BST Những Bài Thơ Ấn Tượng Của Bùi Xương Tự



Bùi Xương Tự được biết đến là nhà thơ xuất thân từ thời Hậu Lê, Mạc, Trịnh – Nguyễn. Ông nổi tiếng với kho tàng thơ đặc sắc, ấn tượng. Thơ ông sáng tác rất phong phú có cả thơ nôm lẫn thơ hán. Các bài thơ của ông thường ca ngợi những danh lam thắng cảnh đẹp của đất nước, thơ ông rất trong sáng , lối thơ vô cùng bình dị vì thế được nhiều người mến mộ. Hãy cùng uct.edu.vn tìm hiểu về những tác phẩm nổi bật của nhà thơ Bùi Xương Tự nhé!

I. Tìm Hiểu Về Nhà Thơ Bùi Xương Tự

Bùi Xương Tự 裴昌嗣 (1656-1728) hiệu Túc Trai, người làng Thịnh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội, là ông nội của nhà văn Bùi Huy Bích (tác giả Hoàng Việt thi văn tuyển). Thuở nhỏ ông học rất giỏi, năm 22 tuổi thi Hương đỗ tứ trường, song thi Hội ba lần đều không đỗ. Thời bấy giờ ông nổi tiếng về tài làm thơ, sáng tác cả Nôm lẫn Hán, nay còn lại một số bài ghi trong Hoàng Việt thi tuyển, Bùi thị gia phả. Riêng về thơ Nôm ông chỉ còn để lại 16 bài chép trong sách Bùi thị gia phả (Thư viện Hán Nôm, ký hiệu A640). Các bài thơ này dường như có chung chủ đề là cơ ngợi danh lam thắng tích, nơi ông đã từng sống và làm việc, trong đó, 9 bài sáng tác khoảng năm 1687-1689 khi ông làm Huấn đạo phủ Nam Sách; 4 bài sáng tác trong những năm 1699-1706, khi ông giữ chức Tri phủ Nghĩa Hưng; 1 bài viết năm 1707 khi ông được thăng chức Hiến sát phó trấn Thanh Hoa; 2 bài viết năm 1715 khi ông phụng mệnh đi công cán ở trấn Sơn Nam Hạ.

Thơ ông viết rất trong sáng, lời lẽ bình dị, ít dùng điển cố. Đọc lại thơ Nôm Bùi Xương Tự, chúng ta không chỉ được thưởng thức những câu thơ hay, những tứ thơ lạ, mà còn tìm được những cứ liệu quí giá để nghiên cứu lịch sử tiếng Việt. Chẳng hạn từ “song viết” đến cuối thế kỷ 17 còn thấy Bùi Xương Tự sử dụng. Điều đáng lưu ý hơn là tiếng “viết” trong từ “song viết” lại được dùng để hiệp vận trong bài thơ vần trắc “Cửa Đạt”, v.v…

II. Chùm Thơ Đặc Sắc Của Bùi Xương Tự 

Nổi tiếng với tài làm thơ, sáng tác cả nôm lẫn hán, Bùi Xương Tự sở hữu cho mình một kho tàng thơ xuất sắc. Hôm nay uct.edu.vn sẽ cùng các bạn khám phá những bài thơ làm nên tên tuổi của ông nhé!

Bến Hới

Giang sơn thành thị đã từng tới
Cũng hữu tình thay bến Hới.
Con gái mua dâu giỏ đã đầy,
Đứa đò chèo khách thuyền còn đợi.
Chiếu hoa phong dặm liẽu phan phan,
Buồn lá tếch duềnh la phới phới.
Đón thấy bè Trương thử hỏi xem,
Cõi thần tiên ấy thanh chăng hỡi.

