Đường Bá Hổ (Đường Dần) và những áng thơ nổi tiếng nhất



Đường Bá Hổ hay còn gọi là Đường Dần. Đây là một nhà thơ Trung Quốc sinh năm 1470 và mất năm 1523 ông có tự là Tử Úy, Bá Hổ và hiệu là Lục Như cư sĩ, Đào hoa am chủ, Lỗ quốc Đường sinh, Đào thiền tiên sứ, Nam Kinh giải nguyên, Giang Nam đệ nhất phong lưu tài tử… Hãy cùng tìm hiểu các bài thơ hay của Đường Bá Hổ bạn nhé!

Bần sĩ ngâm kỳ 2

貧士吟其二
青山白髮老痴頑,
筆硯生涯苦食艱。
湖上水田人不要,
誰來買我畫中山。

Bần sĩ ngâm kỳ 2
Thanh sơn bạch phát lão si ngoan,
Bút nghiễn sinh nhai khổ thực gian.
Hồ thượng thuỷ điền nhân bất yếu,
Thuỳ lai mãi ngã hoạ trung san

Dịch nghĩa
Non xanh tóc trắng, già vẫn ngốc nghếch điên cuồng
Sinh nhai bằng bút nghiên, nỗi khổ kiếm ăn gian nan
Ruộng nước trên hồ người chẳng cần đến
Ai lại đến mua núi vẽ trong tranh của ta!

Cảm hoài

感懷
不煉金丹不坐禪,
飢來吃飯倦來眠。
生涯畫筆兼詩筆,
蹤跡花邊與柳邊。
鏡裏形骸春共老,
燈前夫婦月同圓。
萬場快樂千場醉,
世上閑人地上仙。

Cảm hoài
Bất luyện kim đan bật toạ thiền,
Cơ lai ngật phạn quyện lai miên.
Sinh nhai hoạ bút kiêm thi bút,
Tung tích hoa biên dữ liễu biên.
Kính lý hình hài xuân cộng lão,
Đăng tiền phu phụ nguyệt đồng viên.
Vạn trường khoái lạc thiên trường tuý,
Thế thượng nhàn nhân địa thượng tiên.

Dịch nghĩa
Không luyện kim đan không ngồi thiền
Đói bụng thì ăn mệt đi ngủ
Sống bằng bút vẽ và bút thơ
Tung tích bên hoa và bên liễu
Hình hài trong gương già cùng xuân
Vợ chồng trước đèn tròn cùng trăng
Vạn cuộc vui thú nghìn cuộc say
Người nhàn trên đời tiên trên mặt đất

Cúc hoa đồ

菊花圖
九日風高斗笠斜,
籬頭對酌酒頻賒。
禦袍採採揚妃醉,
半夜扶歸挹露華。

Cúc hoa đồ
Cửu nhật phong cao đẩu lạp tà,
Ly đầu đối chước tửu tần xa.
Ngự bào thái thái Dương Phi tuý,
Bán dạ Phù quy ấp lộ hoa.

Đào hoa am ca

桃花庵歌
桃花塢裏桃花庵,
桃花庵裏桃花仙。
桃花仙人種桃樹,
又摘桃花換酒錢。
酒醒只在花前坐,
酒醉還來花下眠。
半醒半醉日復日,
花落花開年復年。
但願老死花酒間,
不願鞠躬車馬前。
車塵馬足貴者趣,
酒盞花枝貧者緣。
若將富貴比貧賤,
一在平地一在天。
若將貧賤比車馬,
他得驅馳我得閑。
別人笑我忒瘋癲,
我笑他人看不穿。
不見五陵豪傑墓,
無花無酒鋤作田。

Đào hoa am ca
Đào hoa ổ lý đào hoa am,
Đào hoa am lý đào hoa tiên.
Đào hoa tiên nhân chủng đào thụ,
Hựu trích đào hoa hoán tửu tiền.
Tửu tỉnh chỉ tại hoa tiền toạ,
Tửu tuý hoàn lai hoa hạ miên.
Bán tỉnh bán tuý nhật phục nhật,
Hoa lạc hoa khai niên phục niên.
Đãn nguyện lão tử hoa tửu gian,
Bất nguyện cúc cung xa mã tiền.
Xa trần mã túc quý giả thú,
Tửu trản hoa chi bần giả duyên.
Nhược tương phú quý tỉ bần giả,
Nhất tại bình địa nhất tại thiên.
Nhược tương bần tiện tỉ xa mã,
Tha đắc khu trì ngã đắc nhàn.
Biệt nhân tiếu ngã thái phong điên,
Ngã tiếu tha nhân khán bất xuyên.
Bất kiến Ngũ Lăng hào kiệt mộ,
Vô hoa vô tửu sừ tác điền.

Dịch nghĩa
Trong thành hoa đào có am hoa đào
Trong am hoa đào có tiên hoa đào
Người tiên hoa đào trồng cây hoa đào
Lại hái hoa đào thay cho tiền mua rượu
Tỉnh rượu, thấy một mình ngồi trước hoa
Say rồi lại nằm ngủ dưới hoa
Nửa say nửa tỉnh ngày lại ngày
Hoa rụng hoa nở năm này qua năm khác
Thà chết già trong rượu và hoa
Chứ không chịu quỵ luỵ trước xe ngựa
Thú vui phú quý của người là bụi xe vó ngựa
Duyên nghèo của ta là chén rượu cành hoa
Nếu đem phú quý so với nghèo hèn
Một ở đất bằng, một lên tới trời cao
Nếu đem bần tiện so với ngựa xe
Người phải tất tả, ta được nhàn nhã
Người ra đi cười ta gió lớn cuồng quay
Ta cười, người nhìn nhưng có hiểu đâu
Chẳng thấy mộ của hào kiệt Ngũ Lăng đó sao
Không hoa, không rượu, bị san bằng làm ruộng cày

Đề “Lạc hà cô vụ” đồ

題落霞孤騖圖
畫棟珠簾煙水中,
落霞孤騖渺無蹤。
千年想見王南海,
曾借龍王一陣風。

Đề “Lạc hà cô vụ” đồ
Hoạ đống châu liêm yên thuỷ trung,
Lạc hà cô vụ diểu vô tung.
Thiên niên tưởng kiến Vương nam hải,
Tằng tá long vương nhất trận phong

Đề cúc hoa đồ

題菊花圖
黃花無主為誰容,
冷落疏籬曲徑中。
盡把金錢買脂粉,
一生顏色付西風。

Đề cúc hoa đồ
Hoàng hoa vô chủ vị thuỳ dung,
Lãnh lạc sơ ly khúc kính trung.
Tận bả kim tiền mãi chi phấn,
Nhất sinh nhan sắc phó tây phong.

Đề Thường Nga chấp quế đồ

題落霞孤騖圖
廣寒宮闕舊遊時,
鑾鶴天香捲綉旗,
自是嫦娥愛才子,
桂花折與最高枝。

Đề Thường Nga chấp quế đồ
Quảng Hàn cung khuyết cựu du thì,
Loan hạc thiên hương nhã tú y.
Tự thị Thường Nga ái tài tử,
Quế hoa chiết dữ tối cao chi.

Hoa hạ chước tửu ca

花下酌酒歌
九十惷光一擲梭,
花前酌酒唱高歌。
枝上花開能幾日,
世上人生能幾何。
昨朝花勝今朝好,
今朝花落成秋草。
花前人是去年身,
去年人比去年老。
今日花開又一枝,
明日來看知是誰?
明年今日花開否?
今日明年誰得知。
天時不測多風雨,
人事難量多齟齬。
天時人事兩不齊,
莫把春光付流水。
好花難種不長開,
少年易老不重來。
人生不向花前醉,
花笑人生也是呆。

Hoa hạ chước tửu ca
Cửu thập xuân quang nhất trịch thoa,
Hoa tiền chước tửu xướng cao ca.
Chi thượng hoa khai năng kỷ nhật?
Thế thượng nhân sinh năng kỷ hà?
Tạc triêu hoa thắng kim triêu hảo,
Kim triêu hoa lạc thành thu thảo.
Hoa tiền nhân thị khứ niên thân,
Kim niên nhân tỷ khứ niên lão.
Kim nhật hoa khai hựu nhất chi,
Minh nhật lai khan tri thị thuỳ?
Minh niên kim nhật hoa khai phủ?
Kim nhật minh niên thuỳ đắc tri?
Thiên thời bất trắc đa phong vũ,
Nhân sự nan lường đa thư ngữ.
Thiên thời nhân sự lưỡng bất tề,
Mạc bả xuân quang phó lưu thuỷ.
Hảo hoa nan chủng bất trường khai,
Thiếu niên dị lão bất trùng lai.
Nhân sinh bất hướng hoa tiền tuý,
Hoa tiếu nhân sinh giã thị ngốc.

Dịch nghĩa
Chín mươi ngày xuân như thoi đưa
Rót rượu bên hoa cất tiếng hát vang
Hoa nở trên cành được mấy ngày?
Người ta sống ở trên đời được bao nhiêu?
Hoa hôm qua tươi hơn hoa hôm nay
Hoa hôm nay rơi xuống thành cỏ thu
Người đứng trước hoa là thân của năm ngoái
Người năm nay so với năm ngoái già hơn
Hôm nay hoa lại nở thêm một cành
Ngày mai biết ai là người xem?
Ngày này sang năm hoa có nở không?
Sang năm ngày này ai biết được?
Thời tiết không thường nhiều mưa gió
Việc đời người khó lường nhiều khấp khểnh
Thời tiết việc đời người không giống nhau
Đừng để ngày xuân trôi theo dòng nước
Hoa đẹp khó trồng nở không lâu
Tuổi trẻ dễ già không trở lại
Đời người nếu không say trước hoa
Hoa sẽ cười đời người cũng là ngốc

Hoàng hoa thi

黃花詩
黃花無主為誰容?
冷落疏篱曲徑中。
盡把金錢買胭脂,
一生顏色付西風。

Hoàng hoa thi
Hoàng hoa vô chủ vị thuỳ dung?
Lãnh lạc sơ ly khúc kính trung.
Tận bả kim tiền mãi yên chi,
Nhất sinh nhan sắc phó tây phong.

Dịch nghĩa
Hoa cúc không có chủ vì ai mà mang nhan sắc?
Trong tiết lạnh rụng xuống rào thưa chỗ đường quanh.
Mang hết tiền vàng mua son phấn,
(Mà) nhan sắc của một đời đem gửi gió tây

Huyên hoa

萱花
北堂草樹發新枝,
堂上萊衣獻酒卮。
願祝一在添一歲,
年年長慶賞花時。

Huyên hoa
Bắc đường thảo thụ phát tân chi,
Đường thượng Lai Y hiến tửu chi.
Nguyện chúc nhất tại thiêm nhất tuế,
Niên niên trường khánh thưởng hoa thì.

Lâm chung thi

臨終詩
生在陽間有散場,
死歸地府也何妨。
陽間地府俱相似,
只當漂流在異鄉。

Lâm chung thi
Sinh tại dương gian hữu tán trường,
Tử quy địa phủ dã hà phương?
Dương gian địa phủ câu tương tự,
Chỉ đáng phiêu lưu tại dị hương.

Dịch nghĩa
Sống ở trên dương gian cũng có lúc phải kết thúc,
Chết về địa phủ có gì ngăn trở nữa?
Dương gian và địa phủ đều giống nhau vậy,
Chỉ có khác là phiêu lưu ở nơi khác nhau mà thôi.

Mỹ nhân đối nguyệt

美人對月
斜髻嬌娥夜臥遲,
梨花風靜鳥栖枝。
難將心事和人說,
說與青天明月知。

Mỹ nhân đối nguyệt
Tà kết kiều nga dạ ngoạ trì,
Lê hoa phong tĩnh điểu thê chi.
Nan tương tâm sự hoà nhân thuyết,
Thuyết dữ thanh thiên minh nguyệt tri.

Dịch nghĩa
Người con gái đẹp, búi tóc xiên lệch, đêm ngần ngại chưa nằm xuống,
Gió lặng, chim đậu lên cành hoa lê.
Tâm sự trong lòng khó đem nói cùng người,
Đành nói với trăng sáng trên trời.

Ngã ái thu hương

我愛秋香
我畫藍江水悠悠,
愛晚亭上楓葉愁。
秋月溶溶照佛寺,
香煙裊裊繞經樓。

Ngã ái thu hương
Ngã hoạ lam giang thuỷ du du,
Ái vãn đình thượng phong diệp sầu.
Thu nguyệt dung dung chiếu phật tự,
Hương yên diểu diểu nhiễu kinh lâu.

Dịch nghĩa
Ta vẽ trên sông biếc dòng nước xa xa
Yêu cảnh trên đình lúc buổi chiều, lá phong buồn bã
Trăng thu chan hoà chiếu soi chùa Phật
Khói thơm mờ mịt vấn vương bên lầu kinh

Ngôn chí

言志
不煉金丹不坐禪,
不為商賈不耕田。
閒來寫就青山賣,
不使人間造孽錢!

Ngôn chí
Bất luyện kim đan bất toạ thiền,
Bất vi thương cổ bất canh điền.
Nhàn lai tả tựu thanh sơn mại,
Bất sử nhân gian tạo nghiệt tiền!

Dịch nghĩa
Không luyện kim đan không toạ thiền
Không buôn bán cũng không cày ruộng
Khi nhàn rỗi vẽ núi xanh đem bán
Không khiến cho người đời tạo ra đồng tiền oan nghiệt

Nhất thế ca

一世歌
人生七十古來少,
前除幼年後除老。
中間光景沒多時,
又有炎霜與煩惱。
花前月下得高歌,
急須滿把金樽倒。
世上錢多賺不盡,
朝裏官多做不了。
官大錢多心轉憂,
落得自家頭白早。
春夏秋冬捻指間,
鍾送黄昏雞報曉。
請君細點眼前人,
一年一度埋芳草。
草里高低多少墳,
一年一半無人掃。

Nhất thế ca
Nhân sinh thất thập cổ lai thiểu,
Tiền trừ ấu niên hậu trừ lão.
Trung gian quang cảnh bất đa thời,
Hựu hữu viêm sương dữ phiền não.
Hoa tiền nguyệt hạ đắc cao ca,
Cấp tu mãn bả kim tôn đảo.
Thế nhân tiền đa trạm bất tận,
Triều lý quan đa tố bất liễu.
Quan đại tiền đa tâm chuyển ưu,
Lạc đắc tư gia đầu bạch tảo.
Xuân hạ thu đông niệp chỉ gian,
Chung tống hoàng hôn kê báo hiểu.
Thỉnh quân tế điểm nhãn tiền nhân,
Nhất niên nhất độ mai phương thảo.
Thảo lý cao đê đa thiểu phần,
Nhất niên nhất bán vô nhân tảo.

Dịch nghĩa
Xưa nay người sống bẩy mươi tuổi ít có
Trước trừ tuổi thơ sau trừ tuổi già
Khoảng thời gian ở giữa chẳng nhiều
Lại còn có nắng mưa và sầu não
Nay được cao ca trước hoa dưới trăng
Hãy nghiêng nhanh đầy chén vàng
Người đời tiền nhiều thu lắm lời
Quan trong triều có nhiều không có vui thế này
Quan to tiền nhiều lòng thêm lo lắng
Rốt cuộc đầu bạc sớm
Năm tháng qua nhanh vùn vụt
Chuông tiễn hoàng hôn gà báo sáng
Mời bạn hãy điểm xem người trước mắt
Năm nào cũng có người vùi dưới lớp cỏ thơm
Phần mộ là những ô cỏ thấp cao
Hằng năm có đến một nửa không người tảo mộ

Thất thập từ

七十詞
人生七十古稀,
我年七十為奇,
前十年幼少,
後十年衰老,
中間只有五十年,
一半又在夜裡過了,
算來只有二十五年在世,
受盡多少奔波煩惱。

Thất thập từ
Nhân sinh thất thập cổ hy,
Ngã niên thất thập vi kỳ.
Tiền thập niên ấu thiếu,
Hậu thập niên suy lão.
Trung gian chỉ hữu ngũ thập niên,
Nhất bán hựu tại dạ lý quá liễu.
Toán lai chỉ hữu nhị thập ngũ niên tại thế,
Thụ tận đa thiểu bôn ba phiền não.

