Mạnh Hạo Nhiên nổi tiếng là một vị quan thanh liêm dưới thời Thịnh Đường, ông có một kho tàng thơ đặc sắc được nhiều thế hệ bạn đọc yêu thích . Với ngòi bút tinh tế, những bài thơ của ông gợi lên một bức tranh thiên nhiên phong thủy hữu tình sinh động và đẹp đẽ. Những bài thơ cũng bộc lộ nỗi niềm nhớ thương về quê hương về cuộc đời mình

Ông góp phần không nhỏ trong nền thơ ca Trung Quốc. Ở bài viết trước Mạnh Hạo Nhiên Cùng Những Bài Thơ Đặc Sắc Phần Đầu của chúng tôi đã nhận được những chia sẻ và những đánh giá tích cực từ phía bạn đọc.

Hôm nay, chúng tôi xin dành tặng các bạn những bài thơ còn lại của Mạnh Hạo Nhiên. Mời các bạn hãy đón xem và cho chúng tôi những cảm nhận để ngày một hoàn thiện hơn nữa nhé!

Tầm cúc hoa đàm chủ nhân bất ngộ 尋菊花潭主人不遇

行至菊花潭,
村西日已斜。
主人登高去,
雞犬空在家。

Tầm cúc hoa đàm chủ nhân bất ngộ
Hành chí cúc hoa đàm,
Thôn tây nhật dĩ tà.
Chủ nhân đăng cao khứ,
Kê khuyển không tại gia.

Dịch nghĩa
Đi tới đầm cúc hoa,
Mặt trời đã xế bóng phía tây thôn.
Chủ nhân đã lên núi vắng,
Gà và chó vẫn tại nhà.

Tần Trung cảm thu ký Viễn thượng nhân 秦中感秋寄遠上人

一丘常欲臥,
三徑苦無資。
北土非吾願,
東林懷我師。
黃金然桂盡,
壯志逐年衰。
日夕涼風至,
聞蟬但益悲。

Tần Trung cảm thu ký Viễn thượng nhân
Nhất khâu thường dục ngoạ,
Tam kính khổ vô tư.
Bắc thổ phi ngô nguyện,
Đông Lâm hoài ngã sư.
Hoàng kim nhiên quế tận,
Tráng chí trục niên suy.
Nhật tịch lương phong chí,
Văn thiền đãn ích bi.

Dịch nghĩa
Đã có lần muốn nằm ngủ trên một gò nào đó
Có ba con đường, khổ là không có tiền
Xứ bắc không phải nơi tôi muốn ở
Chùa Đông Lâm lại nhớ thầy của tôi
Vàng bạc tiêu phí hết tận
Hùng tâm tráng chí mỗi năm suy tàn thêm
Mặt trời lặn gió nhẹ hây hây thổi đến
Nghe tiếng dế kêu lại càng cảm thấy bi thương

Tây Sơn tầm Tân Ngạc 西山尋辛諤

漾舟尋水便,
因訪故人居。
落日清川裏,
誰言獨羨魚。
石潭窺洞徹,
沙岸歷紆徐。
竹嶼見垂釣,
茅齋聞讀書。
款言忘景夕,
清興屬涼初。
回也一瓢飲,
賢哉常晏如。

Tây Sơn tầm Tân Ngạc
Dạng chu tầm thuỷ tiện,
Nhân phỏng cố nhân cư.
Lạc nhật thanh xuyên lý,
Thuỳ ngôn độc tiện ngư.
Thạch đàm khuy động triệt,
Sa ngạn lịch hu từ.
Trúc tự kiến thuỳ điếu,
Mao trai văn độc thư.
Khoản ngôn vong cảnh tịch,
Thanh hứng thuộc lương sơ.
Hồi dã nhất biều ẩm,
Hiền tai thường yến như.

