Đoàn Thuyền Đánh Cá là một tác phẩm nổi tiếng của nhà tho Huy Cận được sáng tác vào năm 1958, bài thơ ca ngợi cuộc sống của người lao động miền biển dù mệt nhọc, khó khăn nhưng trong họ luôn tràn ngập sự hăng sai, phấn khởi.

Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá được nhà thơ Huy Cận sáng tạo trong việc xây dựng hình ảnh bằng liên tưởng, tưởng tượng phong phú, độc đáo; có âm hưởng khỏe khoắn, hào hùng,lạc quan.

Đoàn Thuyền Đánh Cá

Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then, đêm sập cửa.
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,
Câu hát căng buồm cùng gió khơi.

Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng,
Cá thu biển Đông như đoàn thoi
Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng.
Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!

Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng,
Ra đậu dặm xa dò bụng biển,
Dàn đan thế trận lưới vây giăng.

Cá nhụ cá chim cùng cá đé,
Cá song lấp lánh đuốc đen hồng,
Cái đuôi em quẫy trăng vàng choé,
Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long.

Ta hát bài ca gọi cá vào,
Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao,
Biển cho ta cá như lòng mẹ,
Nuôi lớn đời ta tự buổi nào.

Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng,
Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng,
Vảy bạc đuôi vàng loé rạng đông,
Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng.

Câu hát căng buồm với gió khơi,
Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời.
Mặt trời đội biển nhô màu mới
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.

Hồng Gai, 4-10-1958

I. Đôi nét về tác giả Huy Cận

Nhà thơ Huy Cận sinh năm 1919, mất năm 2005, tên khai sinh là Cù Huy Cận. Ông quê ở Hà Tĩnh.

Huy Cận là một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ Mới. Là nhà thơ tiêu biểu cho nền thơ hiện đại Việt Nam từ sau năm 1945:

+ Trước Cách mạng tháng Tám,thơ ông giàu chất triết lí, thấm thía bao nỗi buồn, tràn ngập cái sầu nhân thế.

+ Sau Cách mạng, thơ Huy Cận dạt dào niềm vui, là bài ca vui về cuộc đời, là bài thơ yêu thiên nhiên, con người và cuộc sống.

-1996,ông được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học-nghệ thuật.

-Tác phẩm tiêu biểu:Lửa thiêng(1940);Vũ trụ ca(1942);Trời mỗi ngày lại sáng(1958);Đất nở hoa(1960);Bài thơ cuộc đời(1963);Hai bàn tay em(1967)…

II. Tác phẩm Đoàn Thuyền Đánh Cá

1. Hoàn cảnh sáng tác

Bài thơ được sáng tác vào giữa năm 1958, khi cuộc kháng chiến chống Pháp đã kết thúc thắng lợi, miền Bắc được giải phóng và bắt tay vào công cuộc xây dựng cuộc sống mới. Niềm vui dạt dào tin yêu trước cuộc sống mới đang hình thành, đang thay da đổi thịt đã trở thành nguồn cảm hứng lớn của thơ ca lúc bấy giờ.

Nhiều nhà thơ đã đi tới các miền đất xa xôi của Tổ quốc để sống và để viết: miền núi, hải đảo, nhà máy, nông trường…Huy Cận có chuyến đi thực tế dài ngày ở vùng mỏ Quảng Ninh. Từ chuyến đi ấy, hồn thơ của ông mới thực sự nảy nở trở lại và dồi dào cảm hứng về thiên nhiên đất nước, về lao động và niềm vui trước cuộc sống mới.

– Bài “Đoàn thuyền đánh cá” được sáng tác trong thời gian ấy và in trong tập thơ “Trời mỗi ngày lại sáng”(1958).

2. Bố cục bài thơ

Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá gồm 7 khổ, được chia thành 3 phần:

Phần 1: gồm 2 khổ đầu: Hai khổ đầu: Cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi lúc hoàng hôn buông xuống.

Phần 2: gồm bốn khổ tiếp: Cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển trong một đêm trăng rất đẹp.

Phần 3: gồm khổ thơ cuối: Cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về khi bình minh đã rạng ngời trên biển.

3. Cảm nhận về bài thơ Đoàn thuyền đánh cá

Mở đầu bài thơ là cảnh đoàn thuyền ra khơi lúc hoàng hôn:

“Mặt trời xuống biển như hòn lửa

Sóng đã cài then,đêm sập cửa

Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,

Câu hát căng buồm cùng gió khơi.”

