Cao Bá Quát được biết đến là một vị quan thanh liêm, ông được nhân dân yêu quý ca ngợi về tài thơ ca. Ông có một kho tàng lớn tác phẩm được lưu danh muôn đời. Ông có những câu thơ thương vợ thương con tình cảm chân thực, ngôn ngữ mộc mạc, hình như ông không muốn vẻ đẹp của tài thơ làm mờ đi nét thực của cảm xúc.

Một số truyền thuyết muốn nhấn mạnh khí phách Cao Bá Quát đã mô tả ông có tính cách ngang tàng khinh bạc, coi nhẹ tình cảm, e không đúng. Cao Bá Quát khí phách nhưng đa cảm, đó là sự phong phú của tâm hồn ông. Sau đây, xin mời các bạn cùng uct.edu.vn tìm hiểu thêm về Cao Bá Quát nhé!

Tóm tắt nội dung

I. Nhà Thơ Cao Bá Quát

Cao Bá Quát 高伯适 (1809?-1855) tự Chu Thần 周臣, sinh tại Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội, mất giữa trận tiền Quốc Oai trong cuộc khởi nghĩa chống triều đình thời Tự Đức… Tự Đức tru di ba họ Cao Bá Quát, thu hồi tiêu huỷ văn chương ông. Nhưng ông được lòng dân bảo vệ: một rừng truyền thuyết ca ngợi tài thơ, lòng dũng cảm, trí thông minh và tinh thần thương dân yêu nước của ông. Tác phẩm của ông còn được lưu đến nay là 1353 bài thơ, 21 bài văn xuôi, một số bài ca trù và khá nhiều câu đối.
Thập tải luân giao cầu cổ kiếm
Nhất sinh đê thủ bái mai hoa
(Mười năm giao thiệp tìm gươm báu
Một đời chỉ cúi trước hoa mai)
Đôi câu đối ấy đã thâu tóm khá đầy đủ hoài bão và phẩm chất Cao Bá Quát. Lúc trẻ Cao Bá Quát cũng như trăm nghìn sỹ tử khác mong học giỏi đỗ cao để giúp đời. Trong thơ thấy rõ cái hăng hái thường tình ấy: “Trên đường công danh đã mấy ai nhàn/ Mũ lọng nhộn nhịp ta cũng đi đây”. Nhưng cũng nhận ra ngay trong cơn hăng hái trên đường đi thi ấy cái khí phách khác thường của ông:
Sóng biển trào lên như đầu bạc lô nhô
Gió giận dữ đánh chìm cả những chiếc thuyền to
Chớp giật sấm ran ai nấy đều xanh mắt,
Giữa cảnh, con chim hải âu vẫn nhởn nhơ
Sau này trong truyền thuyết về Cao nhiều giai thoại cũng vẽ nên sự bình thản của ông giữa gian lao như hải âu giữa bão: “Một chiếc cùm lim chân có đế/ Ba vòng xích sắt bước thì vương”.

Khí phách ấy bắt nguồn từ chất tâm hồn của Cao Bá Quát. Tâm hồn ấy cao rộng. Qua núi Dục Thuý: “Ta muốn trèo lên đỉnh núi cao ngất kia/ Hát vang lên để gửi tấm lòng vào mây nước”. Tâm hồn ấy giàu năng lực bên trong, chấp nhận cái khó của đường đời:
Bãi cát dài, bãi cát dài!
Bước một bước lại như lùi một bước.
Trong tình cảnh oan khốc bị giam cầm, tra tấn chỉ vì tội sửa vào bài thi cho một thí sinh có tài vô ý phạm trường quy, ông tỉnh táo và can đảm coi việc mình làm là việc thiện, mà việc thiện thì ở hoàn cảnh nào cũng nên làm. Ông coi công lý thời ấy như cái máy làm nhục người (Bài thơ tả cái cùm). Ông nhìn thẳng vào chiếc roi da đang quật nhoang nhoáng vào người mình, ông tả nó và tả chính tâm trạng mình, như một cuộc đọ sức. Cái việc tả chính xác với các chi tiết nghiêm lạnh cho thấy ai vững hơn ai:
Roi quất nhoang nhoáng bay đi liệng lại như ánh chớp.
Lúc giơ lên như hai con thuồng luồng quật vào bờ ao lở
Lúc ngừng như nước lạnh đổ vào nồi nước sôi (…)
Ở nơi góc đài những giọt sương trong cũng vì ta mà bay lên
Roi song rủ xuống thôi không hăng như trước nữa
Chắp tay đứng, ruột mềm quặn lại như cuốn vào ngón tay được.
Ông nhìn sông dài như lưỡi kiếm dựng giữa trời xanh. Ông hỏi hoa sen ngươi có hồng bằng mặt rượu của ta không? Ông thấy núi như chiếc chén xà cừ của khách say. Khí phách, tài tử như Cao Bá Quát lại là người thắm thiết tình cảm, đặc biệt tình cảm gia đình. Ông có những câu thơ thương vợ thương con tình cảm chân thực, ngôn ngữ mộc mạc, hình như ông không muốn vẻ đẹp của tài thơ làm mờ đi nét thực của cảm xúc. Một số truyền thuyết muốn nhấn mạnh khí phách Cao Bá Quát đã mô tả ông có tính cách ngang tàng khinh bạc, coi nhẹ tình cảm, e không đúng. Cao Bá Quát khí phách nhưng đa cảm, đó là sự phong phú của tâm hồn ông. Thương xót người thân và thương xót mọi người nghèo khổ, bị ức hiếp. Hãy nghe ông mời một người đói cùng ăn: “Than ôi hãy ngừng lệ/ Một bữa ta tạm mời/ Đời người như quán trọ/ Ung dung nào mấy ai/ Thong thả đừng nuốt vội/ No ứ dễ hại người”. Cao Bá Quát đã thấy nguồn gốc nỗi khổ ấy, không dễ nói thẳng ra, nhưng ông đã tìm cách nói:
Nghe nói xe Rồng vừa ngự tới
Cung vua sẵn đó lại cung vua
Tâm sự nhà nho Cao Bá Quát rối bời: “Tâm sự và tóc có chi phải so sánh vắn dài/ Đến lúc đã rối bời thì cùng rối bời như nhau”. Rối bời vì ái quốc thì không thể trung quân.

Cuối đời, những bài thơ Cao Bá Quát càng nặng trĩu nội tâm. Không chỉ buồn thương, mà có buồn thương cũng không chỉ vì thân danh mình lận đận. Hoài bão của con người một đời chỉ cúi trước hoa mai rộng xa hơn nhiều. Trước cảnh đời ngang trái ấy ông không thể làm tấm bia không chữ: “Thế sự hà kham một tự bi”. Ông phải có thái độ, nhưng thái độ ấy không thể nói trong thơ. Ông như cái hạt sen ôm tấm lòng đắng ngắt chỉ mình mình biết: “Liên tử hữu tâm tri độc khổ”. Đêm xuân đọc sách mà như đối thoại với người xưa (“Bùi ngùi xuân này ngồi đối diện với người xưa”) mà như giao lưu với vũ trụ (“Dưới có người không ngủ/ Trên có vì sao muốn rơi”). Trong bài Tiễn Nguyễn Trúc Khê ra nhận chức tại phủ Thường Tín, ý chí hành động của Cao Bá Quát đã rõ, sau khi nhắc đến Chu An, Nguyễn Trãi, ông viết:
Khách nam nhi chẳng vì thế thái
Đem thân ra đỡ lấy cương thường
Năm 1853 Cao Bá Quát đã trở thành một trong những người lãnh đạo của cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương. Bối cảnh lịch sử chưa đủ chín để cuộc khởi nghĩa thành công. Nhưng Cao Bá Quát đã trở thành hình tượng sáng chói của lớp nhà thơ hoạt động, từ thơ mà thành chiến sỹ, lấy máu để diễn tả cao nhất cảm xúc của chính mình.

II. Kho Tàng Thơ Của Cao Bá Quát

Cao Bá Quát không chỉ là một vị quan thanh liêm mà còn là một nhà thơ xuất chúng. Ông có một kho tàng thơ rộng lớn và có giá trị đến tận ngày nay. Mời quý độc giả theo dõi những tác phẩm làm nên tên tuổi của ông dưới đây!

An Quán Tảo Xuân Kỳ 1

An Quán tảo xuân kỳ 1
Tam canh chung đoạn kê y ốc,
Lạc lạc sổ gia văn bộc trúc.
Xuất môn quyện ỷ lập môn khan,
Lộ thiểu đăng hành thất hy chúc.

Dịch nghĩa
Tiếng chuông chấm dứt canh ba, xen lẫn tiếng gà gáy
Đây đó mấy nhà nghe tiếng pháo nổ
Ra cửa, mỏi mệt đứng tựa cửa ngắm nhìn
Ngoài đường ít bóng đèn đi, trong nhà hiếm thấy ánh nến

An Quán chưa rõ ở đâu.

Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập – tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004

An Quán Tảo Xuân Kỳ 2

Khách thoại đương sơ phồn thịnh thì,
Phấn tường chu hộ chiếu giang my.
Tức kim xuân tảo hàm nê yến,
Do ỷ Hồ gia môn lý phi.

Dịch nghĩa
Khách nói: thời trước còn phồn thịnh
Tường phấn trắng, cửa sơn son chiếu sáng bờ sông
Đến nay xuân sớm, chim én ngậm bùn
Còn bay quanh quẩn vào nhà họ Hồ

Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập – tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004

Ẩm tửu đắc chư hữu giai tác tức phục tẩu bút thư thị

Cố hương nhan sắc thượng y nhiên,
Nhân thế thăng trầm ngũ lục niên.
Tôn tửu nhãn trung đồng quá khách,
Cô phàm thiên phận tức phù yên.
Đình đình khuyết nguyệt như tằng ước,
Phiến phiến nguy phong chỉ tại tiền.
Hào tiếu lão điên liệt phong cảnh,
Do lai Ngao Tẩu thị Ngoan Tiên.

Dịch nghĩa
Cảnh sắc làng cũ vẫn y vậy
(Ta) nổi chìm cõi người đời năm sáu năm rồi
(Bên) chén rượu, trong mắt, cùng là khách trọ
Buồm lẻ loi trên vùng trời, ngay trong khói nổi
Vầng trăng khuyết treo cao như từng hẹn
Lớp lớp núi cao chỉ ở trước (mặt)
Kẻ rồ cười vang náo động cả cảnh vật
Thì ra ông già ương bướng lại là vị tiên ngu độn thích đùa

Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập – tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004

Bạc Mộ

Bích tiễu hiên không phong đảo xuy,
Yên thanh sương kính lậu như ty.
Đan lương trước mạn vô tàng diệu,
Bạch điểu phiên duy bất thụ ky.
Bão tất ngâm tàn nhân tự viễn,
Ỷ lâu tâm tại ngã ưng tri.
Tảo mai vãn cúc tung sơ phóng,
Dã khán dao dao hữu kỷ chi.

Dịch nghĩa
Gió thổi ngược trên vách núi cao chót vót
Khói trong sương đậm nhỏ từng giọt như sợi tơ
Đom đóm lập loè không giấu ánh sáng
Muỗi bay lọt vào màn, chẳng bị đói
Bó gối hết hứng ngâm nga, người tự thấy xa vời
Tấm lòng tựa gác lầu, ta nên nhận biết
Mai sớm, cúc muộn tung nở lưa thưa
Cũng thấy rung rinh có mấy cành

Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập – tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004

Bạc Mộ Tư Gia

Thành thượng đống vân thiên lý âm,
Lương viên hoa liễu mạc trầm trầm.
Cao đường lưỡng xứ tư nhi lệ,
Bạc hoạn tam xuân cảm cựu tâm.
Đối tháp bần thê phanh bắc mính,
Xao môn tiểu nữ lộng nam âm.
Bang gia hữu đạo tri hà dụng?
Nhất bệnh tha đà tuế tự thâm.

Dịch nghĩa
Mây lạnh trên thành che rợp nghìn dặm,
Hoa liễu vườn (bên) cầu trông chìm chìm.
Hai chốn cao đường tuôn lệ nhớ con,
Chức quan bạc bẽo làm cảm thương cho lòng cũ của ba xuân.
Trước giường vợ nghèo đun chè xanh kiểu Bắc,
Gõ vào cửa con gái bé chơi điệu Nam.
Nước nhà có đạo biết dùng cách gì đây?
Một bệnh lây lất dài cả năm.

Bạc Vãn Túy Quy

Mính đính quy lai bất dụng phù,
Nhất giang yên trúc chính mô hồ.
Nam nam tự dữ liên hoa thuyết,
Khả đắc hồng như tửu diện vô?

Dịch nghĩa
Say mèm, đi về không cần người đỡ
Cả một dải sông, mịt mờ những khói cùng tre
Lầm rầm sẽ hỏi bông hoa sen:
Có đỏ được bằng mặt rượu của ta không?

Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập – tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004

Bạc xuân giản Nguyễn Chính Tự 薄春簡阮正字

Bạc mộ tư quân quân bất lai,
Phi khâm thì tá hảo phong thôi.
Quá kiều hốt động thanh thanh lý,
Nhập thất hoàn khuynh mãn mãn bôi.
Tứ hải tri giao vô ngã chuyết,
Bách niên tâm sự cộng thuỳ khai.
Đa tình vi tạ tân lang nguyệt,
Tằng bạn u nhân cô mộng hồi.

Dịch nghĩa
Gần tối nhớ bạn, bạn không tới
Mở tung vạt áo, mượn đón gió lành
Qua cầu, bỗng liên tiếp có tiếng giày
Vào nhà, lại nghiêng chén lúc nào cũng đầy rượu
Bạn bè bốn biển, không có người vụng về
Tâm sự trăm năm, biết cùng ai bày tỏ
Tình cảm dạt dào, tạ ơn ánh trăng chiếu cây cau
Từng làm bạn cùng khách ẩn dật đi về, với mộng mơ cô độc

Nguyễn Chính Tự chưa rõ là ai.

Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập – tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004

Ban Siêu Đầu Bút

An dụng mao chuỳ tử,
Anh hùng sở kiến siêu.
Trung thư hiếu phát ngốc,
Tế tửu hối trùng điêu.
Chính sử thiên quân tảo,
Thuỳ căng Ngũ Nhạc diêu.
Tần niên lao thiết nghiễn,
Hà nhật miện thánh điêu?
Yến hạm thân do kiện,
Dăng đầu tự mạn miêu.
Tàng phong xuy cố ngã,
Ma thuẫn tự kim triêu.
Ý khí Long Tuyền tại,
Công danh hổ huyệt dao.
Liệt Nhân đao bút lại,
Trâm hốt quán quần liêu.

Dịch nghĩa
Dùng làm chi dùi bằng lông
Cách nhìn nhận anh hùng vượt trội
Chức Trung thư thích đầu trọc lóc
Tế tửu hối hận chạm côn trùng
Điều khiển nghiêm chỉnh ngàn quân quét sạch (bọn gây rối biên thuỳ)
Ai kiêu căng lay Ngũ Nhạc
Bao nhiêu năm liền khó nhọc mài nghiên sắt
Biết ngày nào thấy được cái áo da điêu của vua
Hàm én thân còn khoẻ
Chữ đầu ruồi thôi không còn vẽ vời
Giấu mũi nhọn cười ta ngày trước
Từ sáng nay mài thuẫn
Chí khí mạnh trong gươm Long Tuyền
Công danh lập từ hang hùm xa vời
Viên thư lại ở Liệt Nhân
(Nay) cài trâm mang hốt rượu vượt trên cả các đồng liêu

Ban Siêu là Nho tướng đời Hán, người Đông Lăng, con trai của Ban Bưu, em của Ban Cố, anh của Ban Chiêu là 3 đồng tác giả của bộ “Hán thư”. Ban Siêu vâng mệnh Hán Minh Đế đi sứ Tây Vực hơn 30 năm, phát triển giao thương. Ông nhà nghèo, có chí lớn, làm nghề viết thuê đã ném bút xuống đất, nói: “Đại trượng phu phải học Trương Khiên, Phi Giới Tử lập công ở đất xa, giành tước phong hầu, sao chịu miệt mài theo nghề nghiên bút.”

Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập – tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004

Bảo Xuyên Lê ông kiến hoạ dư thi, nhân ký bách nhãn lê, phụng thứ lai vận 寶川黎翁見和余詩,因寄百眼梨,奉次來韻

Bảo Xuyên Lê ông kiến hoạ dư thi, nhân ký bách nhãn lê, phụng thứ lai vận
Tiệm dữ thôn ông thục vãng lai,
Tửu bôi nhật nhật lệ tu khai.
Chỉ ưng thường biến Giang Nam quả,
Đa khủng tiên sinh quyện bất hồi.

Dịch nghĩa
Dần dà cùng ông, người chốn hương thôn, đi lại thân thiết
Chén rượu ngày ngày đã quen lệ được lật ngửa bày ra
Chỉ nên nếm hết mọi trái cây vùng Giang Nam
Những sợ tiên sinh mệt mà không về được

Lê Bảo Xuyên tự Tồn Chân, người Đà Nẵng, bạn thân của Cao Bá Quát. Ông từng đi quân thứ ở Trấn Tây, An Giang, từng coi việc học ở Gia Định (có sách nói ở Biên Hoà).

Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập – tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004

Bảo Xuyên ông nhục kiến thứ hoạ, tẩu bút thù chi 寶川翁辱見次和,走筆酬之 • Được ông Lê Xuyên hạ cố hoạ thơ, phóng bút đáp lại

Bảo Xuyên ông nhục kiến thứ hoạ, tẩu bút thù chi
Bất hận thông mang biệt,
Liêu vi hạn mạn du.
Mộ niên tâm thượng tráng,
Cô khách kiển thuỳ lưu.
Chích mã thiên sơn nguyệt,
Hoàng sa vạn lý thu.
Chiết mai ưng hữu ký,
Dao trữ bích vân đầu.

Bân Phong Đồ

Bân phong đồ
Vạn cổ điền tàm kế,
Bân phong nhất quyển truyền.
Đan thanh trùng điểm xuyết,
Trường phố tiếp vân yên.
Xuân tửu cao dương địa,
Thu phong tất suất thiên.
Nông phu mưu toả tiết,
Công tử trí triền diên.
Tang giá nhân gia ngoại,
Qua hồ nhĩ mục tiền.
Thụ y hoài cửu nguyệt,
Phá phủ cảm tam niên.
Cực tả gian nan nghiệp,
Năng kiêm nhã tụng thiên.
Thái bình ca thịnh thế,
Ý tại hoạ đồ tiên.

Bất tri thuỳ thị Trích Tiên tài 不知誰是摘仙才 • Chẳng biết ai có tài Trích Tiên

Bất tri thuỳ thị Trích Tiên tài
Hương quốc quần tiên hội,
Hoa trường tuyển Phật kỳ.
Diễm tài phàm liệt bối,
Tiểu trích bất tri thuỳ.
Định hữu sinh hoa thảo,
Tài thành hoán nguyệt tư.
Đa niên phàm cốt hoán,
Cửu chuyển luyện đan trì.
Kim Túc tiền thân chứng,
Thanh Liên nhập mộng kỳ.
Tạm phao hương án lại,
Lưu phổ Nhị cung từ.
Thử nhật “Nghê thường” vịnh,
Hà nhân Nhạn tháp kỳ?
Loan Pha dung ngã trú,
Nhất khúc tấu Dao Trì.

Trích Tiên tức Lý Bạch. Theo Đường thư, Lý Bạch tới Trường An, đến thăm Hạ Tri Chương. Chương xem thơ của ông xong khen “Anh là bậc trích tiên”.

Bệnh trung (Vị tử tàn hình nhất hủ nho) 病中(未死殘形一腐儒) • Trong lúc ốm (Chưa chết thân tàn một hủ nho)

Bệnh trung (Vị tử tàn hình nhất hủ nho)
Vị tử tàn hình nhất hủ nho,
Cưỡng chi quyện cốt thiến nhân phù.
Trắc thân thiên địa bi cô chưởng,
Hồi thủ yên tiêu khuất tráng đồ.
Hà nhật quy sào đồng yến yến,
Tha thì tập uyển quý ô ô.
A đồng bất thức Duy Ma bệnh,
Sổ vấn yêu vi sấu tổn vô?

Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập – tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004

Bệnh trung (Xuân lai tâm lực lưỡng kham tăng) 病中(春來心力兩堪憎) • Trong lúc ốm (Tâm lực xuân này nghĩ đáng căm)

Bệnh trung (Xuân lai tâm lực lưỡng kham tăng)
Xuân lai tâm lực lưỡng kham tăng,
Tổn tận yên vi sấu bất thăng.
Nhập thế chích thân thiên lý mã,
Khan thư song nhãn vạn niên đăng.
Chuyết thê ỷ chẩm sơ bồng mấn,
Trĩ tử khiên y tạ khúc quăng.
Nhất tiếu na tri nhàn vị đắc,
Tiểu lô tiên mính đạm ư tăng?

Dịch nghĩa
Sang xuân đến nay, tâm và sức đều đáng ghét cả hai,
Tổn hại cả vòng eo, gầy không xiết kể.
Vào đời, chiếc thân (lẻ loi) như con ngựa chạy nghìn dặm,
Xem sách, đôi mắt là ngọn đèn vạn năm.
Vợ vụng tựa gối chải tóc rối,
Con thơ dắt áo làm nhàu chỗ khuỷu tay.
Cười một tiếng nào biết là nhàn chưa được,
Lò nhỏ đun trà nhạt hơn (trà của) tăng.

Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập – tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004

Bệnh trung hữu hữu trung chiêu ẩm tịch thượng tác 病中有友人招飲席上作 • Đang ốm có người bạn mời uống rượu làm ngay trên tiệc

Bệnh trung hữu hữu trung chiêu ẩm tịch thượng tác
Mỗi ước xuân hoàn tải tửu tòng,
Xuân hoàn vô tín phục vô tung.
Khách trung đối kính tam phân sấu,
Bệnh lý khan hoa nhất dạng dung.
Nhập thế công danh hồn truỵ tắng,
Truyền gia thư sử mạn đồ long.
Thời nhân ngộ hứa văn chương giá,
Dục bả suy nhan hoán tuý dung.

Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập – tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004

Biệt Phạm Đôn Nhân lang trung 別范敦仁郎中 • Từ biệt lang trung Phạm Đôn Nhân

Biệt Phạm Đôn Nhân lang trung
Dĩ tứ niên lai bất tương kiến,
Kiến thì liên ngã cánh liên quân.
Mang mang thân thế tri hà liễu,
Hạo hạo càn khôn tích tạm phân.
Vạn lý ức quy sầu Tử Mỹ,
Nhất quan đa bệnh sấu Hưu Văn.
Minh thần khước vọng giang kiều lộ,
Nam lĩnh vân liên bắc lĩnh vân.

Phạm Đôn Nhân tức Phạm Sĩ Ái, tự Đôn Nhân, hiệu Nghĩa Khê, người xã Trung Lập, huyện Đường Hào (nay là Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên), đỗ cử nhân khoa Mậu Tí (1828), hoàng giáp khoa Nhâm Thìn (1832), làm lang trung bộ lại.

Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập – tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004

Biệt Phạm lang trung Từ biệt ông lang trung họ Phạm

Biệt Phạm lang trung
Dĩ từ niên lai bất tương kiến,
Kiến thời liên ngã cánh liên quân.
Mang mang thân thế tri hà liễu?
Hạo hạo kiền khôn tích tạm phân.
Vạn lý ức qui sầu Tử Mỹ,
Nhất quan đa bệnh sấu Hưu Văn,
Minh thần khước vọng giang kiều lộ,
Nam lĩnh vân liên Bắc lĩnh vân.

Phạm lang trung: tức Phạm Sỹ Ái, tự Đôn Nhân, người xã Trung Lập, huyện Đường Hào (nay là Mỹ Hào, tỉnh Hải Hưng), đỗ hoàng giáp năm Minh Mệnh thứ 13 (1832) làm lang trung bộ lại.

Bồn lan hoạ Di Xuân thứ vận 盆蘭和怡春次韻 • Hoạ bài chậu hoa lan của Di Xuân

Bồn lan hoạ Di Xuân thứ vận
Tiện giao u cốc lão phương lan,
Tịch mịch do tri viễn tục nhàn.
Thác thực huống y thâm viện lạc,
Kết căn cánh bạng bích lan can.
Trinh tư cửu giác phong sương thục,
Lượng tiết ninh bi tuế nguyệt tàn.
Dã hữu đồng tâm liên khí vị,
Ân cần khán thủ cập chu nhan.

Di Xuân là tự của Diệp Xuân Huyên, bạn thân của tác giả, người xã Phúc Tô, huyện Thọ Xương, Hà Nội, sinh cùng năm với Cao Bá Quát (1808), đỗ cử nhân khoa Mậu Tý (1828), phó bảng khoa Mậu Tuất (1838), làm quan tới chức ngự sử.

Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập – tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004

Bồn liên thi đáp Di Xuân thứ vận 盆蓮詩答怡春次韻 • “Chậu sen” hoạ thơ Di Xuân

Bồn liên thi đáp Di Xuân thứ vận
Liên hoa cửu bất ngẫu,
Khiếm ngã giai thi từ.
Hàm phương trướng mạc phát,
Lại tử tiên dung chi.
Ly sơ cúc vị thổ,
Cốc ám lan diệc suy.
Khán quân ngũ đẩu thuỷ,
Thôn kỷ Côn Minh trì.
Vũ tễ không vô vân,
Thiên sắc oánh pha ly.
Đình đình chiếu cô ảnh,
Khoáng tai cao thế tư.
Hàn thử vô toàn công,
Thuỷ lục các hữu thì.
Quá thì lương hữu tích,
Đắc thưởng diệc tương nghi.
Du du mại hoa nữ,
Xúc nhiệt nhật bôn trì.
Tục tử bất giải thú,
Nhan sắc độc sầu thuỳ.
Tri quân vị thương chiết,
Báo dữ hiếu hoa tri.

Bồng Doanh đô xứng liệt tiên du 蓬瀛都稱列仙遊 • Bồng Lai và Doanh Châu xứng đáng là nơi các tiên rong chơi

Bồng Doanh đô xứng liệt tiên du
Dao thảo khai tam đảo,
Quỳnh hoa tuỵ thập châu.
Tích tằng thiên Phật tuyển,
Kim xứng liệt tiên du.
Thập nhị đan tiêu lộ,
Tam thiên bích lạc thu.
Vạn lô phàm cốt hoán,
Nhị bảng thịnh danh lưu.
Đồng nhật “Nghê thường” vịnh,
Tiền thân nguyệt phủ tu.
Hồng trần kinh tiểu trích,
Viên Kiểu vị câu lưu.
Hồi thủ Phương Hồ tức,
Liên vân giáp đệ phù.
Hoa khôi thuỳ độc chiếm,
Xuân yến hựu ngao đầu?

Bài thơ ca ngợi những bậc tiến sĩ có tâm hồn thanh cao, những vị tiên bị đày xuống trần, nay lại trở về ngao du nơi tiên cảnh.

Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập – tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004

Cái Tử

Cái tử
Cái tử lập trì trù,
Cơ hàn bất cảm hô.
Y khiên song lạp phá,
Mệnh đãi nhất tiền tô.
Trưng liễm thì phương cấp,
Phiêu lưu nhữ hạt cô?
Bất tài diệc nhân dã,
Nhi nữ mạc khiêu du.

Dịch nghĩa
Người ăn xin đứng ngập ngừng
Đói rét chẳng dám lên tiếng
Lê áo chắp bằng hai mê nón rách
Tính mạng đợi một đồng tiền để được sống
Thuế thu đang lúc khẩn cấp
Nhà ngươi có tội tình gì mà phải phiêu bạt
Dù không có tài nhưng cũng là người
Con trai con gái chớ trêu chọc

Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập – tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004

Cảm phú 感賦 • Tỏ bày cảm khái

Cảm phú
Văn thuyết đương niên Tam Tấn địa,
Phong cương biểu lý cứ sơn hà.
Như hà đới lệ tư hùng hiểm,
Cánh sử thương hoàng thoát võng la.
Bích thảo đa tình oanh chiến cốt,
Hắc hôi mạt kiếp đáo Di Đà.
Thỉnh anh bất thiểu kỳ nam tử,
Độc thính tướng quân tấu khải ca.

Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập – tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004

Cấm sở cảm sự, túng bút ngẫu thư 禁所感事縱筆偶書 • Trong nhà giam nhân việc cảm xúc, phóng bút viết

Cấm sở cảm sự, túng bút ngẫu thư
Thiếu niên tâm tích tảo thanh cuồng,
Dĩ bả thành khuy tính lưỡng vong.
Tuý uý túng nhiên sân Lý lão,
Cùng nô do tự ái Tiêu lang.
Luật xuy Thử Cốc hàn ưng chuyển,
Kiếm lạc Phong Thành dạ hữu quang.
Mạc hướng danh sơn tống di thảo,
Thạch Cừ tu tuyển Hán văn chương.

Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập – tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004

Cấm sở cửu nguyệt trình chư hữu nhân 禁所九月呈諸友人 • Tháng chín trong nhà giam làm trình các bạn

Cấm sở cửu nguyệt trình chư hữu nhân
Khả tự Đông Pha tự Thoái Chi,
Mệnh thân ma yết định hà tri?
Mỗi liên xỉ thiệt thường tao ngã,
Dục bả văn chương khước phó thuỳ?
Na thức cổ lai trùng cửu hận,
Chính khan nhân tự nhất thu bi.
Tiện ưng đề ký Hương giang khứ,
Tằng tá Thiều Khê nhị thủ thi.

Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập – tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004

Chu trung đối nguyệt 舟中對月 • Ngắm trăng trong thuyền

Chu trung đối nguyệt
Hà xứ không minh nguyệt,
Thiên chu độc dạ khan.
Uỷ ba vô định ảnh,
Trước lộ bất thăng hàn.
Ỷ trạo cô vân viễn,
Thôi bồng bích thuỷ khoan.
Cố hương ưng hữu mộng,
Hải tế thị Trường An.

Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập – tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004

Chung dạ độc muộn 終夜獨悶 • Suốt đêm một mình lo buồn

Chung dạ độc muộn
Vô phong vô nguyệt độc khai tình,
Nhiễu biến u hiên kỷ khúc hành.
Tất suất bất tri nhân ý sự,
Dạ lai hoàn tác cảm thu thanh.

Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập – tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004

Châu Long tự ức biệt kỳ 1 珠龍寺憶別其一 • Nhớ chuyện chia tay ở chùa Châu Long kỳ 1

Châu Long tự ức biệt kỳ 1
Nhất biệt vi tam hữu,
Trùng lai cận lục tuần.
Gian nan câu tác khách,
Tịch mịch bán thương xuân.
Lữ mộng kinh tiêu vũ,
Ly tư cách mã trần.
Ỷ lan sầu bất ngữ,
Sổ biến nhãn trung nhân.

Chùa Châu Long nay ở phố Châu Long, quận Ba Đình, Hà Nội, xưa thuộc thôn Châu Long, tổng Yên Thành, huyện Vĩnh Thuận, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội.

Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập – tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004

Châu Long tự ức biệt kỳ 2 珠龍寺憶別其二 • Nhớ chuyện chia tay ở chùa Châu Long kỳ 2

Châu Long tự ức biệt kỳ 2
Bồi hồi duy ngã tại,
Đế đính ký sơ tằng.
Nhập tháp tình phân khách,
Di xan vãn ức tăng.
Đường thiên toàn thụ mật,
Kính trắc khám ba trừng.
Nhật mộ sinh quy hận,
Đồng miên hoán bất ưng.

Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập – tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004

Chí Gia

Chí gia
Thương thương tây sơn mộ,
Ế ế vạn tỉnh thu.
Chúng điểu như luyến quy,
Chinh nhân tri sở đầu.
Nhi nữ dị vi biệt,
Tương kiến đãn thuỳ đầu.
Dư diệc bất tự chủ,
Nhân chi sinh viễn sầu.
Xuất môn đãn bằng thiếu,
Trường lộ thượng du du.
Nam hành giả thuỳ thị,
Nhật án phục hà cầu?
Bộc tử hà cúc cúc chí,
Sáp giới tây thôn hưu.
Tá vấn cựu kỷ cúc,
Kim hữu kỷ tùng phầu?

Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập – tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004

Chí nhật đồng Chí Đình tiểu ẩm, tẩu bút thứ vận 至日同志亭小飲走筆次韻 • Ngày đông chí cùng Chí Đình uống rượu, phóng bút hoạ vần

Chí nhật đồng Chí Đình tiểu ẩm, tẩu bút thứ vận
Thăng trầm hà nhật liễu,
Túc tích kỷ nhân tồn?
Lão khứ khan ngô bối,
Sinh hoàn hạnh chúa ân.
Mộng tàn kinh phá úng,
Thân tại cảm hy tôn.
Mạc thán lưu quang chuyển,
Tha thì đãi lập ngôn.

Chí Đình tức Nguyễn Văn Lý (1795-1868), người làng Đông Tác, huyện Thọ Xương, Hà Nội (sau là làng Trung Tự, thuộc quận Thanh Xuân).

Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập – tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004

Chiết hạm tinh trực thần 折檻旌直臣 • Biểu dương bề tôi trung trực vịn gãy lan can

Chiết hạm tinh trực thần
Bách chiết thần tâm tại,
Tằng phan điện hạm khuynh.
Trực thần tằng thỉnh kiếm,
Xích đế diện đề tinh.
Lương đống thuỳ thăng hạ?
Đường liêm tự thỉ thành.
Giác nhưng quần lộc viện,
Lân hứa lão long anh.
Đỉnh lự tam thai phúc,
Thiên giao nhất trụ kình.
Miện quan liêu chí lượng,
Ấp củng chúa ân minh.
Trảm nịnh lưu thanh độc,
Bao trung tạ khúc doanh.
Tượng nhân đình phác trác,
Hán đại biểu kiên trinh.

Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập – tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004

Chiêu Quân

Chiêu Quân
Hán triều mạc sát Mao Diên Thọ,
Tái thượng Hồ già chỉ tự bi.
Nhi nữ tổng đa trường đoạn xứ,
Cổ kim chung hữu mạo lai thì.

Nguyên chú: “Hoặc vị hậu cung giai lộ dĩ kim giả, hữu thị hồ? Vô thị tai! Hữu nghị Mao Diên Thọ ác hoạ Chiêu Quân giả, dư vị Chiêu Quân chi sắc vô luận dĩ. Đãn sử hoạ công đồ nhiên mạo thủ nhi đan thanh chi, kỷ hà bất ảnh diệt thanh dẫn, đồng vu chúng nhân da. Cẩu tri Chiêu Quân giả, Diên Thọ bất tất thâm cứu, khả hĩ. Tuy dục vật biện, hoặc do hữu thuyết dã.” 或為後宮皆賂以金者,有是乎?無是哉!有議毛延壽惡畫昭君者,余謂昭君之色無論已。但使畫工徒然貌取而丹青之,幾何不影滅聲泯,同于眾人耶。苟知昭君者,延壽不必深究,可矣。雖欲勿辨,或猶有說也。 (Có người nói hậu cung đều dùng vàng hối lộ, có chuyện đó không? Không có chuyện đó. Có người bàn rằng Mao Diên Thọ vẽ Chiêu Quân xấu. Ta cho rằng sắc đẹp của Chiêu Quân không phải bàn nữa. Giả như thợ vẽ chỉ biết dựa vào diện mạo mà vẽ, thì sao chẳng ít nhiều “mất bóng hình, bặt âm thanh” mà trở thành đồng loạt với đám thợ bình thường. Nếu biết Chiêu Quân, chẳng nên buộc tội gắt Diên Thọ, đúng vậy. Tuy muốn không biện luận hoặc giả vẫn có điều cần phải bàn vậy.)

Chiêu Quân vốn tên là Vương Tường, một cung nữ của Hán Nguyên Đế. Tương truyền vua sai hoạ công vẽ hình các cung nữ để chọn mỗi khi vào chầu. Bọn cung nữ đều hối lộ Mao Diên Thọ để được vẽ đẹp khiến vua mời. Riêng Chiêu Quân không chịu nên vẽ xấu. Khi đó tộc Hung Nô ở phương bắc đang quấy rối, muốn xin vua Hán một người đẹp làm hoàng hậu. Vua xem trong các bức vẽ, chọn ra Chiêu Quân. Khi nàng bái yết lên đường, vua mới nhận ra sắc đẹp vượt trên mọi cung nữ khác. Sau đó Mao Diên Thọ và bọn hoa công đều bị chém. Chiêu Quân sang được ít lâu thì chồng là Thiền Vu chết, em lên thay là một Thiền Vu mới vẫn bắt nàng làm vợ. Có thuyết nói nàng chết và chôn ở đất Hung Nô, cỏ cây nơi đây đều màu trắng, riêng trên mộ nàng cỏ xanh như ở trung nguyên.

Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập – tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004

Chính nguyệt nhị thập nhất nhật di tống Thừa Thiên ngục toả cấm 正月二十一日移送承天獄鎖禁 • Ngày hăm mốt tháng giêng bị giải sang giam ở ngục Thừa Thiên

Chính nguyệt nhị thập nhất nhật di tống Thừa Thiên ngục toả cấm
Dư sinh nhất dã mã,
Phiêu chuyển tuỳ thiên phong.
Vãng lai vô định căn,
Chỉ tại đại khối trung.
Thuỷ vi bách luyện cương,
Khảng tảng nhất sĩ hùng.
Tự trước thế võng anh,
Tao tiết tòng ma lung.
Dĩ ngã khoáng bạc tâm,
Mãnh dữ ưu thích thông.
Nhất diệp vũ bành bái,
Tư ngôn văn Nhiêm công.
Tuế mộ tạ giả sở,
Tàn sinh tín vi cung.
Nội chí nhiếp ngoại khí,
Bất thụ bỉ lự công.
Hốt ức thiếu niên thì,
Tuý ngoạ kinh cức tùng.
Khốn miên đắc sở tức,
Khởi tri thương lộ cùng.
Khảm khả lý tư vận,
Phân uỷ cô phi bồng.
Tội phế tín ngã sở,
Hề trạch tây dữ đông.
Phiên phiên khoa bì tử,
Hoan hoa an hữu chung.
Tự ngã pháp nhãn quan,
Lục tạc di nhược không.
Hoả khanh trước huyễn tướng,
Luân đạn dữ hoá đồng.
Phóng bộ học hành ngâm,
Thuỳ thị Ly tao ông?

Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập – tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004

Chinh nhân phụ 征人婦 • Vợ chinh nhân

Chinh nhân phụ
Bạc mộ vọng tây bắc,
Phù vân cao bất phi.
Tiêu tiêu văn mã minh,
Lương nhân phục vị quy.
Tự quân tái vi biệt,
Tận nhật lý ty ky (cơ).
Quân hành vị đương phản,
Vị quân tài chiến y.
Dũng phu xả nhất tử,
Để chưởng phá trùng vi.
Nhung lỗ vị tốt bình,
Phẫn uất tráng tâm vi.
Diệp diệp tường lý hoa,
Lựu hoả hốt dĩ huy.
Quân lai hà thảo thảo,
Vô nãi luyến khuê vi.

Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập – tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004

Chính tại thuận dân tâm 政在順民心 • Việc trị nước cốt thuận lòng dân

Chính tại thuận dân tâm
Lập chính hoàng du hoán,
Đồng dân đế trị khâm.
Huyền thư tam đại chính,
Khiết củ nhất nhân tâm.
Cơ Tất tình kiêm hảo,
Vân nghê tứ bội thâm.
Du phương ca Hạ ngạn,
Vọng tuế uý Thương lâm.
Đường ấm tư nhân hoá,
Vân sinh ngưỡng đức âm.
Khoan nhân Thang chúc võng,
Giải phụ Thuấn thao cầm.
Giám cổ nghiêm tòng kỷ,
Sừ gian tuyệt khổng nhâm.
Như xuân hân thế thái,
Hàm hạ tụng quân lâm.

Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập – tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004

Chu hành há Thanh Khê nhân cố nhân ký biệt tòng du chư đệ tử 舟行下清溪因故人寄別從遊諸弟子 • Thuyền xuôi Thanh Khê, nhân có người quen gửi lời từ biệt các học trò

Chu hành há Thanh Khê nhân cố nhân ký biệt tòng du chư đệ tử
Chư tử phục bất xả,
Luyến luyến tòng ngã du.
Thần tịch ý vị thiếp,
Tái tửu tuỳ khinh chu.
Ngũ Hành tại chỉ xích,
Tương vọng các di du.
Thảo thảo thiệp sơn kính,
Đồ thử niệm minh sưu.
Trướng nhiên tâm thưởng vi,
Hận dữ thanh giang lưu.
Nhân sinh cảm ý khí,
Tụ tán khởi tự mưu.
Ngô thi cố thường vân:
Ngã sơ vô hành lưu.
Cố nhân Đạt Thuận ông,
Tống ngã khước trạo đầu.
Nhân thanh tạ bằng lữ,
Phiền tác trí thư bưu.
Vân quan khứ bất viễn,
Hồi thủ vân du du!
Ứng liên nhất phiến nguyệt,
Dạ dạ đáo ngân câu.

Dịch nghĩa
Các anh vẫn chưa chịu chia tay,
Cứ quấn quít đi theo tôi mãi.
Hết sớm lại chiều vẫn chưa thoả lòng,
Lại còn tải rượu theo thuyền tôi.
Núi Ngũ Hành chỉ cách gang tấc,
Nhìn nhau đều tỏ vẻ dùng dằng.
Rồi rảo bước đi lên sườn núi,
Định bụng cứ lần mò thế mà đi.
Bỗng lòng bùi ngùi mất hứng thú,
Mối hận tràn theo dòng sông trong.
Ở đời người ta cảm nhau vì ý khí,
Sum họp hay chia phôi, mình có tính lấy được đâu.
Trong thơ tôi đã từng nói:
Tôi chẳng bao giờ định ra đi hay ở lại.
Nay có ông bạn Đạt Thuận,
Đi tiễn tôi rồi trở về.
Tiện gởi lời cảm ơn các trò,
Dám phiền ông làm trạm chuyển thư.
Đèo Hải Vân không còn xa mấy,
Ngoảnh đầu lại thấy mây lững lờ.
Đáng yêu thay một mảnh trăng kia,
Cứ đêm soi hoài trên dòng bạc.

Thanh Khê là tên một vùng biển trong Đà Nẵng.

Nguồn: Thơ chữ Hán Cao Bá Quát, NXB Văn Học, 1976

Chu hành nhập Hưng Yên 舟行入興安 • Đi thuyền vào Hưng Yên

Chu hành nhập Hưng Yên
Bách lý khinh chu tật,
Đằng Châu phóng viễn phàm.
Đại giang phân vũ trụ,
Hùng trấn khống đông nam.
Sương thất Hoa Dương điếm,
Yên hư Bán Nguyệt đàm.
Phồn hoa phong vật cựu,
Di lão chí kim đàm.

Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập – tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004

Chu trung hiểu vọng phụng trình đồng chu chư quân tử 舟中曉望奉呈同舟諸君子 • Trong thuyền ngắm cảnh sáng sớm viết đưa các bạn cùng thuyền

Chu trung hiểu vọng phụng trình đồng chu chư quân tử
Nhất bích ngưng vi giới,
Trùng vân nhiễu tác thành.
Viễn phong xung hải lập,
Cao lãng tiếp thiên bình.
Hương quốc tam xuân ý,
Càn khôn vạn lý tình.
Đà lâu tần bắc vọng,
Độc kiến tảo yên hoành.

Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập – tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004

Chung dạ độc muộn 終夜獨悶 • Suốt đêm một mình lo buồn

Chung dạ độc muộn
Vô phong vô nguyệt độc khai tình,
Nhiễu biến u hiên kỷ khúc hành.
Tất suất bất tri nhân ý sự,
Dạ lai hoàn tác cảm thu thanh.

Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập – tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004

Chúng tiên đồng nhật vịnh nghê thường 眾仙同日詠霓裳 • Các tiên cùng một ngày hát khúc nghê thường

Chúng tiên đồng nhật vịnh nghê thường
Nhân bản thiên tiên trích,
Nghê thường vịnh tối công.
Thanh bình tam điệp lộng,
Nhã Tụng nhất ban đồng.
San thụ sâm Bồng Đảo,
Ngân hoàng triệt Nhị cung.
Tiền thân hương án lại,
Hồi thủ bích sa lung.
Thử khúc nghi thiên thượng,
Vân nhân tại nguyệt trung.
Thanh tiêu âm tử tế,
Bích lạc vận đinh đông.
Ngọc duẩn ban sơ tiếp,
Dao Trì đài diệc chung.
Đăng Doanh nguyên hữu phận,
Quỳnh bội hướng linh lung.

Tiêu đề lấy từ thơ của Lý Thương Ẩn: “Tằng ký Đại La thiên thượng sự, Chúng tiên đồng nhật vịnh nghê thường” (Từng nhớ chuyện trên trời Đại La, Các tiên cùng hát khúc “Nghê thường”).

Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập – tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004

Cúc ký bán khai, văn hữu súc mai hoa điểu giả, dĩ thi sách chi 菊既半開,聞有畜梅花鳥者,以詩索之 • Cúc đã hé nụ, nghe có kẻ nuôi chim hồng tước, dùng thơ đòi mượn chim

Cúc ký bán khai, văn hữu súc mai hoa điểu giả, dĩ thi sách chi
Lữ vị thu lai bạc tự sa,
Phùng quân thì đắc hướng nhân khoa.
Kinh tu mai điểu thanh thi ngữ,
Liêu tá mai hoa bạn cúc hoa.

Mai hoa điểu tức mai hoa tước, hay hồng tước, là loài chim màu hồng thẫm, có những chấm trắng nhỏ trông giống hoa mai.

Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập – tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004

Cửu nguyệt sơ thất nhật dĩ trường sự hạ Trấn Phủ ngục 九月初七日以場事下鎮撫獄 • Ngày 7 tháng 9 tống giam nhà tù Trấn Phủ vì vụ trường thi

Cửu nguyệt sơ thất nhật dĩ trường sự hạ Trấn Phủ ngục
Chỉ xích thiên uy vọng đồ nhân,
Phúc đường bồ bặc khấp cô thần.
Cầu nhân vị đắc thành chiêu hoạ,
Đồng bệnh tương liên khước luỵ nhân.
Tứ bích đao sang hoán quỷ bạn,
Ngũ canh phong vũ Dạ Xoa lân.
Cố hương hữu mộng tri hà đáo,
Thuỳ hướng cao đường uý nhị thân?

Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập – tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004

Cửu nhật chiêu khách 九日招客 • Ngày trùng cửu mời khách

Cửu nhật chiêu khách
Ky thê hựu kiến diểu thu thiên,
Tiếu bả trùng dương trước tuý diên.
Lạc mạo thuỳ thư tân lệnh tiết?
Phụ kinh sơ thức tiểu ngoan tiên.
Nhãn trung khách tử chân ngô bối,
Toạ lý tiên sinh chính thiếu niên.
Tha tịch tha thì vô thử hội,
Thắng du kỳ tuyệt ngã tư biên.

Lời tự: “Dư khứ niên đãi hệ chi thứ nhật, kháp đương trùng cửu. Nhật nguyệt y thì, viên cảm ngã sinh cẩu hạnh bất tử, dĩ phi cố ngã, nhi đăng cao chi du, liêu bất khả đắc, nãi trường lân hữu bát cửu tử nhi cáo chi viết: thử Mẫn Hiên tử kim sinh sơ độ chi tịch dã. Toạ giả dị nhi vấn chi, tiếu thuật kỳ do, thả hữu thử phú.” 余去年逮繫之次日,恰當重九。日月依時,爰感我生苟幸不死,已非故我,而登高之遊,聊不可得,乃觴鄰友八九子而告之曰:此敏軒子今生初度之席也。坐者異而問之,笑述其由,且有此賦。 (Năm ngoái tôi bị tống giam hôm trước thì hôm sau là trùng cửu. Tháng ngày qua, nay ngày ấy lại đến, cảm thấy đời mình nếu có may mà không chết, cũng không còn là cái ta khi trước nữa rồi, mà những cuộc lên cao cũng không thể có nữa, mới rót rượu mời các bạn chung quanh tám chín người và nói: đây là tiệc sinh nhật kiếp này của gã Mẫn Hiên này. Moi người lấy làm lạ hỏi. Tôi cười nói rõ đầu đuôi và làm bài thơ này.)

Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập – tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004

Cửu nhật hoạ Di Xuân kiến ký thứ vận 九日和怡春見寄次韻 • Ngày trùng cửu hoạ thơ Di Xuân gửi đến

Cửu nhật hoạ Di Xuân kiến ký thứ vận
Hoàng hoa chước chước tự kim bôi,
Ký đắc đăng cao tuý kỷ hồi.
Thái trích vị tri hà nhật hảo,
Tiêu điều bất kiến cập kim khai.
Nhất thu vũ khổ nhân thuỳ kiện,
Tam kính sương thâm mộ chuyển thôi.
Trù trướng tây phong giang thượng khách,
Dữ quân linh lạc cộng thương hoài.

Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập – tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004

Cửu toạ 久坐 • Ngồi lâu

Cửu toạ
Khinh khinh vân ám độ,
Đạm đạm nguyệt vi quang.
Yên tán văn cầm tĩnh,
Phong điều điểu vận trường.
Đình không giao phục dực,
Tường ảnh vũ sơ lang.
Hứng đáo vong ngôn xứ,
Du nhiên hứng diệc vong.

Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập – tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004

Dạ bán nạp lương đồng Trần Ngộ Hiên, Lê Trực Hiên 夜半納涼同陳悟軒,黎直軒 • Nửa đêm hóng mát cùng Trần Ngộ Hiên, Lê Trực Hiên

Dạ bán nạp lương đồng Trần Ngộ Hiên, Lê Trực Hiên
Viễn bích lâm bằng kỷ,
Đê tinh nhập quyển liêm.
Đào đầu xao nguyệt toái,
Phàm phúc thụ phong thiêm.
Cộng tế tình tương dữ,
Truy lương hứng dục kiêm.
Đàm hài chuyển thanh nhã,
Toạ sổ ngũ canh thiêm.

Trần Ngộ Hiên tức Trần Dĩnh Tú, người làng Diên An, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, đỗ cử nhân năm Ất Dậu (1825), làm quan đến Kinh Triệu doãn tức phủ doãn Thừa Thiên, phó đoàn trưởng phái đoàn đi Giang Lưu Ba. Lê Trực Hiên chưa rõ là ai.

Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập – tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004

Dạ du Bối Am động, tuý hậu chấp chúc đề bích 夜遊貝庵峒醉後執燭題壁 • Đêm chơi động Bối Am, khi say cầm đuốc đề vách

Dạ du Bối Am động, tuý hậu chấp chúc đề bích
Ngạn trách phan nguy đặng,
Huề hồ tứ viễn du.
Bán nhai tàng tự trách,
Nhất kính nhập sơn u.
Chướng tụ liên bình sở,
Yên hà túc tiểu lâu.
Hổ Khê sạ bất kiến,
Hàm tiếu vấn truy lưu.

Hang Bối Am chưa rõ ở đâu.

Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập – tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004

Dạ quan Thanh nhân diễn kịch trường 夜觀清人演劇場 • Đêm xem người Thanh diễn kịch

Dạ quan Thanh nhân diễn kịch trường
Liệt cự thôi minh tối thượng đàn,
Nhất thanh hám khởi dạ phong hàn.
Kích tu tráng sĩ phương hoành giáp,
Nộ mục tướng quân dĩ cứ an.
Xuất thế khởi vô chân diện mục,
Phùng trường lãng tiếu cổ y quan.
Hổ Môn cận sự quân tri phủ?
Thán tức hà nhân ủng tị khan!

Dịch nghĩa
Sân khấu bày đèn đẩy ánh sáng (đến mức) lên cao nhất,
Một tiếng quát vang lên (làm) lạnh cả gió đêm.
Tráng sĩ râu kích vừa xê ngang áo giáp,
Tướng quân mắt nỏ đã ngồi trên yên ngựa.
Ra đời há không mặt, mắt thật?
Đến nhà hát cười tràn (về) áo mão xưa.
Việc gần đây ở Hổ Môn ông biết chưa?
Than thở (cho) người nào chen mũi xem.

Tiêu đề có bản chép là “Dạ quan Thanh nhân hí trường diễn chiến” 夜觀清人戲場演戰, hoặc “Dạ quan Thanh nhân hí trường diễn hí” 夜觀清人戲場演戲.

Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập – tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004

Dạ thoại thị Phan Hành Phủ 夜話示潘衡甫 • Chuyện trò đêm viết đưa Phan Hành Phủ

Dạ thoại thị Phan Hành Phủ
Thích xúc ngâm thành đãn tự bi,
Thôi tễ khởi liệu thập niên kỳ.
Bất kham trọng vọng kinh thương đạo,
Ký đắc tương tòng trấn phủ ty.
Đàn chỉ khứ lai câu định mệnh,
Đáo đầu ưu thích hữu tân tri.
Đăng tiền lãn ngữ quân ưng tích,
Kháp thị Sâm hoành Đẩu lạc thìn.

Phan Hành Phủ tức Phan Nhạ, người làng Minh Quả, huyện Thanh Chương, Nghệ An, đỗ cử nhân khoa Tân Mão năm Minh Mệnh thứ 12 (1831, đồng khoa với Cao Bá Quát). Khoa Tân Sửu năm Thiệu Trị thứ nhất (1841) cùng với Cao Bá Quát được cử làm sơ khảo Thừa Thiên, đã chữa văn cho sĩ tử và cùng bị hạ ngục.

Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập – tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004

Dạ túc Triệu Châu kiều 夜宿趙州橋 • Đêm trọ ở cầu Triệu Châu

Dạ túc Triệu Châu kiều
Tạm tức chinh xa ý chuyển dung,
Kỵ lư tiên tử hạnh nan phùng.
Dẫn nhân hàm thuỵ tam bôi tửu,
Xúc khách đăng trình kỷ ngọ chung.
Cảm sự tạc tiêu tăng lữ mộng,
Đề thi diên lộ ký xuyên tung.
Đại xuyên tây vọng hoàn trù trướng,
Thượng cách vân sơn sổ vạn trùng.

Cầu Triệu Châu là một cây cầu xưa ở Trung Quốc, bắc qua sông Hiệu, phía nam huyện Triệu, tỉnh Hà Bắc, do Lý Xuân thực hiện theo kiểu vòm đá, có từ thế kỷ VI, tới nay vẫn còn. Ở đây không rõ tác giả ám chỉ cầu nào.

Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập – tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004

Di đĩnh nhập Dũng Cảng 移艇入桶港 • Dời thuyền vào Dũng Cảng

Di đĩnh nhập Dũng Cảng
Trạo ca di đĩnh hướng Ba Tân,
Thiên lý Sơn Thành đáo nhãn tân.
Nhất cảng tự phân thanh trọc thuỷ,
Đồng chu giao cảm tích kim nhân.
Ly gia hồ hải hào phi tạc,
Duyệt thế phong ba mộng tiệm chân.
Chỉ yếu bần nang nhàn quản lĩnh,
Yên hoa lang tạ dị hương xuân.

Dũng Cảng, Ba Tân, Sơn Thành là các địa danh ở vùng Hạ Châu.

Nguồn: Cao Bá Quát toàn tập – tập 1, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, 2004

Trên đây, uct.edu.vn đã cập nhật cho các bạn về những bài thơ nổi tiếng của Cao Bá Quát. Mời các bạn đón xem BST Kho Tàng Thơ Đặc Sắc Của Cao Bá Quát phần 2. Xin cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết này của chúng tôi!