Bài thơ làm trong thời kỳ làm Huấn đạo phủ Nam Sách.
Nguồn: Thơ Nôm Bùi Xương Tự, Nguyễn Đăng, Tạp chí Hán Nôm, số 1/1986

Bồng Châu

Càng ngẫm càng nhìn hãy chửa no,
Cảnh nào hơn nữa cảnh Bồng Châu.
Hoa mừng xuân tới hoa phô gấm,
Mai đượm sương nhuần lá điểm châu.
Vơ giỏ chiều ai nàng Chức Nữ,
Trưa cày vì chúa đứa nông phu.
Ước đâu mượn được tài tay thợ,
Một bức đan thanh ướm vẽ đồ.

Bài thơ làm trong thời kỳ làm Huấn đạo phủ Nam Sách.
Nguồn: Thơ Nôm Bùi Xương Tự, Nguyễn Đăng, Tạp chí Hán Nôm, số 1/1986

Cửa Đạt

Cảnh thanh mát thú càng thanh mát,
Mọi cửa đều thông danh cửa Đạt.
Sóng lẩn đầu ghềnh thuở gió doi,
Khói loà mặt nước khi sương toát.
Thanh thơi bến liễu tiện vào ra,
Ngang dọc thuyền lan dầu cậy bát.
Bờ cõi văng băng chẳng cấm ngăn,
Mặc ai chiếm lấy làm song viết.

Bài thơ làm trong thời kỳ làm Huấn đạo phủ Nam Sách.
Nguồn: Nguyễn Đăng, “Thơ Nôm Bùi Xương Tự”, Tạp chí Hán Nôm, số 1/1986

Cửa Lục

Chợt đến đây rằng cửa Lục,
Tứ bề lộng lộng đường ngang dọc.
Nước in màu thước tựa trăng trời,
Bụt nhuộm hơi sương lồng vẻ ngọc.
Xuôi ngược dầu ai chẳng cấm ngăn,
Vào ra mặc khách đà quen thuộc.
Một chiều trong sạch vốn xưa nay,
Tả hết mọi mùa cạn trọc.

Bài thơ làm trong thời kỳ làm Huấn đạo phủ Nam Sách.
Nguồn: Thơ Nôm Bùi Xương Tự, Nguyễn Đăng, Tạp chí Hán Nôm, số 1/1986

Đề Bình Phong sơn tự (Đề chùa núi Bình Phong) kỳ 1

Một chụm lâu đài thế giới tiên,
Cõi ngoài trần tục dám so phen.
Hoa lồng mùi đạo thơm muôn lộc,
Nước gội nguồn nhân tả mọi phiền.
Kinh mấy quyển in gieo phép bụt,
Chuông và hồi gióng tỏ cơ thiền.
Tri âm chẳng lo tìm đâu nữa,
Nọ trúc kia thông ấy bạn quen.

Nguyên chú (nguyên văn bằng chữ Hán): Túc núi Nam Bảo Đài, ở xã Động Mã, huyện Vọng Doanh, trên núi có suối nước ngọt chảy ra không bao giờ cạn, tục gọi là chùa Suối.
Bài thơ làm trong thời kỳ làm Tri phủ phủ Nghĩa Hưng.

Nguồn: Thơ Nôm Bùi Xương Tự, Nguyễn Đăng, Tạp chí Hán Nôm, số 1/1986

Đề Bình Phong sơn tự (Đề chùa núi Bình Phong) kỳ 2

Một khuôn ai dựng giữa bầu trời,
Cảnh giới so xem chỉn khác vời.
Muôn pháp nhơn nhơn nhuần mọi đỉnh,
Nguồn nhân cuộn cuộn dõi muôn đời.
Cửa từ nền phúc vang vang rộng,
Biển đức bia cong rở rờ bài.
Dầu bụt dầu tiên đây ấy cũng,
Sá chi tìm tới chốn Bồng Lai.

Bài thơ làm trong thời kỳ làm Tri phủ phủ Nghĩa Hưng.