Tuyệt bút thi

絕筆詩
一日兼他兩日狂,
已過三萬六千場。
他年新識如相問,
只當飄流在異鄉。

Tuyệt bút thi
Nhất nhật kiêm tha nhất nhật cuồng,
Dĩ qua tam vạn lục thiên trường.
Tha niên tân thức như tương vấn,
Chỉ đáng phiêu lưu tại dị hương.

Dịch nghĩa
Một ngày cuồng gấp hai ngày người khác
Đã trải ba vạn sáu nghìn cuộc
Năm nào người mới biết có hỏi đến
Chỉ là đang phiêu lưu ở quê khác

Xương Môn tức sự

閶門即事
世間樂土是吳中,
中有閶門更擅雄。
翠袖三千樓上下,
黄金百萬水西東。
五更市賣何曾絕,
四遠方言總不同。
若使畫師描作畫,
畫師應道畫難工。

Xương Môn tức sự
Thế gian lạc thổ thị Ngô Trung,
Trung hữu Xương Môn cánh thiện hùng.
Thuý tụ tam thiên lâu thượng hạ,
Hoàng kim bách vạn thuỷ tây đông.
Ngũ canh thị mại hà tằng tuyệt,
Tứ viễn phương ngôn tổng bất đồng.
Nhược sử hoạ sư miêu tác hoạ,
Hoạ sư ưng đạo hoạ nan công.

Dịch nghĩa
Đất Ngô Trung vui nhất ở trên đời
Trong đó cửa Xương Môn lại đứng đầu
Ba nghìn tay áo xanh lầu trên lầu dưới
Trăm vạn vàng qua lại đông tây trên sông
Năm canh mua bán không hề dứt
Người bốn phương xa tiếng nói khác nhau
Nếu để cho hoạ sư theo đó mà vẽ
Hoạ sư phải thốt lên: vẽ khó

Xương xương từ

倀倀詞
倀倀莫怪少時年,
百丈游絲易惹牽。
何歲逢春不惆悵,
何處逢情不可憐。
杜曲梨花杯上雪,
灞陵芳草夢中煙。
前程兩袖黃金淚,
公案三生白骨禪。
老後思量應不悔,
衲衣持鉢院門前。

Xương xương từ
Xương xương mạc quái thiếu thời niên,
Bách trượng du ty nhị nhạ khiên.
Hà tuế phùng xuân bất trù trướng?
Hà xứ phùng tình bất khả liên?
Đỗ Khúc lê hoa bôi thượng tuyết,
Bá Lăng phương thảo mộng trung yên.
Tiền trình lưỡng tụ hoàng kim lệ,
Công án tam sinh bạch cốt thiền.
Lão hậu tư lường ưng bất hối,
Nạp y trì bát viện môn tiền.

Dịch nghĩa
Đừng trách tuổi ngờ nghệch thời trẻ
Trăm trượng tơ du ty dễ vương vấn
Năm nào gặp xuân mà không buồn buồn?
Nơi nào gặp tình mà không thương thương
Ở Đỗ Khúc hoa lê tuyết trên chén
Ở Bá Lăng cỏ thơm giấc mộng trong sương khói
Tiền đồ vàng hết có hai tay áo và nước mắt
Công án ba sinh chẳng qua chỉ là một đống xương trắng
Đến khi già nghĩ đến không thấy hối
Mặc áo cà sa cầm bát đứng trước cửa hành viện

Đường Bá Hổ là một nhà thơ nổi tiếng và là người Ngô Huyện. Năm 29 tuổi ông thi hương và đỗ giải nguyên. Sau đó ông du ngoạn khắp nơi, sống bằng thư họa, và cũng có thể xem là sinh hoạt phóng túng. Bên cạnh các sáng tác thơ ca ông còn vẽ tranh sơn thủy và cũng chính là một thư họa kiệt xuất đời Minh.

so1vn - Tags: