Tập thơ “Hương cây” của , in chung với “Bếp lửa” của Bằng Việt năm 1968. Tập thơ Hương cây thể hiện rõ phong cách của nhà Lưu Quang Vũ. Đó là những vần thơ đắm đuối camrm xúc, là cảm hứng về con người, về cái đẹp, cái thiện, cái tôi hòa trong cái ta.

Tập thơ Hương cây 1968

Thôn Chu Hưng

Thôn Chu Hưng trăng sao rơi đầy giếng
Nằm giữa bốn bề rừng rậm nứa lao xao
Đường ven suối quả vả vàng chín rụng
Cọ xanh rờn lấp loáng nước sông Thao.

Nhà chon von khuất sau vườn ngô sắn
Thôn nhỏ nặng tình kháng chiến mười năm
Cơm thiếu muối rau giền ăn với trám
Sương trắng đồi, áo mỏng rét căm căm.

Ơi Chu Hưng đêm nằm nghe suối đổ
Nghe gió ngàn và tiếng hoẵng giữa rừng sâu
Ơi Chu Hưng sắn vùi trong bếp đỏ
Ấm những ngày gian khổ khó quên nhau.

Mẹ sinh con vào cuối mùa hoa gạo
Loa chuyển rừng tin thắng trận sông Lô
Bố gửi con mảnh vải dù may áo
Súng nổ dồn đuổi giặc suốt mùa mưa.

Vỡ đồi hoang mẹ trồng sắn trồng ngô
Con lớn trong nỗi nhọc nhằn của mẹ
Trong cánh tay xóm làng bồng bế
Trong tiếng hò tha thiết vọng trên nương.

Tuổi lên năm đi nhặt củi ven rừng
Con tập đánh vần bằng bảng tin thắng trận
Ăn đọt măng vầu, uống ngụm nước trong
Con chưa thấy những chân trời cao rộng.

Mùa thu hoà bình rời xa Việt Bắc
Bè về xuôi gió thổi nước sông reo
Rừng vẫy lá đưa ta đi lưu luyến
Bạn nhỏ trên đồi đứng mãi nhìn theo…

Xa Chu Hưng đã chín mùa cá lũ
Sắn bên đồi sắn có xanh tươi?
Mái nhà cũ đêm đêm ai nhóm lửa
Máng tre có còn hứng nước mưa rơi?

Thôn ta mở thêm mấy trường học mới
Hợp tác nhà nay chắc đã lên cao
Tháng mấy buổi có phim về chiếu
Đến bao giờ có điện để thay sao?

Con suối nhỏ xuyên rừng nơi ấy
Là ngọn nguồn sông biển yêu thương
Ra biển ra sông còn nhớ mãi
Trắng hoa rừng… ơi Chu Hưng, Chu Hưng!

Hà Nội, 1964

Qua sông Thương

Sao tên sông lại là Thương
Để cho lòng anh nhớ?
Người xưa bảo đây đôi lòng lệ nhỏ
Những suối buồn gửi tới mênh mang
Đò về Nhã Nam
Đò qua Phủ Lạng
Mưa chiều nắng rạng
Đã bao năm?
Nỗi đau cũ thật không cùng
Sông cũng thành nước mắt.

Hôm nay anh lại qua sông
Đò anh đi giữa những đoá sen hồng
Ong chấp chới bay, đây đương mùa dứa
Đò ngược xuôi chở trái chín vàng
Thơm ngát mật hương mùa hạ.
Thôn xóm đôi bờ xanh biếc quá
Những đường xe chạy đỏ bụi bay
Những tiếng cười khúc khích sau vườn cây.
Nước vỗ mạn thuyền dào dạt
Buồm trắng nắng căng phồng gió mát
Phủ Lạng Thương sừng sững thân cầu
Giặc đánh hai lần ta lại sửa mau.
Dòng nước đêm nay dựng trời sao
Hay ánh đèn điện sáng
Lấp lánh công trình phân đạm
Bóng ai kia trên giàn giáo tầng cao?
Thôi chẳng mất công tìm nhau
Hãy lắng nghe loa truyền tin chi vui quá nhỉ?
Sông Thương ơi, đang những ngày đánh Mỹ
Nên đôi bờ nòng pháo hướng trời mây
Những cô lái đò súng khoác trên vai
Đời đẹp vô cùng dòng lệ hoá dòng vui.
Đò anh đi vẫn mùa sen thẳm
Xuôi dòng về ngã ba sông
Bỗng ào ào nước mênh mông
Vui gì bằng những dòng sông gặp gỡ?
Những đò trái chín hẹn hò nhau
Những nòng súng thép ngẩng chào nhau…

Mùa đánh Mỹ qua sông xưa nước mắt
Mà vạt áo người nay chẳng ướt
Chỉ nghe lồng lộng tiếng ca vang
Nghe sông gọi người đi đánh giặc
Đất nước nặng tình phù sa bát ngát
Tâm hồn ta tắm với bóng mây trong
Yêu quá sông Thương nước chảy đôi dòng.

6/1966

Đêm hành quân

Anh nghĩ gì trong đêm hành quân
Trên những chặng đường xưa ra trận tuyến?
Nguỵ trang reo như rừng gió chuyển
Bước chân đi cuồn cuộn đường dài.

Thoảng mùi hoa thiên lý cửa nhà ai?
Một tiếng chim khuya gọi mùi vải đỏ
Nghe đất thở luống cày hồn hậu lạ
Ta muốn thành hạt cốm uống hương đêm.

Tiếng ai hò? Dáng lạ cũng thân quen
Đường nào vui bằng đường ra trận tuyến?
Nam Bắc lòng ta chung tiếng gọi mẹ hiền
Ta náo nức như suối về sông biển.

Nào đâu phải ngày đi không lưu luyến
Mắt người trong như nước giếng ban đầu
Mảnh trăng liềm nghiêng một nỗi nhớ nhau
Còn biết mấy hẹn hò dang dở:
Một cánh đồng chờ máy cày đến vỡ
Một giàn bầu trước ngõ bớt người chăm
Nhãn vườn ai mùa hạ hẹn về thăm…

Đêm nay phà đã sang mấy chuyến?
Ơi chị dân quân nụ cười tin mến
Ơi mẹ già đun nước sẵn chờ con
Giữa trời khuya nghe tiếng súng nổ dồn
Từ trận đánh xưa công đồn lửa đỏ
Người liệt sĩ nơi nghĩa trang nằm đó
Cũng lên đường, nhập với hàng quân.

Làm kẻ sinh sau giữa đời rộng mở
Mang khối căm hờn ngày trước chưa tan
Hờn căm mới lại chồng lên nợ cũ
Lửa cháy bom rơi…, ta cầm súng lên đường.

Chim cu ơi, mùa đã chín vàng
Tin chiến thắng bay về muôn xóm ngõ
Đêm náo nức giục bình minh hớn hở
Một khúc quân hành cả nước ngân vang!

(1966)

Gửi tới các anh

Chiều ấy các anh đi
Nắng nhạt vàng hoe gốc rạ,
Gió xạc xào qua luỹ tre
Em đứng nhìn theo sau cửa,
Đất nước đánh thù, đường trăm ngả
Các anh đi về đâu ?
Em muốn nói trăm câu, ngàn câu
Mà chỉ nghiêng đầu chào khe khẽ.
Bóng các anh ngả dài theo vườn dâu
Mũ các anh rập rình trên bãi mía.

Các anh đi khuất trên đường xa
Em còn ngó hoài qua lối nhỏ
Từ đường làng có hương rơm hương cỏ
Các anh xuống đò qua sông,
Ráng chiều nước rộng mênh mông
Dạt dào sóng vỗ.
Đã ba vầng trăng
Kể từ bữa đó,
Em là cỏ lúa
Em chăm ao bèo,
Tháng bày mưa nhiều
Tháng tám sen tàn bưởi chín
Chim ngói bay về bịn rịn
Tháng chín lúa trổ đòng đòng
Trời thu hương cốm mát trong.

Bãi tập các anh bữa trước
Hợp tác đào thêm mương dài
Dãy xoan các anh trồng, vòm lá mướt
Nhành cao nhành thấp
Nhắc các anh hoài.
Gió thổi mây chiều
Chim hót sớm mai
Em vẫn cùng đội dân quân tập bắn.
Đất nước mình tươi hoa đẹp nắng
Em cùng gìn giữ phải không anh ?
Em hứa: đồng em xanh
Tay em cầm chắc súng,
Tàu bay Mỹ rụng:
Tháng tám năm trăm
Tháng chín sáu trăm
Trái hồng sắp đỏ
Hạt thóc sắp vàng
Báo tin chiến thắng rộn ràng,
Trận nào các anh đã dự ?
Mong các anh nhiều chiến công,
Có quê ta chín nhớ,
Có lòng em mười thương…
Các anh đi nhiều chốn quê hương
Đừng quên nơi này nhé!
Ngày mai tan giặc Mỹ
Các anh về quê em
Xoan xưa đã lớn, lá biếc cành chen
Đón mừng chiến sĩ…
Bên sông rì rào bãi mía
Như muôn lời em gửi các anh…

Ta đi giữ nước yêu thương lắm
Mỗi xóm thôn qua mỗi nghĩa tình.

Hải Phòng, 9/1965

Những chuyến bay

Những chuyến bay tìm diệt kẻ thù
Ta nghiêng cánh nhìn quê hương xanh biếc
Càng bay cao càng thấy yêu tha thiết
Con nục ngoài khơi, cái nấm trên ngàn
Yêu mẻ thép ra lò và điệu hát xẩm xoan…

Ta giữ bờ đê mùa xuân biếc cỏ
Trạm bơm đầu thôn, mái trường tuổi nhỏ
Cái ao thả cá, con đường tròng xoan…
Tổ quốc áo nâu Tổ quốc áo chàm
Bay qua rừng ta say hương trăm gỗ
Bay ven biển rì rào sóng vỗ
Tâm hồn ta ngào ngạt muối thơm
Khi bay trên sắc tím Trường Sơn
Nghe tiếng súng của miền Nam thôi thúc
Bay qua hướng đông, vòng lên hướng bắc
Ngang sông Đà, ta dọc sông Lô.

Sớm tháng tám bay trên trời thủ đô
Cờ trên cánh thêm đỏ bừng sắc thắm
Nhìn xung quanh: mây bỗng nõn trắng
Ôi có phải rồng lên trên Thăng Long?
Trái tim đất nước gió thở phập phồng
Chào ga lớn trăm tàu về tụ hội
Chào những cửa ô xoè hoa ngói mới
Chào gian hầm anh Trần Phú viết tuyên ngôn
Chào lá nhành cây vú sữa tười non
Trải bóng mát vườn Bác Hồ làm việc…

Những chuyến bay trên trời xanh Tổ quốc
Mắt mẹ mắt em náo nức nhìn theo
Sông nước dạt dào, ngô lúa vẫy reo
Ta cưỡi gió xé mây tìm diệt Mỹ!

(Sân bay S, tháng 8-1966)

Lá bưởi lá chanh

Công sự pháo
Phủ đầy nguỵ trang xanh
Trong những chùm cây dại
Có vài cành bưởi cành chanh.

Giữa giờ chiến đấu
Mẹ già em bé trong thôn
Đã bẻ cả cây vườn
Cả cành chanh cành bưởi
Đem tới làm nguỵ trang cho bộ đội.

Chiến hào nắng chói
Bỗng thơm mùi bưởi, mùi chanh
Chan chứa lòng anh bộ đội
Bao nhiêu ân tình…

Ôi lá bưởi lá chanh
Hương vị quê nhà quen thuộc quá
Như ngày thơ nhỏ
Có cây bưởi cạnh cầu ao
Mấy gốc chanh ven hàng rào
Bưởi chín về mùa thu
Chanh sai về mùa hạ
Me chăm gốc nhiều nên ngon quả.
Chanh bâng khuâng mùi lá
Lời mẹ thường hát đó:
“Con gà cục tác lá chanh”…
Bưởi cứ mùa xuân hoa trắng nở
Hương thơm ngát cả thân cành
Đi xa lòng vẫn nhớ
Dáng quê hương trong cây lá hiền lành…
Lá chanh đầu ai thường gội
Mái tóc dài ai cài hoa bưởi
Buổi ban đầu vấn vương…

Cây lá nơi này lá quê hương
Ôi những mẹ những em ta hiền hậu
Những cô gái cùng ta chiến đấu
Giống như người con gái hôm xưa…
Máy bay quân thù
Đốt những vườn cây sém lửa
Chồi biếc bây giờ đứt nhựa
Thân cành đau không cây ơi
Bầm gan tím ruột bao người.

Cả quê nhà
Cùng ta chiến đấu
Từng viên đạn lắp vào nòng pháo
Bồi hồi nghe hương lá bưởi lá chanh.

(Vĩnh Phúc, 10-1965)

Trưa nay

Con thuyền nào kéo lưới ngược dòng sông
Theo bóng mát của bờ tre xao động?
Ôi những cánh đồng xa im lặng
Khói bay trời xanh trưa nay đưa nhau.

Thôi chào người em gái thuở chăn trâu
Biết nói gì lúc xa quê đi vội?
Lòng anh những chiến trường đang gọi
Như nắng vàng giục thóc sân phơi.

Chưa kịp nắm bàn tay đã rời
Sao trước chẳng yêu quê nhiều hơn nữa?
Vườn dưa hấu nước ngọt trào ướt vỏ
Mía đưa vào lò mật bãi xanh thơm.

Buổi trưa hè bình dị của quê hương
Gà vỗ cánh lên ổ vàng đẻ trứng
Ven sông nắng những ngực tròn lấp loáng
Mỗi tiếng cười tiếng gọi sao thiết tha…

Không giọng nói ở đâu giống giọng quê nhà
Người sông bãi bao đời cực khổ
Xưa đêm bão lo buộc riêng lán nhỏ
Nay xóm làng đi gặt lúa đồng chung.

Tóc bạc rồi mẹ mới đủ bát cơm
Con lại chẳng ở nhà ăn cùng mẹ
Đến đốt lúa đồng ta là giặc Mỹ
Mẹ ký vào đơn xin cho con tòng quân.

Khi người thương dưới quả chín cành bàng
Bảo mấy hạ đông chi cũng đợi
Trời xa bỗng ầm ì súng nổ
Xốc ba-lô, anh vôi lên đường.

Hơi ấm bàn tay

Tặng Uyên

Phút đưa nhau ta chỉ nắm tay mình
Điều chưa nói thì bàn tay đã nói
Mình đi rồi hơi ấm còn ở lại
Còn bồi hồi trong những ngón tay ta.

Như hai dòng sông gặp gỡ đổi phù sa
Nhập luồng nước, hoà nhau màu sắc
Trao cảm thương, hai bàn tay nắm chặt
Nghe máu mẹ cha chuyển giữa mỗi tay mình.

Những ngày xa, trời nhớ một màu xanh
Xây trận địa bàn tay ta rám nắng
Khi vuốt ngọn cỏ non khi lắp đạn
Khi áp lên vầng trán thấm mồ hôi.

Bàn tay ta trên ngực lớn cuộc đời
Ấm hơi ấm ở tay mình lưu luyến
Và ở tận đầu kia trận tuyến
Bàn tay mình mang ánh nắng tay ta.

Khi đàn chim bay tới rợp trời trưa
Cồn mây về mang cơn mưa đầu hạ
Hai vì sao đổi ngôi trong đêm gió…
Đó chính tay mình đang vượt khoảng xa
Tìm đến nơi này âu yếm nắm tay ta.

1967

Ngã ba thị xã

Anh về ngã ba thị xã
Sương chiều thấm lạnh trên vai
Con sáo kêu hoài kiếm tổ
Cành cao bom tiện mất rồi!

Bến xe đợi chờ hò hẹn
Hố bom chôn mất bóng cây
Lũ trẻ thường hay đùa nghịch
Giờ sơ tán về đâu đây?

Thương bốn tường nhà mậu dịch
Vỡ rồi cửa vẫn lung lay
Ngăn này là quầy bán sách
Tro tàn giấy trắng còn bay…

Ta lợp lại từng mái rạ
Ta lập đi từng hố bom…
Trước cửa ngôi nhà cháy dở
Hôn con, mẹ bảo: Lên đường!

Hoa dẻ góc vườn vẫn nở
Cây bàng hồi lại lá xanh
Sau một rèm hoa ô cửa
Anh nghe có tiếng phong cầm.
Ai đấy hát theo nho nhỏ
Người đi bát ngát niềm thương
Có hai đoàn quân gặp gỡ
Vẫy nhau giữa ngã ba đường.

(1967)

Chuyện nhỏ bên sông

– Em mới về làm dâu thôn ta
Chuyện cái bến sông này em chả biết
Bãi cát lún bao mùa mưa trước
Mỗi câu hò gợi một chuyến đò đi.
Em biết chăng ngọn cỏ thơm kia
Con nghé ăn vào bỗng nhiên nhớ mẹ
Quẫy sóng trên sông là con cá mè
Hay đậu theo bầy là con chim dẽ
Con tép nhỏ thường kho với khế
Con bồ nông trên cát ướt lao xao…
Chuyện xóm chuyện nhà em chưa biết đâu
Trên bến sông này một chiều năm ấy
Mẹ đã tiễn cha đi bộ đội
Tiếng súng đòn Tây ngơ ngác hoàng hôn
Con rô sục bùn, con vạc kêu sương
Cha lội tắt qua dòng nước lạnh
Một nắm cơm đùm, một manh áo rách
Ngẩng lên ngang trời một mảnh trăng non…

– Anh bảo hiểu em mà hiểu không tròn
Em đã yêu anh em yêu trọn vẹn
Em về với anh như mùa cam chín
Những gì anh quý lòng anh cũng thương
Quê em cách anh nhiều xóm nhiều làng
Nhưng vẫn uống chung một dòng nước ấy
Cũng có bến sông như nơi anh đấy
Cũng bãi cát dài, con dẽ con giang
Cũng trận mưa rào thơm ngọn cỏ non…
Nước tương ngon kho con bống bé
Em thương anh còn mẹ mất cha
Đánh Pháp hy sinh ở chiến trường xa
Cha hẳn biết mình thành đôi anh nhỉ ?

Cứ thế hai người tâm tình thủ thỉ
Nghe trọn chuyện này chắc chỉ dòng sông…
Qua mùa hoa gạo, tới mùa hoa vông
Người chồng trẻ lên đường đánh giặc
Chật bến sông bà con đủ mặt
Vui như hôm đón điện về làng…
Mía tím đôi bờ, phấn trắng thương thương
Muốn nói bao điều bạn tình ta hỡi!

– Xưa cha tòng quân, mo cơm mẹ gói
Trốn khỏi nhà giàu lại tránh đồn Tây
Hôm nay anh đi cũng ở bến này.

Cột điện qua sông ngang dọc đường dây
Thôn xóm tiễn đưa, bạn bè tấp nập
Mấy núi đèo rồi anh cũng vượt
Chỉ nhớ quê nhiều, nhiều lắm nhớ em…

– Anh đến đâu cũng sẽ gặp quê hương
Nhiều dòng sông rộng hơn sông tuổi nhỏ
Cũng đò sang ngang, cũng con tép nhỏ
Cũng nước đậm bờ chung thuỷ như em…

(4-1967)

Ngày ấy

Ngày ấy chưa nghe tiếng còi báo động
Công sự chưa đào trong các vườn hoa
Sách ta học chưa trang nào dạy gỡ bom nổ chậm
Mái trường ta chưa vết đạn quân thù.

