet for
the night?
O bride, do you hear, the guest has come?
Let your work be!

Bản Dịch

Cứ đều tay làm việc, tân giai nhân. Hãy lắng nghe, khách đã đến. Giai nhân nghe chăng, chằng đang nhẹ nhàng lắc xích dăng ngang then cổng? Hãy canh chừng, khi tới gặp chàng, đừng để vòng đeo chân kêu lớn tiếng, chớ để bước đi bước quá vội vàng.
Cứ đều tay làm việc, tân giai nhân, khách sẽ tới lúc chiều hôm. Không, không phải lượn gió ma quái nào đâu, giai nhân ạ, đừng hoảng sợ.
Đó là mặt trăng tròn trĩnh đêm Xuân bóng ngả xanh mờ ngoài sân cỏ; bầu trời trên cao sáng trong. Nếu thấy cần thì vén màn che mặt; nếu thấy sợ, cầm đèn ra tận cổng. Không, không phải lượn gió ma quái nào đâu, giai nhân ạ, đừng hoảng hốt. Chớ nói lời nào với chàng nếu còn bẽn lẽn; hãy nép mình bên cổng khi giáp cận mặt chàng. Nếu chàng hỏi han, và nếu tự mình cũng muốn, tân giai nhân nên cúi mặt lặng im nhìn xuống.
Đừng để vòng xuyến leng keng va nhau khi tay cầm đèn, dẫn chàng vào nhà. Chẳng nên nói lời nào với chàng nếu còn e thẹn.
Vẫn chưa làm xong công việc ư, giai nhân? Này kìa, khách đã tới. Vẫn chưa thắp đèn trong chuồng bò? Chưa sẵn sàng mâm quả để lễ đêm nay? Vẫn chưa điểm nốt son hạnh phúc chỗ đường ngôi rẽ ngang và chưa tắm gội để sửa soạn đêm nay? Ồ, tân giai nhân, nghe chăng, khách đã lại? Nhưng cứ đều tay, đều tay, đều tay.

Bài số 11

Come as you are; do not loiter over your toilet.
If your braided hair has loosened, if the parting of your hair be not straight, if the ribbons
of your bodice be not fastened, do not mind.
Come as you are; do not loiter over your toilet.
Come, with quick steps over the grass.
If the raddle come from your feet because of the dew, if the rings of bells upon your feet
slacken, if pearls drop out of your chain, do not mind.
Come, with quick steps over the grass.
Do you see the clouds wrapping the sky?
Flocks of cranes fly up from the further river-bank and fitful gusts of wind rush over the
heath.
The anxious cattle run to their stalls in the village.
Do you see the clouds wrapping the sky?
In vain you light your toilet lamp ⎯ it flickers and goes out in the wind.
Who can know that your eyelids have not been touched with lamp-black? For your eyes
are darker than rain-clouds.
In vain you light your toilet lamp ⎯ it goes out.
Come as you are; do not loiter over your toilet.
If the wreath is not woven, who cares; if the wrist-chain has not been linked, let it be.
The sky is overcast with clouds ⎯ it is late.
Come as you are; do not loiter over your toilet.

Bản Dịch

Cứ thế mà đi, đừng dềnh dang chải chuốt. Nếu vòng tóc vẫn còn lỏng, đường ngôi rẽ chưa xuôi, giải lụa thắt lưng không chặt, cũng dừng bận tâm, em ạ. Cứ thế mà đi, đừng dềnh dang chải chuốt. Nào, hãy bước lẹ lên cỏ non xanh mịn. Nếu đất đỏ vì sương mai văng lên gót, vòng nhạc nơi chân còn lỏng lẻo, ngọc báu rơi khỏi chuỗi đeo tay, cũng đừng bận lòng, em ạ. Nào, hãy bước lẹ lên cỏ non xanh mịn.
Em thấy chăng mây đang phủ kín bầu trời? Từ bờ sông xa hạc từng đàn bay tới, gió từng cơn đổ xuống đồng hoang. Trong làng trâu bò ưu tư nhanh bước về chuồng. Em thấy chăng mây đang phủ kín bầu trời?
Hoài công em châm đèn trang điểm – đèn chập chờn và gió thổi tắt ngay. Ai sẽ biết mi mắt em đã không bị muội đèn chạm tới? Vì mắt em còn đen hơn mây trời mọng nước. Hoài công em chong đèn trang điểm – đèn vẫn tắt ngay.
Cứ thế mà đi, đừng dềnh dang chải chuốt. Nếu vòng hoa em kết chưa xong, nào ai để ý; nếu lắc tay em gái chưa chặt, chẳng nên cầu kỳ.
Bầu trời hôm nay vần vũ – muộn rồi đấy em ơi! Cứ thế mà đi, đừng dềnh dang chải chuốt.

Bài số 12 

IF you would be busy and fill your pitcher, come, O come to my lake.
The water will cling round your feet and babble its secret.
The shadow of the coming rain is on the sands, and the clouds hang low upon the blue
lines of the trees, like the heavy hair above your eyebrows.
I know well the rhythm of your steps, they are beating in my heart.
Come, O come to my lake, if you must fill your pitcher.
If you would be idle and sit listless and let your pitcher float on the water, come, O come
to my lake.
The grassy slope is green, and the wild flowers beyond number.
Your thoughts will stray out of your dark eyes like birds from their nests.
Your veil will drop to your feet.
Come, O come to my lake if you must sit idle.
If you would leave off your play and dive in the water, come, O come to my lake.
Let your blue mantle lie on the shore; the blue water will cover you and hide you.
The waves will stand a-tiptoe to kiss your neck and whisper in your ears.
Come, O come to my lake, if you would dive in the water.
If you must be mad and leap to your death, come, O come to my lake.
It is cool and fathomlessly deep.
It is dark like a sleep that is dreamless.
There in its depths nights and days are one, and songs are silence.
Come, O come to my lake, if you would plunge to your death.

Bản Dịch

Nếu em mang bình đi xách nước, hãy đến, xin hãy đến hồ tôi. Nước sẽ đổ xô quanh chân em thì thầm, tâm sự. Bóng mưa in trên cát mịn; mây giăng thấp ngang viền cây xanh tựa làn tóc màu mun phủ vầng trán thơ ngây. Tôi quá quen nhịp bước em đi, mỗi nhịp đập vang mạnh vào tim. Hãy đến, xin hãy đến hồ tôi nếu đi kiếm nước. Nếu em ngồi thẫn thờ, uể oải để bình trôi trên sông, hãy đến, xin hãy đến hồ tôi.
Đường dốc, cỏ mịn xanh, hoa dại nhiều vô số. Ý nghĩ trong em sẽ vượt khỏi tròng mắt nhung đen lang thang như chim non rời tổ. Màn che mặt sẽ rơi xuống chân em. Cứ lại, xin cứ lại hồ tôi nếu em muốn ngồi thẫn thờ, uể oải. Nếu thôi đùa nghịch, nếu muốn dầm mình trong nước, hãy đến, xin hãy đến hồ tôi. Trải áo choàng màu xanh lên bờ cỏ: mà nước xanh sẽ giấu kín em đi. Sóng sẽ nghển lên hôn nhẹ cổ trắng ngà rồi thì thầm bên tai em. Hãy đến, xin hãy đến hồ tôi nếu em muốn dầm mình trong nước.
Nếu quẫn trí và muốn quyên sinh cứ đến, xin cứ đến hồ tôi. Ở đấy mát lạnh và sâu thăm thẳm. Ở đấy, trong sâu thẳm, ngày đêm là một, và lời ca là im lặng triền miên. Cứ tới, xin cứ tới hồ tôi nếu em muốn trầm mình giã từ trần thế.

Bài số 13

I asked nothing, only stood at the edge of the wood behind the tree.
Languor was still upon the eyes of the dawn, and the dew in the air.
The lazy smell of the damp grass hung in the thin mist above the earth.
Under the banyan tree you were milking the cow with your hands, tender and fresh as
butter.
And I was standing still.
I did not say a word. It was the bird that sang unseen from the thicket.
The mango tree was shedding its flowers upon the village road, and the bees came
humming one by one.
On the side of the pond the gate of Shiva’s temple was opened and the worshipper had
begun his chants.
With the vessel on your lap you were milking the cow. I stood with my empty can.
I did not come near you.
The sky woke with the sound of the gong at the temple.
The dust was raised in the road from the hoofs of the driven cattle.
With the gurgling pitchers at their hips, women came from the river.
Your bracelets were jingling, and foam brimming over the jar.
The morning wore on and I did not come near you

Bản Dịch

Tôi không hỏi xin gì mà chỉ đứng ở ven rừng sau rặng cây xanh. Anh mắt bình minh hãy còn mệt mỏi và không gian nặng chĩu sương mai. Trong làn sương mong manh hương cỏ ướt lười biếng còn trườn mình trên mặt đất. Dưới tán cây đa em đang vắt sữa bò; tay mềm mại tươi mát như bơ. Tôi đứng lặng thinh.
Tôi không nói một lời. Chỉ có con chim nhỏ nấp kín trong lùm cây cất tiếng hót. Cây xoài đang rắc hoa trên đường làng; đàn ong từng con từng con bay bay lượn lượn. Phía bên kia bờ ao cổng đền. Thi Và đã mở, người ngoan đạo đang cất tiếng cầu kinh. Em vắt sữa bò để bình trên bắp vế. Tôi đứng tay cầm chiếc lon rỗng không.
Tôi chẳng lại gần em. Bầu trời thức giấc theo tiếng kiểng trong đền. Bụi đường dâng cao sau bước chân bầy gia sức; những người đàn bà từ sông trở lại mang bình nước sóng sánh trên hông. Lắc tay em đeo ngân vang nhè nhẹ; sữa bò sủi bọt tràn khỏi miệng bình.
Buổi mai trôi qua mà tôi chẳng lại gần em

Bài số 14

I was walking by the road, I do not know why, when the noonday was past and bamboo
branches rustled in the wind.
The prone shadows with their out-stretched arms clung to the feet of the hurrying light.
The koels were weary of their songs.
I was walking by the road, I do not know why.
The hut by the side of the water is shaded by an overhanging tree.
Some one was busy with her work, and her bangles made music in the corner.
I stood before this hut, I know not why.
The narrow winding road crosses many a mustard field, and many a mango forest.
It passes by the temple of the village and the market at the river landing-place.
I stopped by this hut, I do not know why.
Years ago it was a day of breezy March when the murmur of the spring was languorous,
and mango blossoms were dropping on the dust.
The rippling water leapt and licked the brass vessel that stood on the landing-step.
I think of that day of breezy March, I do not know why.
Shadows are deepening and cattle returning to their folds.
The light is grey upon the lonely meadows, and the villagers are waiting for the ferry at
the bank.
I slowly return upon my steps, I do not know why

Bản Dịch

Lúc buổi trưa trôi qua và cành tre rì rào trong gió tôi đang đi bên đường tôi chẳng hiểu tại sao. Nhiều bóng nằm ngang, tay trải rộng, ôm chặt bước đi của ánh nắng vội vàng. Chim cô-en không buồn cất tiếng hót. Tôi đang đi bên đường tôi chẳng hiểu sao.
Túp lều tranh bên dòng nước có cây cao bao trùm che mát. Có cô con gái nào đó đang bận bịu việc làm, đồ trang sức trên tay nhẹ vang trong xó tối. Tôi dừng chân trước cửa túp lều này, tôi chẳng hiểu tại sao.
Con đường nhỏ quanh co lượn khúc qua biết bao ruộng cải sen tươi non, qua biết bao vườn xoài mọng chín, băng ngang ngôi đền làng rồi khu chợ bên bến sông. Tôi dừng chân bên cạnh túp lều này, tôi chẳng hiểu tại sao.
Bao năm về trước, vào một ngày mùa Xuân khi trời lộng gió tiếng suối thì thầm trở nên buồn bã và hoa xoài từng cánh lã tã rơi xuống mặt đường. Làn nước lăn tăn nhảy múa, liếm vào mạn thuyền đồng đậu ở bến sông. Tôi chạnh nghĩ đến ngày Xuân lộng gió ấy, tôi chẳng hiểu tại sao.
Bóng chiều mỗi lúc thêm dày đặc; mục súc về chuồng. Anh nắng ngả màu xám trên đồng cỏ hoang liêu trong lúc dân làng đứng đợi đò bên bờ sông. Tôi từ từ quay gót, tôi chẳng hiểu tại sao.

Trên đây, uct.edu.vn đã dành tặng bạn những bài thơ trong nhóm Người Làm Vườn đặc sắc. Mời các bạn đón xem phần 2 vào một ngày không xa. Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết này của chúng tôi!