Dịch nghĩa
Thuyền rập rềnh tiện đường thuỷ,
Đi tìm chỗ ở của cố nhân.
Giữa lúc mặt trời lặn trong lòng sông hửng tạnh,
Ai bảo mình chỉ vì thích cá?
Đầm đá nhìn trong suốt,
Bờ cát uốn khúc xa.
Bãi tre có người buông câu,
Lều tranh nghe tiếng đọc sách.
Vui lời tâm sự quên cảnh chiều hôm,
Nhàn hứng ban mai buổi trời man mác.
Nhan Hồi với bầu nước lã,
Hiền thay, lúc nào cũng lâng lâng vui vẻ.

Thu đăng Lan Sơn ký Trương ngũ 秋登蘭山寄張五

北山白雲裡,
隱者自怡悅。
相望始登高,
心隨雁飛滅。
愁因薄暮起,
興是清秋發。
時見歸村人,
平沙渡頭歇。
天邊樹若薺,
江畔洲如月。
何當載酒來,
共醉重陽節。

Thu đăng Lan Sơn ký Trương ngũ
Bắc sơn bạch vân lý,
Ẩn giả tự di duyệt.
Tương vọng thí đăng cao,
Tâm tuỳ nhạn phi diệt.
Sầu nhân bạc mộ khởi,
Hứng thị thanh thu phát,
Thời kiến quy thôn nhân.
Sa hành độ đầu yết.
Thiên biên thụ nhược tề,
Giang bạn châu như nguyệt,
Hà đương tái tửu lai,
Cộng tuý trùng dương tiết.

Dịch nghĩa
Núi Bắc trong đám mây trắng
Kẻ ở ẩn tự mình vui thú
Lúc lên cao rồi nhìn nhau
Lòng theo cánh chim bay xa mất
Sầu theo chiều bàng bạc lại
Hứng theo mùa thu trong trẻo đến
Có lúc thấy người trong thôn trở về
Đi qua bãi cát đến đầu bến nghỉ chân
Mé chân trời cây mọc xanh rì như rau
Bên cạnh sông gò cát trắng như mặt trăng
Sao không đem rượu lại đây
Cùng nhau uống say trong ngày tiết trùng dương

Tống Chu Đại nhập Tần 送朱大入秦

遊人武陵去,
寶劍直千金。
分手脫相贈,
平生一片心。

Tống Chu Đại nhập Tần
Du nhân Vũ Lăng khứ,
Bảo kiếm trực thiên kim.
Phân thủ thoát tương tặng,
Bình sinh nhất phiến tâm.

Tống Đỗ thập tứ chi Giang Nam 送杜十四之江南

荊吳相接水為鄉,
君去春江正淼茫。
日暮征帆何處泊,
天涯一望斷人腸。

Tống Đỗ thập tứ chi Giang Nam
Kinh ngô tương tiếp thuỷ vi hương,
Quân khứ xuân giang chính diểu mang.
Nhật mộ chinh phàm hà xứ bạc,
Thiên nhai nhất vọng đoạn nhân trường.

Dịch nghĩa
Vùng Kinh và Ngô có sông Trường Giang nối tiếp,
Ông lên đường đúng lúc nước xuân đang dâng tràn mênh mông.
Chiều nay cánh buồm đi xa sẽ ghé nghỉ ở đâu?
Nhìn về cuối trời thật đau lòng.

Tống hữu nhân chi kinh 送友人之京

友人之京
君登青雲去,
余望青山歸。
雲山從此別,
淚濕薜蘿衣。

Tống hữu nhân chi kinh
Quân đăng thanh vân khứ,
Dư vọng thanh sơn quy.
Vân sơn tòng thử biệt,
Lệ thấp bệ la y.

Dịch nghĩa
Ông lên đường lên mây xanh,
Tôi nhắm núi xanh trở về.
Từ hôm mây núi chia tay ấy,
Nước mắt rơi ướt tấm áo dính cỏ bệ la.

Tống Vương thất uý Tùng Tư, đắc Dương Đài vân

君不見
巫山神女作行雲,
霏紅遝翠曉氛氳。
嬋娟流入楚王夢,
倏忽還隨零雨分。
空中飛去複飛來,
朝朝暮暮下陽臺。
愁君此去為仙尉,
便逐行雲去不回。

Tống Vương thất uý Tùng Tư, đắc Dương Đài vân
Quân bất kiến,
Vu Sơn thần nữ tác hành vân,
Phi hồng đạp thuý hiểu phân uân.
Thiền quyên lưu nhập Sở vương mộng,
Thúc hốt hoàn tuỳ linh vũ phân.
Không trung phi khứ phức phi lai,
Triêu triêu mộ mộ há Dương Đài.
Sầu quân thử khứ vi tiên uý,
Tiện trục hành vân khứ bất hồi.

Trừ dạ hữu hoài 除夜有懷

五更鐘漏欲相催,
四氣催遷往復回。
帳裡殘燈才去焰,
爐中香氣盡成灰。
漸看春逼芙蓉枕,
頓覺寒消竹葉杯。
守歲家家應未臥,
相思那得夢魂來。

Trừ dạ hữu hoài
Ngũ canh chung lậu dục tương thôi,
Tứ khí thôi thiên vãng phục hồi.
Trướng lý tàn đăng tài khứ diệm,
Lô trung hương khí tận thành hôi.
Tiệm khan xuân bức phù dung chẩm,
Đốn giác hàn tiêu trúc diệp bôi.
Thủ tuế gia gia ưng vị ngoạ,
Tương tư na đắc mộng hồn lai?

Dịch nghĩa
Chuông báo và đồng hồ nước như giục giã nhau trong năm canh
Bốn mùa theo nhau cứ đi rồi lại về
Trong phòng ngọn đèn hết dầu vừa tắt lửa
Trong lò hương thơm đã toả hết chỉ còn lại tro tàn
Cảm thấy hương xuân đang từ từ thấm vào gối sen
Chợt nhận ra chén rượu trúc diệp đã nguội lạnh rồi
Níu kéo năm cũ, nhà nhà chưa chịu đi nằm
Thì hồn những kẻ tương tư sao đến với nhau trong mộng được

Túc Đồng Lư giang ký Quảng Lăng cựu du

山暝聞猿愁,
滄江急夜流。
風鳴兩岸葉,
月照一孤舟。
建德非吾土,
維揚憶舊遊。
還將兩行淚,
遙寄海西頭。

Túc Đồng Lư giang ký Quảng Lăng cựu du
Sơn minh văn viên sầu,
Thương giang cấp dạ lưu.
Phong minh lưỡng ngạn diệp,
Nguyệt chiếu nhất cô chu.
Kiến Đức phi ngô thổ,
Duy Dương ức cựu du.
Hoàn tương lưỡng hàng lệ,
Dao ký hải tây đầu.

Dịch nghĩa
Trong núi âm u nghe tiếng vượn sầu thảm
Sông mênh mông ban đêm nước chảy xiết
Gió thổi lá hai bên bờ xào xạc
Ánh trăng chiếu một chiếc thuyền lẻ loi
Kiến Đức không phải là quê hương của ta
Duy Dương nhớ là nơi ta từng du ngoạn qua
Xem ra hai hàng lệ đành
Hướng đến xa xa Quảng Lăng đầu mé tây

Túc Kiến Đức giang 宿建德江

移舟泊煙渚,
日暮客愁新。
野曠天低樹,
江清月近人。

Túc Kiến Đức giang
Di chu bạc yên chử,
Nhật mộ khách sầu tân.
Dã khoáng thiên đê thụ,
Giang thanh nguyệt cận nhân.

Dịch nghĩa
Dời thuyền lại đậu ở bến sông đầy khói,
Trời chiều khách lại có thêm mối sầu.
Ngoài khoáng dã trời sầm xuống hàng cây,
Trên mặt sông trong vắt mặt trăng đi gần đến người.

Túc Mai đạo sĩ sơn phòng 宿梅道士山房

林臥愁春盡,
搴帷覽物華。
忽逢青鳥使,
邀入赤鬆家。
金灶初開火,
仙桃正發花。
童顏若可駐,
何惜醉流霞。

Túc Mai đạo sĩ sơn phòng
Lâm ngoạ sầu xuân tận,
Khiên duy lãm vật hoa.
Hốt phùng thanh điểu sứ,
Yêu nhập Xích Tùng gia,
Kim táo sơ khai hoả,
Tiên đào chính khai hoa.
Đồng nhan nhược khả trú,
Hà tích tuý lưu hà.

Dịch nghĩa
Đang nằm trong rừng thương cho xuân sắp hết,
Vén rèm coi cảnh vật tươi đẹp.
Chợt có người đưa thư,
Thư mời ta tới chơi nhà Xích Tùng.
Lò luyện kim đan vừa nhóm lửa,
Cây đào tiên đang ra hoa.
Nếu như uống kim đan được trẻ mãi không già,
Thì tiếc gì mà không say với rượu lưu hà.

Túc Nghiệp Sư sơn phòng đãi Đinh Đại bất chí

夕陽度西嶺,
群壑倏已暝。
松月生夜涼,
風泉滿清聽。
樵人歸欲盡,
煙鳥棲初定。
之子期宿來,
孤琴候蘿逕。

Túc Nghiệp Sư sơn phòng đãi Đinh Đại bất chí
Tịch dương độ tây lĩnh,
Quần hác thúc dĩ mính.
Tùng nguyệt sinh dạ lương,
Phong tuyền mãn thanh thính.
Tiều nhân quy dục tận,
Yên điểu thê sơ định.
Chi tử kỳ túc lai,
Cô cầm hậu la kính.

Dịch nghĩa
Chiều xuống đi qua ngọn núi phía tây
Hang hốc bỗng chốc đã không còn thấy
Cây tùng bóng trăng làm cho đêm mát lạnh
Âm thanh gió và suối nghe đầy bên tai
Tiều phu về đã muốn gần hết
Khói xuống và chim đậu đã đâu vào đó
Người kia hẹn đêm đến
Chiếc đàn một mình đợi ở đường cỏ

Tuế mộ quy Nam Sơn 歲暮歸南山

北闕休上書,
南山歸敝廬。
不才明主棄,
多病故人疏。
白髮催年老,
青陽逼歲除。
永懷愁不寐,
松月夜窗虛。

Tuế mộ quy Nam Sơn
Bắc khuyết hưu thướng thư,
Nam sơn quy tệ lư.
Bất tài minh chủ khí,
Đa bệnh cố nhân sơ.
Bạch phát thôi niên lão,
Thanh dương bức tuế trừ.
Vĩnh hoài sầu bất mị,
Tùng nguyệt dạ song hư.

Dịch nghĩa
Ta không dâng sách lên cửa bắc nữa,
Ta trở về nhà cũ ở núi Nam thôi.
Vì ta bất tài nên nhà vua ruồng bỏ,
Vì ta lắm bệnh nên bạn bè lánh xa.
Tóc trắng đưa đẩy cho năm tháng già đi,
Ngày xanh thúc giục tuổi mau tàn.
Mối ưu hoài dằng dặc làm ta buồn không ngủ được,
Chỉ thấy bóng tùng và ánh trăng ban đêm rọi bên song cửa.

Vãn bạc Tầm Dương vọng Lư sơn 晚泊潯陽望廬山

挂席幾千里,
名山都未逢。
泊舟潯陽郭,
始見香爐峰。
嘗讀遠公傳,
永懷塵外蹤。
東林精舍近,
日暮但聞鐘。

Vãn bạc Tầm Dương vọng Lư sơn
Quải tịch kỷ thiên lý,
Danh sơn đô vị phùng.
Bạc châu Tầm Dương quách,
Thuỷ kiến hương lô phong.
Thường độc Viễn công truyện,
Vĩnh hoài trần ngoại tung.
Đông Lâm tinh xá cận,
Nhật mộ đãn văn chung.

Vấn chu tử 問舟子 • Hỏi ông lái thuyền

向夕問舟子,
前程復幾多。
灣頭正堪泊,
淮裏足風波。

Vấn chu tử
Hướng tịch vấn chu tử,
Tiền trình phục kỷ đa.
Loan đầu chính kham bạc,
Hoài lý túc phong ba.

Dịch nghĩa
Trời chiều, hỏi người lái thuyền,
Xem còn phải đi bao lâu nữa.
(Ông lái đáp) đến đầu vũng kia nên cặp bến,
(Ngày mai) vào sông Hoài sẽ nhiều sóng gió.

Xuân hiểu 春曉 • Buổi sáng mùa xuân

春眠不覺曉,
處處聞啼鳥。
夜來風雨聲,
花落知多少?

Xuân hiểu
Xuân miên bất giác hiểu,
Xứ xứ văn đề điểu.
Dạ lai phong vũ thanh,
Hoa lạc tri đa thiểu?

Dịch nghĩa
Say sưa giấc xuân không biết trời đã sáng
Khắp nơi vang lên tiếng chim hót
Đêm qua có tiếng gió và mưa
Hoa rụng không biết bao nhiêu?

Xuân tình 春情 • Tình xuân

青樓曉日珠簾映,
紅粉春粧寶鏡催。
已厭交懽憐枕席,
相將遊戲遶池臺。
坐時衣帶縈纖草,
行即裙裾掃落梅。
更道明朝不當作,
相期共鬥管弦來。

Xuân tình
Thanh lâu hiểu nhật châu liêm ánh
Hồng phấn xuân trang bảo kính thôi
Dĩ yếm giao hoan liên chẩm tịch
Tương tương du hí nhiễu trì đài
Tọa thì y đới oanh tiêm thảo
Hành tức quần cư tảo lạc mai
Cánh đạo minh triêu bất đương tác
Tư yêu cộng đấu quản huyền lai.

Yến Mai đạo sĩ sơn phòng 宴梅道士山房

林臥愁春盡,
搴帷覽物華。
忽逢青鳥使,
邀入赤松家。
金灶初開火,
仙桃正發花。
童顏若可駐,
何惜醉流霞!

Yến Mai đạo sĩ sơn phòng
Lâm ngoạ sầu xuân tận,
Khiên duy lãm vật hoa.
Hốt phùng thanh điểu sứ,
Yêu nhập Xích Tùng gia.
Kim táo sơ khai hoả,
Tiên đào chính phát hoa.
Đồng nhan nhược khả trú,
Hà tích tuý lưu hà!

Dịch nghĩa
Nằm trong rừng đang sầu xuân qua hết
Vén màn lên nhìn cảnh vật hoa sắc
Bỗng gặp sứ giả của thần tiên lại
Mời vào viếng thăm nhà tiên ông
Mới bắt đầu nhóm lửa luyện đan bỏ táo vàng vào
Cây đào tiên chính đang nở hoa
Nếu mà giữ được vẻ mặt còn tươi trẻ
Thì tiếc gì say sưa uống rượu tiên

Yến Vinh Nhị sơn trì 宴榮二山池

甲第開金穴,
榮期樂自多。
櫪嘶支遁馬,
池養右軍鵝。
竹引攜琴入,
花邀載酒過。
山公來取醉,
時唱接籬歌。

Yến Vinh Nhị sơn trì
Giáp đệ khai kim ngọc,
Vinh kỳ lạc tự đa.
Lịch tê chi độn mã,
Trì dưỡng hữu quân nga.
Trúc dẫn huề cầm nhập,
Hoa yêu tải tửu qua.
Sơn công lai thủ tuý,
Thời xướng tiếp ly ca.

Trên đây chúng tôi đã tiếp nối Mạnh Hạo Nhiên Cùng Những Bài Thơ Đặc Sắc Phần Đầu bằng những bài thơ hay còn lại của ông. Những bài thơ mang trên mình phong cách đặc biệt chắc chắn sẽ làm cho bạn yêu thích bài viết của chúng tôi. Hãy đồng hành cùng uct.edu.vn để cập nhật cho mình những bài viết hấp dẫn làm mới bộ sưu tập thơ ca của bạn nhé! Cảm ơn đã theo dõi bài viết của chúng tôi!