Ngày ấy hay mơ lắm sắc biển xa
Ta chưa biết trong ta có sóng cồn giận dữ
Quá vô tư đôi khi ta chẳng nhớ
Những nếp đau xưa trên trán mẹ già.

Ngày ấy hay đâu trời ta xanh thế kia
Như nay ta nhìn qua đầu ruồi ngọn súng
Ngày ấy ngờ đâu bè bạn tuổi thơ
Vụt thành những anh hùng khi xung trận.

Cám ơn thời gian cám ơn hôm nay
Người chiến đấu mang nụ cười đẹp nhất
Ngày ấy ta chưa thấy hết tầm đất nước
Ngày ấy ta chưa hiểu rõ lòng ta
Anh chưa biết yêu em như bây giờ.

(6-1967)

Phố huyện

Đêm nay lại hành quân qua phố huyện
Một vầng trăng bạc, mấy chòm sao
Phố nhỏ nằm ven bờ cát sông Thao
Đêm nghe rì rầm nước chảy
Gió thổi xạc xào lau sậy
Rừng cọ bạt ngàn, nối tiếp nhau…

Ta bước đi thương nhớ những năm nào
Ơi cái phố tuổi thơ, phố nghèo kháng chiến
Hương đất hương cây bồi hồi bao kỷ niệm
Ta lại về, phố cũ nhớ ta chăng?
Vụt hiện về ký ức xa xăm
Thuở phố núi chiến khu đón người trăm ngả
Người của Hà Đông tơ lụa
Người vùng sông Đuống, Hương Canh
Chum vại dưới quê giặc đập tan tành
Người phố Thăng Long phá nhà đi kháng chiến
Tắm nước sông Thao lòng không bịn rịn
Mắt còn in nắng năm cửa ô.

Ai về Vũ Ẻn, Thanh Cù?
Gió lạnh thổi trên đường phá hoại
Dưới bến Việt Trì đồn Tây chẹn lối
Đò vẫn đưa người du kích qua sông
Phố huyện nằm sâu lắng những chiều đông
Vó ngựa đi về lộc cộc
Mùa chiến dịch bừng muôn ánh đuốc
Rung núi chuyển rừng bộ đội hành quân
Súng giặc khuôn về vui chuyện dân công
Tù binh Pháp hàng đoàn run rẩy
Mẹ giắt con ra vẫy chào bộ đội
Bố ghé qua nhà áo ướt sương khuya
Hôn vội con rồi lại hành quân đi.
Phố huyện mấy lần tàu bay giặc bắn
Nha ta năm ấy cháy tan hoang
Mẹ ơi, thương mẹ nhiều mưa nắng
Những năm dài khoai sắn nuôi con.

Hoà bình về xuôi xa núi xa rừng
Nay đánh Mỹ lại hành quân qua chốn cũ
Phố đổi thay nhiều, nhìn quanh bỡ ngỡ
Đây cửa hàng mậu dịch đông vui
Đây nhà ga tàu hối hả ngược xuôi
Vẫn đông người ra vẫy chào bộ đội
Bát nước trao tay, lời thăm vội
Ai là người phố huyện năm xưa?
Có phải đèo này in dấu chân cha
Có phải dốc kia mẹ từng gánh nặng?
Ôi đêm nay gió sông Thao lồng lộng
Đất nước mình nào đã được yên đâu
Chiều qua Mỹ bắn Việt Trì, Vũ Ẻn, Lâm Thao
Người vượt pháo quân ta rầm rập bước
Vẫn ánh trăng soi áo người vệ quốc
Phố huyện ơi, ta lại hành quân!

8/1966

Trên cầu Long Biên

Khẩu đội anh đứng dậy
Nghe sông Hồng dạt dào nước mát
Nghe gió nồng phơi phới lá ngô non
Phù sa ôm bãi cát mịn màng…

Bè gỗ xuôi. Thơm nhựa rừng bỡ ngỡ
Buồm trắng buồm nâu xoè căng cánh mở
Những phà vui hò hẹn bến Phà-đen
Cói chuyển rung cầu, rầm rập tàu lên…

Anh đứng dậy chào mặt trời mỗi sớm
Chào Thủ đô náo nức vào ngày
Tiếng thoi đưa, máy chạy, guồng quay
Tiếng bắp cải nặng vai tròn kĩu kịt
Tiếng guốc lanh canh, tiếng cười ríu rít…
Mỗi mặt người bừng như nắng mai…
Anh đứng dậy
Mắt nhìn bốn phương
Bóng in cao trên trời mây trắng
Nhớ một đêm nào
Đoàn quyết tử rút khỏi chân cầu
Để lại sau lưng phố phường cháy lửa
Chỉ xuống dòng sông nước đỏ
Hẹn mai về lấy lại Thủ đô!

Chúng ta về lấy lại Thủ đô
Cầu trầm lặng nhớ bao người ngã xuống
Buổi nào Thăng-long rũ tung xiếng nặng
Nay hai mốt năm Dân chủ cộng hoà
Dòng sông dài như tình yêu của ta.

Xung quanh anh biết bao nòng súng
Bắc tự tầng nhà, bắc trên nóc xưởng
Phải đứng trên cao mà đánh quân thù.

(10-4-1966)

Chiều

Chim chiều kêu thơ ngây
Trời chiều xanh đắm đuối
Nắng chiều trong liễu rối
Gác chiều nghe gió xa
Cơn mưa vừa thoảng qua
Hơi mưa dìu dịu mát
Lá quanh hồ sắp mục
Se sẽ mùi rượu lên
Hoa sấu rụng ngoài hiên
Mặt đường loang loáng ướt
Vòm cây soi mặt nước
Trong sau nhiều chiêm bao
Gạo đơm quả trên cao
Phượng thay dần áo mới
Nghe tiếng người cười nói
Nhựa đầu cành rưng rưng…

Năm đánh Mỹ gian truân
Qua một ngày vất vả
Hà Nội vẫn dành ta
Chọn chiều hương êm ả
Từng ngọn cỏ hơi mưa
Có đời ta ở đó
Sẽ hoá thành đạn lửa
Cho trận đánh hôm sau
Ôi tâm hồn thẳm sâu
Là những ngày đánh giặc
Ánh sáng tràn trên mắt
Người đi tay nắm tay…
Chiều xuống cánh chim bay
Như nụ cười thoáng gặp
Như vầng trăng mới mọc
Như mối tình mới yêu.

Không ai nói chi nhiều
Chỉ phà sang, sóng hát
Anh vào trong phố mát
Khói đạn áo còn lem
Trời vụt sao hôm lên
Bừng theo muôn mắt đợi
Mở cửa phòng ra em
Để chiều thêm chói lói.

1967

Máy nước đầu ngõ

Đêm nào nằm mơ trong gác xép
Nghe vòi nước ngoài đường nhỏ giọt
Những giọt mát lành nhắc chuyện khổ xưa:
Ngõ mòn lọc cọc xích lô
Bác thợ gầy gục đầu bên máy nước
Uống nghẹn ngào từng hớp
Mà môi nghèo vẫn khô…

Nay rãnh bùn đã vét
Ngõ mang tiếng cười tới các phố xa
Vòi nước ào ào dội xuống như mưa
Hoa tím mùa hè ướt đẫm
Quanh máy nước bồ câu nhặt nắng
Sân thượng phơi đầy áo trắng áo hoa
Hiên gác nào cũng mở tới một trời xa…

Quầy bán báo trang tin thơm mực mới
Cầu thang đếm bước chân chờ đợi
Gánh nước về vo gạo rửa rau
Thùng tôn sang sảng va nhau…
Đêm mùa thu tiếng đàn thánh thót
Cuộc đời biết cười, cuộc đời tập hát.

Nước phù sa ngầu đỏ sông Hồng
Lên bể cao gạn đục khơi trong
Như mạch máu những ống dài chằng chịt
Dẫn nước về vòi nước
Chia niềm vui cho mỗi căn nhà.

Tuổi nhỏ tôi cùng lũ trẻ ngây thơ
Ra hè nghịch nước
Nay tôi đi đánh giặc
Nhớ tiếng nước reo đầu ngõ bồi hồi
Mái nhà xưa quen tiếng đạn rồi
Nâng ụ súng bắn tàu bay giặc
Như máu sông Hồng về bể lọc
Sống chết đời tôi ràng rịt nơi đây.

Chiến thắng ta về như tiếng hát tương lai
Hái hoa tím mùa hè ẩm ướt
Ta cúi xuống xoè tay hứng nước
Vốc lên làn mi rửa sạch bụi đường
Nghĩ việc dựng xây Hà Nội đẹp hơn
Khi ngẩng lên đèn chiếu đã thắp
Ôi hạnh phúc thấm đầy nước mắt
Lăn lên má ta những giọt sáng ngời.

(1967)

Chưa bao giờ

Buổi chiều nào như buổi chiều nay
Biết nói gì cho đủ với nhau đây?
Nắng rung rinh khắp ngả đường Hà Nội
Còi báo yên vừa nổi
Chuông tàu đã leng keng
Mắt ai soi vào cũng sâu thẳm niềm tin.
Đây chị công an viên
Mang ngôi sao chính quyền trên mũ
Đứng canh ngã tư suốt giờ súng nổ…
Đây quầy hợp tác bán rau non
Những ngày mưa nắng đạn bom
Chưa lúc nào rau lên giá
Riêng điều ấy đơn sơ trên phố nhỏ
Cũng đáng cho ta cầm súng em à.
Mà chiều rồi ngoại ô xanh đằng xa
Nhấp nháy lửa hàn vui phố cũ
Một con tàu chạy về ga Hàng Cỏ
Khung cửa nào cũng có mặt người thương
Trên mảnh bom nhắc nhối cắm lòng tường
Chiêm chiếp mái hồng tổ chim mới nở
Đường rộng xe đi cuộn gió
Nào ta lên Chèm trông điện sáng quê em
Hay xuống thăm đồng cá bạc Yên Duyên?
Phản lực mình đang lao qua trời rộng
Ôi những ngày đêm nổi còi báo động
Vầng trán mẹ hiền
Không một phút bình yên
Ô cửa phòng ta mở thành ụ súng
Đường phố của ta dàn thành thế trận
Chắt chiu từng dòng điện hạt ngô
Nhưng chiều nay, chiều nay hoa ngoại ô
Cứ ùa vào phố phường như ánh nắng
Bàn tay em sáng bừng bông huệ trắng
Ôi bàn tay cầm súng
Bàn tay thơm phù sa…
Giờ đang chiều tháng tư
Trong vườn chùm nhót đỏ
Dãy bàng lên búp nhỏ
Xanh như là thương nhau
Công sự tươi màu rau
Súng ở tay em, vững lòng biết mấy!

Em ơi, em là Hà Nội
Anh chưa bao giờ yêu Hà Nội như hôm nay.

Hà Nội, 4-1967

Vườn trong phố

Trong thành phố có một vườn cây mát
Trong triệu người có em của ta
Buổi trưa nắng bầy ong đi kiếm mật
Vào vườn rồi ong chẳng nhớ lối ra.

Vườn em là nơi đọng gió trời xa
Hoa tím chim kêu bàng thưa lá nắng
Con nhện đi về giăng tơ trắng
Trái tròn căng mập nhựa sinh sôi.

Nơi ban mai cỏ ướt sương rơi
Một hạt nhỏ mơ hồ trên má
Hơi lạnh nào ngón tay cầm se giá?
Suốt cuộc đời cũng chẳng hiểu vì sao…

Nơi đêm khuya vọng lại tiếng còi tàu
Bỗng nhớ xa xôi những miền đất nước
Nơi bài hát lên đường ta hẹn ước
Nơi góc vườn ta để quên chùm hoa…

Nơi vòm lá rì rào xao động cơn mưa
Quả ngọt chín khi mùa ve lại đến
Những chân trời màu hồng những chân trời màu tím
Những ngôi sao bàng bạc cả hoàng hôn.

Nơi lá chuối che nghiêng như một cánh buồm
Cánh buồm xanh đi về trong hạnh phúc
Se sẽ chứ, không cánh buồm bay mất
Qua dịu dàng ẩm ướt của làn môi.

Dưa hấu bổ ra thơm suốt ngày dài
Em cũng mát lành như trái cây mùa hạ
Nước da nâu và nụ cười bỡ ngỡ
Em như cầu vồng bảy sắc hiện sau mưa.

Đến bây giờ đánh giặc anh đi xa
Nhìn lại mảnh vườn xưa thấy hẹp
Biết bao điều anh còn chưa nói được
Rối rít trong lòng một nỗi em em.

Rừng rậm đèo cao anh đã vượt lên
Theo tiếng gọi con tàu ngày bé dại
Vườn không níu được bước chân trở lại
Nhưng lá còn che mát suốt đường anh.

Mảnh vườn em vẫn là mảnh vườn xanh
Nơi ban đầu lòng ta ươm tổ mật
Nơi ta hái những chùm thơ thứ nhất
Nơi thu sang mây trắng vẫn bay về.

1967

Tầng năm

Trường đại học mới xây
Thêm nở rộ hoa tigôn hồng tím
Bốn phía cửa gương lấp loáng
Bóng người rung rinh.

Từ tầng một ánh lá rập rờn xanh
Lên tầng hai nền hoa đá trắng
Bao đồ án đang bồi hồi hy vọng
Nét bút thanh vẽ phác những lâu đài
Những mái đầu nghiêng xuống với tương lai.

Lên tầng ba bật sáng chùm hoa điện
Giọt hoá chất hồng trong ống nghiệm
Độ lửa nào nung quặng lò cao
Bàn tay ai mai sẽ xây cầu ?

Trang sách mở niềm vui cuộc sống
Trên tầng bốn ai giảng bài cao giọng
Ngoài hành lang vi vút ngọn phi lao
Tầng ấy tầng này ai vẫy nhau ?

Đi lên đi lên bước chân không mỏi
Ta sinh ra từ đồng chiêm lầy lội
Trong mái lều ẩm ướt ở quê hương
Nay ta lên cao bốn phía tường gương
Cùng hạnh phúc cầm tay tình tự.

Ta đã lên đến tầng thứ năm
Ta đã gặp trời mây loá nắng
Tâng cao nhất sân dài gió lộng
Ụ đất nâu xếp đó lặng yên
Thành công sự quanh nòng đại liên.

Ôi lên năm tầng cao ta gặp đất
Lòng ta loé sắc vàng băng đạn
Ta biết vì sao ta đứng ở đây rồi
Súng đăm đăm nhìn rộng đến chân trời
Muốn nói rất nhiều với cửa gương tầng dưới
Nơi ngọn bút chì đang vạch nét tương lai.

(12-5-1967)

Thức với quê hương

Khuya lắm rồi, vừa đổi xong phiên gác
Mưa rào rào nằm ngoài không ngủ được
Nghe cuốc kêu hoài từ một đầm xa…
Mùa hạ sắp về nối tiếp những cơn mưa.

Chùm nhãn chín cành cao rạo rực
Sắp gặp nắng nhựa dồn nên nhãn thức
Ta cũng bồi hồi trong đêm bâng khuâng:
Ừ xa nhà đánh giặc đã hai năm
Đếm tháng đếm mùa bằng tên trận thắng.
Con của mẹ giữa lòng dân khôn lớn
Như cây giữa rừng chẳng ngại phong ba…

Nhớ lũ em giờ sơ tán nơi xa
Mưa này lội đường trơn đi học
Thương mỗi cây ngô gốc sắn quê nhà
Phải lo lắng từng cơn dông trận bão.
Đùm bọc nhau đôi miền chiến đấu
Mấy chục năm rồi tay súng chẳng ngơi…
Cuốc cuốc, con chim của nỗi bồi hồi
Từng khắc khoải người xưa thương đất nước
Nay vẫy gọi cánh đồng chiêm thao thức
Bông lúa vàng hạt mẩy quẫy trong mưa
Ngoài kia đường dài lấp loáng đèn pha
Đẫm bùn nhão xe băng ra mặt trận
Người đi người đi như dòng sông vô tận
Áo ướt đầm, lòng cháy nỗi yêu nhau
Đồng đội ơi, đêm nay anh về đâu ?

Lớn lên trong những năm đánh giặc
Lòng ta đẹp như là đất nước
Như gió vui rụng ngọn lá trên cành…
Từ nơi này mai đơn vị hành quân
Suốt mùa hạ, suốt tình yêu xứ sở
Với cây súng, với vần thơ viết dở
Với con đường rộng mở đến mai sau…
Như nhãn thơm thấm mát giọt mưa đầu
Như tia nắng sáng niềm tin giản dị,
Đất nhận lấy tâm hồn người lính trẻ
Đêm sâu này thức trắng với quê hương.

(4-1967)

Những con đường

Anh nhớ không những con đường quê ta
Thân thương từ thuở nhỏ ?
Bao năm tháng đi về trên ngõ
Bao hoàng hôn rậm rịch bước chân trâu
Đường lập loè đom đóm bay cao
Ta ghé cửa nhà nhau xin lửa
Nghe hoa súng bờ ao se sẽ nở
Da diết lòng hương dịu tự vườn cau…

Xưa xóm nghèo mái rạ chen nhau
Gồ ghề lối hẹp
Hun hút bờ tre gió rét
Mưa dầm lầy lội bùn trơn
Bà lưng còng chống gậy bước run
Còm cõi vai gầy gánh nặng
Sương trắng mùa đông ngõ vắng
Quét hoài không hết lá khô…

Ôi những con đường hẹp ngày xưa
Cùng ruộng nhỏ ao con bó luôn tầm mắt
Khiến lòng người nhiều khi cũng chật…
Ta dựng ngày mai rộng biển lúa vàng
Bước đi dài đường phải thênh thang
Vui mở với đời ta như trời rộng.

Những sớm đắp đường ai cũng thấy yêu nhau
Ta san bụi bờ, ta lấp mảnh ao
Để nhường chỗ đường qua làng thẳng lối
Bà con vui lòng góp vườn riêng cam bưởi
Góp một mảnh sân, một góc chái nhà
Em góp cả phần ngõ nhỏ của đôi ta
Vào đường lớn trăm người đi tấp nập
Rạng đông đấy, hàng đàn trâu hợp tác
Ùa ra đồng trong tiếng trẻ cười vang.

Đường khoanh vùng chạy dọc theo mương
Cho lúa gặt về trĩu nặng
Cho xe pháo ta băng nhanh ra trận
Đường ơi, xanh ngắt rặng bạch đàn
Non tươi dừa nhãn, vút cành xoan…
Chim khuyên chim sáo về xây tổ
Lại bụi điền thanh nở cánh vàng…

Con đường quê hương, con đường yêu thương
Nối với vạn nẻo đường đất nước
Náo nức ngày đêm xe xuôi xe ngược
Đi ra tiền tuyến xa gần…

Con đường nào anh đang hành quân ?

(12-1966)

Đọc những áng thơ của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ chúng ta càng cảm nhận rõ hơn về phong cách thơ ông. Những vần thơ trữ tình mộc mạc, giản dị chứa đựng tính nhân văn sâu sắc.