Bốn câu thơ ngắn gọn, cân đối như một bài tứ tuyệt: hai câu đầu tả cảnh, hai câu sau nói về con người. Cảnh và người tưởng như đối lập song lại hòa hợp, cảnh làm nền để cho hình ảnh con người nổi bật lên như tâm điểm của một bức tranh – bức tranh lao động khỏe khoắn, vui tươi tràn ngập âm thanh và rực rỡ sắc màu.

Hai câu thơ miêu tả bức tranh hoàng hôn trên biển vô cùng sinh động:

“Mặt trời xuống biển như hòn lửa

Sóng đã cài then, đêm sập cửa”.

Hai câu thơ miêu tả chi tiết hình ảnh mặt trời lặn xuống biển “như hòn lửa” Mặt trời xuống biển nhưng dường như không tàn lụi, không tắt. Nó như hòn lửa – một quả cầu lửa– đỏ rực, khổng lồ chìm vào đáy nước đại dương.

Câu thơ với việc sử dụng phép so sánh tạo nên bức tranh hoàng hôn chiều tối vô cùng rực rỡ.

Câu thơ: “Sóng đã cài then đêm sập cửa” với việc sử dụng phép nhân hóa, ẩn dụ mang đến cho người đọc cảm nhận được sự bao la, rộng lớn của vũ trụ, thiên nhiên như đi vào trạng thái tĩnh lặng. Hình ảnh thơ cho thấy sự gần gũi, hòa hợp giữa con người và thiên nhiên. Với con người, biển cả chính là ngôi nhà, là cuộc sống của ngư dân.

“Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi

Câu hát căng buồm cùng gió khơi.

Nhạc điệu trong hai câu thơ trên vô cùng khỏe khoắn, vui tươi thể hiện sức lao động của con người làm cả ngày cả đêm, không kể thời gian. Đoàn thuyền lại ra khơi là sự nhịp nhạc, không bao giờ ngừng ngủ. Chữ ” lại” cho ta hiểu hơn hoạt động ra khơi đánh cá là một hoạt động thường xuyên diễn ra của người dân vùng biển.

“Câu hát căng buồm cùng gió khơi” là hình ảnh ẩn dụ mang tính chất khoa trương. Tiếng hát khỏe khoắn tiếp sức cho gió làm căng cánh buồm. Tiếng hát ấy, làm nổi bật khí thế hồ hởi của người lao động trong buổi xuất quân chinh phục biển cả…

Tiếng hát ấy còn thể hiện niềm mong ước của người đánh cá: mong ước một chuyến ra khơi đánh bắt được thật nhiều hải sản, nhiều cá tôm giữa sự giàu đẹp của biển khơi:

“ Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng,

Cá thu biển Đông như đoàn thoi

Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng,

Đến dệt lưới ta,đoàn cá ơi!”

Ở phần 2 của bài thơ miêu tả cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển trong một đêm trăng rất đẹp. Giúp ta hiểu hơn về niềm vui, niềm phấn chấn khi con người làm chủ cuộc đời, làm chủ biển trời quê hương.

“Thuyền ta lái gió với buồm trăng

Lướt giữa mây cao với biển bằng”

“Ra đậu dặm xa dò bụng biển

Dàn đan thế trận lưới vây giăng”.

Con thuyền giữa biển cả mênh mông vô cùng nhỏ bé, nhưng khi lọt vào thơ Huy Cận thì con thuyền ấy trở nên to lớn, kì vĩ biết bao. Con thuyền trong thơ Huy Cận xuất hiện với hình ảnh: Thuyền có gió làm bánh lái, có trăng làm cánh buồm, lướt giữa mây cao với biển bằng, giữa mây trời và sóng nước.

Chủ nhân của những chiếc thuyền này là những người đân lao động. Hình ảnh con người đã hòa nhập với kích thước rộng lớn của thiên nhiên vũ trụ. Không chỉ vậy, họ còn nổi bật ở vị trí trung tâm – ra tận khơi xa dò bụng biển, tìm luồng cá, dàn đan thế trận,bủa lưới vây giăng. Người lao động làm việc với tất cả lòng dũng cảm, sự hăng say, trí tuệ nghề nghiệp, tâm hồn phơi phới.

Cá nhụ cá chim cùng cá đé

Cá song lấp lánh đuốc đen hồng.

Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe

Với tinh thần lao động hăng say đó, thì kết quả lao động đạt được vô cùng to lớn đó là những mẻ cá nhu, cá chim, cá đé, cá song, cá đuôi em…Với việc sử dụng biện pháp liệt kê tạo nên một bức tranh lao động với đầy đủ màu sắc. Mỗi loài cá là một kiểu dáng, một màu sắc.

“Đêm thở :sao lùa nước Hạ long”

Cảnh đẹp không chỉ ở màu sắc, ánh sáng, mà còn ở âm thanh.Nhìn bầy cá bơi lội, nhà thơ lắng nghe tiếng sóng vỗ rì rầm:

Bằng nghệ thuật ẩn dụ kết hợp nhân hóa, biển cả như một sinh thể sống động. Tiếng sóng vỗ dạt dào dâng cao hạ thấp là nhịp thở trong đêm của biển. Thế nhưng nhà thơ lại viết “Đêm thở:sao lùa nước Hạ Long”.

Ta hát bài ca gọi cá vào

Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao

Biển cho ta cá nhưl òng mẹ

Nuôi lớn đời ta tự buổi nào.

Với bút pháp lãng mạn và trí tưởng tượng phong phú, HUy cận đã tạo nên những hình ảnh thơ thật đẹp, khiến cho hình ảnh lao động mệt nhọc trở thành bài ca đầy niềm vui.

“Gõ thuyền” là công việc thực của người đánh cá, nhưng cái độc đáo ở đây là vầng trăng được nhân hóa, tham gia lao động cùng con người. Người dân chài hát bài ca gọi cá, bài ca về lòng biết ơn mẹ biển giàu có, nhân hậu.
Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng

Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng

Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông

Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng.

Sao mờ, đêm tàn cũng là lúc người dân chài kéo lưới kịp trời sáng. Cảnh kéo lưới, bắt cá được miêu tả vừa chân thực, vừa đầy chất thơ với không khí khẩn trương, gấp gáp. Có thể nói, cảnh lao động đánh cá trên biển như bức tranh sơn mài rực rỡ. Người kéo lưới là trung tâm của cảnh được khắc họa rất độc đáo với thân hình gân guốc, chắc khỏe cùng thành quả thu về “vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông”. Màu hồng của bình minh làm ấm sáng bức tranh lao động. Thiên nhiên và con người cùng nhịp nhàng trong sự vận hành của vũ trụ.

Ở phần cuối của bài thơ miêu tả cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về khi bình minh đã rạng ngời trên biển.

Câu hát căng buồm với gió khơi,

Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời.

Mặt trời đội biển nhô màu mới

Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.

Câu đầu của khổ thơ lặp lại gần như nguyên vẹn câu cuối của khổ thứ nhất, chỉ thay có một từ ( từ “với”) đem đến kết cấu đầu – cuối tương ứng, tạo sự hài hòa cân đối.

Cấu trúc lặp lại ấy trở thành điệp khúc ngân nga, nhấn mạnh niềm vui lao động làm giàu đẹp quê hương và khắc họa đậm nét vẻ đẹp khỏe khoắn cùng niềm vui phấn khởi của người ngư dân.

Câu thơ kết bài vừa mang ý nghĩa tả thực, vừa khiến người đọc liên tưởng tới một tương lai tươi sáng, huy hoàng: “Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi”. Ngày mới bắt đầu – thành quả

4. Kết bài

Bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” đã khắc họa nhiều hình ảnh đẹp tráng lệ thể hiện sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người lao động, bộc lộ niềm vui, niềm tự hào của nhà thơ trước đất nước và cuộc sống.

Bài thơ có nhiều sáng tạo trong việc xây dựng hình ảnh bằng liên tưởng, tưởng tượng phong phú, độc đáo; có âm hưởng khỏe khoắn, hào hùng,lạc quan.

Đoàn thuyền đánh cá là một bài thơ nổi tiếng của Huy Cận miêu tả bức tranh thiên nhiên biển cả vô cùng rộng lớn và mênh mông. Trên bức tranh ấy, tâm điểm chính là những ngư dân đánh cá, họ lao động hăng say, quên đi mệt nhọc để mang đến thành quả lao động vô cùng lớn lao. Với bút pháp lãng mạn, nhà thơ Huy cận càng làm cho hình ảnh con người và thiên nhiên thêm hài hòa và gắn kết với nhau hơn.