Nguồn: Thơ Nôm Bùi Xương Tự, Nguyễn Đăng, Tạp chí Hán Nôm, số 1/1986

Đề Tiên Sơn tự (Đề chùa Tiên Sơn)

Đề Tiên Sơn tự (Đề chùa Tiên Sơn)
Thơ » Việt Nam » Hậu Lê, Mạc, Trịnh-Nguyễn » Bùi Xương Tự

☆☆☆☆☆
Chưa có đánh giá nào
Thể thơ: Thất ngôn bát cú
Thời kỳ: Hậu Lê, Mạc, Trịnh-Nguyễn
Chia sẻ trên Facebook
Trả lời
In bài thơ
Một số bài cùng tác giả
– Đề Bình Phong sơn tự (Đề chùa núi Bình Phong) kỳ 1
– Cửa Đạt
– Thần Phù
– Bồng Châu
– Giao Thuỷ thị (Chợ Giao Thuỷ)
Đăng bởi Vanachi vào 24/09/2008 20:55

Côi Sơn triền đặt hiệu Tiêu Sơn,
Thanh lạ qua ưa khác thế gia.
Gác báu đỉnh đang hồi khánh nện,
Rừng thiền inh ỏi chậu ve đàn.
Mừng xuân mấy đoá hoa phô gấm,
Ngăn tục đòi hàng liễu phủ màn.
Tiểu hỡi: “Cảnh này ai khéo dựng?”,
Thưa rằng: “Tạo vật vốn khai đoan”.

Nguyên chú (nguyên văn bằng chữ Hán): Chùa ở làng Côi Sơn, huyện Thiên Bản.

Bài thơ làm trong thời kỳ làm Tri phủ phủ Nghĩa Hưng.

Nguồn: Thơ Nôm Bùi Xương Tự, Nguyễn Đăng, Tạp chí Hán Nôm, số 1/1986

Hoàng Đạo tuần (Điếm tuần Hoàng Đạo)

Chịu mệnh đòi phen việc phụng sai,
Tới đây cảnh cũ hay an bài.
Cờ trương bến liễu lễ cơ xét,
Buồn thuận thuyền lan khách vãng lai.
Chim vẹt thung thăng mừng trước mắt,
Cánh gà inh ỏi dắng bên tai.
Giang hồ thú ấy dầu thong thả,
Mặc kẻ buông câu kẻ vãi chài.

Bài thơ làm trong thời kỳ phụng mệnh đi công cán Sơn Nam Hạ.

Nguồn: Thơ Nôm Bùi Xương Tự, Nguyễn Đăng, Tạp chí Hán Nôm, số 1/1986

Kênh Hai

Cuộn cuộn duềnh la một dải dài,
Khen ai khéo đặt hiệu Kênh Hai.
đầy vơi đòi thuở ưa chiều nước,
Xuôi ngược đôi bờ đẹp thích ai.
Dan díu liễu hoa cầu mượn nhịp,
Thanh thơi phong nguyệt cửa quên cài.
Vật vờ loài mọn nào thông kể,
Trong sạch là lòng vốn chẳng sai.

Bài thơ làm trong thời kỳ làm Huấn đạo phủ Nam Sách.

Nguồn: Thơ Nôm Bùi Xương Tự, Nguyễn Đăng, Tạp chí Hán Nôm, số 1/1986

Mỹ Côi tự thuật (Tự thuật cảnh Mỹ Côi)

Thu mảng tin xuân báo hạn lành,
Cảnh thanh chiều khách mới càng thanh.
Quải hàng thông nhuộm xanh pha tán,
Chiếm bảng mai khoe bạc rỡ cành
Mòn ráng phủ thơm phong tám bức,
Đèn trăng khôn rạng suốt năm canh.
Chén dâng kính chúc hoàng vương thọ
Tuổi sánh Nam sơn ví lão Bành.

Nguyên dẫn (nguyên văn bằng chữ Hán): Ta vâng lệnh triều đình làm lễ báo công. Lúc này bầu trời trong sáng, cảnh tượng hiền hoà. Mù tan gió lặng, trăng sáng sao trong. Đỉnh núi chót vót, cây cối sum suê. Mai khoe hương tuyết, thông rợp tán mây. Sách vở đầy nhà, thú vui không kể. Bốn vẻ đẹp đủ đầy, bảy vần thơ gợi mở.
Bài thơ làm trong thời kỳ làm Tri phủ phủ Nghĩa Hưng.
Nguồn: Thơ Nôm Bùi Xương Tự, Nguyễn Đăng, Tạp chí Hán Nôm, số 1/1986

Ngã Ba Nông

Vẳng vẳng kìa đâu tiếng trống rung,
Vốn danh gọi đấy ngã ba Nông.
Chợ hoè mọi vật chan chan họp,
Bến liễu tư mùa lẻo lẻo trong.
Nhè nhẹ thuyền tiên đôi cánh gió,
Đùn đùn am bụt mấy hàng thông.
Thanh thơi thế mấy chàng ngư phủ,
Lộc nước thừa lưa vẫn chẳng cùng.

Bài thơ làm trong thời kỳ làm Huấn đạo phủ Nam Sách.

Nguồn: Thơ Nôm Bùi Xương Tự, Nguyễn Đăng, Tạp chí Hán Nôm, số 1/1986

Phúc Lâm tự (Chùa Phúc Lâm)

Thế giới ba ngàn mở phạn cung,
Xui người nhân hứng thuở thung dung.
Gió thiền giúp quạt xen rung lá,
Trăng bụt thay đèn quế nở bông.
Réo rắt mừng chào con Phật điểu,
Thuôn chân ngại tiếp đứa tăng đồng.
Tầng tầng sớm dậy chân dời bước,
Lòng hãy đeo đai bạn trúc thông.

Bài thơ làm trong thời kỳ làm Huấn đạo phủ Nam Sách.

Nguồn: Thơ Nôm Bùi Xương Tự, Nguyễn Đăng, Tạp chí Hán Nôm, số 1/1986

Thần Phù

Từng trải Nam thiên khắp quận chu,
Đâu vui hơn nữa cảnh Thần Phù.
Cỏ hoa sặc sỡ ngàn tầng gấm,
Mây khói lao xao một thức mù.
Triều dẫy duềnh sông tuôn cuộn cuộn,
Mưa chan sườn núi chảy u u.
Chàng Từ ả Giáng đôi duyên hợp,
Nấy tới nay đà biết mấy thu.

Bài thơ làm trong thời kỳ giữ chức hiến phó Sứ trấn Thanh Hoa.

Nguồn: Thơ Nôm Bùi Xương Tự, Nguyễn Đăng, Tạp chí Hán Nôm, số 1/1986

Tự Nhiên Châu

Giữa trời chia một cảnh tự nhiên,
Một điềm trần ai chẳng bá men.
Làng hạnh y y mây lẫn khói,
Duềnh ngân rệt rệt nước đường quyên.
Thừa phong bé bé và gian điếm.

Khắp mặt ngư ông mà thử hỏi,
Thú này bao nữa thú Đào Nguyên.

Bài thơ làm trong thời kỳ làm Huấn đạo phủ Nam Sách.

Nguồn: Thơ Nôm Bùi Xương Tự, Nguyễn Đăng, Tạp chí Hán Nôm, số 1/1986

Vạn Công

Tằng tằng vừa mảng tiếng thôi chung,
Thoắt thoắt rằng đà tới Vạn Công.
Bãi Sở ngàn Tương chăng cấm đoán,
Vòng câu tay lưới dễ phao tung.
Đón trăng cầu nọ rèm dầu hí,
Thuận gió buồm kia cánh hãy dùng.
Thấy cảnh ngâm chơi thơ vịnh cảnh,
Câu thiêng mắc bởi thế bung tung.

Bài thơ làm trong thời kỳ làm Huấn đạo phủ Nam Sách.

Nguồn: Thơ Nôm Bùi Xương Tự, Nguyễn Đăng, Tạp chí Hán Nôm, số 1/1986

Trên đây, uct.edu.com đã đem đến cho bạn thông tin về nhà thơ Bùi Xương Tự và kho tàng thơ phong phú đặc sắc của ông. Cảm ơn quý vị độc giả đã theo dõi bài viết của chúng tôi! 

 

so1vn - Tags: