bài thơ Việt Bắc Tố Hữu ta cảm nhận được một bức tranh về tình người nhớ nhung sâu sắc giữa nhân dân Tây Bắc và những người cán bộ cách mạng. Là một nhà thơ cách mạng Tố Hữu đã sáng tác ra bài thơ này nhằm phản ánh hiện thực 15 năm kháng chiến của nhân dân Việt Bắc và tình người, tình đời ở đây. Cũng như phần cuối bài thơ khẳng định một niềm tin son sắt vào một ngày mai tươi sáng của đất nước mình.

Hoàn cảnh sáng tác bài thơ Việt Bắc

Bài thơ Việt Bắc được ra đời trong hoàn cảnh, dấu mốc lịch sử của đất nước ta. Vào năm 1954 cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta dành thắng lợi. Với chiến thắng này, thắng 7 năm 1954, Hiệp định Genever về Đông Dương được ký kết. Và đó cũng chính là dấu mốc cho việc giải phóng hoàn toàn miền Bắc và chuyển sang giai đoạn xây dựng xã hội chủ nghĩa.

 

Tháng 10 năm 1954, toàn bộ những người kháng chiến trở về thủ đô. Trong không khí chia tay đầy bịn rịn ấy Tố Hữu đã viết lên bài thơ Việt Bắc. Đó là những ngôn từ phản ánh sâu sắc và đầy đủ hiện thực cách mạng 15 năm kháng chiến và phần sau chính là gợi lên một tương lai tươi sáng của đất nước ta. Xen lẫn với đó, qua các vần thơ này ta có thể cảm nhận được sâu sắc tình cảm gắn bó keo sơn của những người dân Việt Bắc và các chiến sĩ cách mạng. Đó chính là tình đồng bào, đồng chí.

Bài thơ Việt Bắc Tố Hữu

1.

– Mình về mình có nhớ ta?
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
Mình về mình có nhớ không?
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.

– Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân ly
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

2. 

– Mình đi, có nhớ những ngày
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù?
Mình về, có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?
Mình về, rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng, măng mai để già
Mình đi, có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son
Mình về, còn nhớ núi non
Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh
Mình đi, mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?

3. 

– Ta với mình, mình với ta
Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh
Mình đi, mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu…
Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương
Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.
Nhớ từng rừng nứa bờ tre
Ngòi Thia sông Ðáy, suối Lê vơi đầy
Ta đi, ta nhớ những ngày
Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi…

Thương nhau, chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng
Nhớ người mẹ nắng cháy lưng
Ðịu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô
Nhớ sao lớp học i tờ
Ðồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan
Nhớ sao ngày tháng cơ quan
Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo.
Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều
Chày đêm nện cối đều đều suối xa…

 

4. 

Ta về, mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hoà bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.

Nhớ khi giặc đến giặc lùng
Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây
Núi giăng thành luỹ sắt dày
Rừng che bộ đội rừng vây quân thù
Mênh mông bốn mặt sương mù
Ðất trời ta cả chiến khu một lòng.

5. 

Ai về ai có nhớ không?
Ta về ta nhớ Phủ Thông, đèo Giàng
Nhớ sông Lô, nhớ phố Ràng
Nhớ từ Cao-Lạng nhớ sang Nhị Hà…
Những đường Việt Bắc của ta
Ðêm đêm rầm rập như là đất rung
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan
Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.
Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
Ðèn pha bật sáng như ngày mai lên.
Tin vui chiến thắng trăm miềm
Hoà Bình, Tây Bắc, Ðiện Biên vui về
Vui từ Ðồng Tháp, An Khê
Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.

Ai về ai có nhớ không?
Ngọn cờ đỏ thắm gió lồng cửa hang.
Nắng trưa rực rỡ sao vàng
Trung ương, Chính phủ luận bàn việc công
Ðiều quân chiến dịch thu đông
Nông thôn phát động, giao thông mở đường
Giữ đê, phòng hạn, thu lương
Gửi dao miền ngược, thêm trường các khu…

Ở đâu u ám quân thù
Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi
Ở đâu đau đớn giống nòi
Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền.
Mười lăm năm ấy ai quên
Quê hương cách mạng dựng nên Cộng hoà
Mình về mình lại nhớ ta
Mái đình Hồng Thái cây đa Tân Trào.

 

6.

– Nước trôi nước có về nguồn
Mây đi mây có cùng non trở về?
Mình về, ta gửi về quê
Thuyền nâu trâu mộng với bè nứa mai
Nâu này nhuộm áo không phai
Cho lòng thêm đậm cho ai nhớ mình
Trâu về, xanh lại Thái Bình
Nứa mai gài chặt mối tình ngược xuôi.

– Nước trôi, lòng suối chẳng trôi
Mây đi mây vẫn nhớ hồi về non
Ðá mòn nhưng dạ chẳng mòn
Chàm nâu thêm đậm, phấn son chẳng nhoà.
Nứa mai mình gửi quê nhà
Nước non đâu cũng là ta với mình
Thái Bình đồng lại tươi xanh
Phên nhà lại ấm, mái đình lại vui…

7. 

– Mình về thành thị xa xôi
Nhà cao, còn thấy núi đồi nữa chăng?
Phố đông, còn nhớ bản làng
Sáng đèn, còn nhớ mảnh trăng giữa rừng?
Mình đi, ta hỏi thăm chừng
Bao giờ Việt Bắc tưng bừng thêm vui?

– Ðường về, đây đó gần thôi!
Hôm nay rời bản về nơi thị thành
Nhà cao chẳng khuất non xanh
Phố đông, càng giục chân nhanh bước đường.
Ngày mai về lại thôn hương
Rừng xưa núi cũ yêu thương lại về
Ngày mai rộn rã sơn khê
Ngược xuôi tàu chạy, bốn bề lưới giăng.
Than Phấn Mễ, thiếc Cao Bằng
Phố phường như nấm như măng giữa trời
Mái trường ngói mới đỏ tươi.
Chợ vui trăm nẻo về khơi luồng hàng
Muối Thái Bình ngược Hà Giang
Cày bừa Ðông Xuất, mía đường tỉnh Thanh
Ai về mua vại Hương Canh
Ai lên mình gửi cho anh với nàng
Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng
Vải tơ Nam Ðịnh, lụa hàng Hà Ðông
Áo em thêu chỉ biếc hồng
Mùa xuân ngày hội lùng tùng thêm tươi
Còn non, còn nước, còn trời
Bác Hồ thêm khoẻ, cuộc đời càng vui!

8. 

– Mình về với Bác đường xuôi
Thưa giùm Việt Bắc không nguôi nhớ Người
Nhớ ông Cụ mắt sáng ngời
Áo nâu túi vải đẹp tươi lạ thường!
Nhớ Người những sáng tinh sương
Ung dung yên ngựa trên đường suối reo
Nhớ chân Người bước lên đèo
Người đi rừng núi trông theo bóng Người…

– Lòng ta ơn Ðảng đời đời
Ngược xuôi đôi mặt một lời song song.
Ngàn năm xưa nước non Hồng
Còn đây ơn Ðảng nối dòng dài lâu
Ngàn năm non nước mai sau
Ðời đời ơn Ðảng càng sâu càng nồng.

Cầm tay nhau hát vui chung
Hôm sau mình nhé, hát cùng Thủ đô.

Cảm nhận tình đồng bào, đồng chí trong bài thơ Việt Bắc

Bài thơ Việt Bắc được viết theo lối đối đáp giao duyên thường thấy trong dân ca Việt Nam với bố cục 3 phần tương đối rõ ràng:

  • Phần 1: 8 câu đầu gợi cảm xúc khi chia tay nhân dân Việt Bắc trở về thủ đô
  • Phần 2: 12 câu tiếp: Đó là lời người Việt Bắc
  • Phần 3: Những câu còn lại chính là lời người cách mạng

Với 3 phần này Tố Hữu đã thể hiện được sự ca ngợi cuộc sống và tình người ấm áp của những người dân Việt Bắc. Đó là tình cảm thủy chung son sắt và là tình đồng bào, đồng chí.

 

Phần 1: Cảm xúc chia tay đầu bị rịn của người đi và người ở lại

Tố Hữu để phần mở đầu cho bài thơ qua câu “Mình về mình có nhớ ta”. Nó tưởng chừng như một câu ca bình thường trong tình cảm của lứa đôi. Tuy nhiên ở đây không phải như vậy, đó là cách nói theo lối đối đáp trong dân ca và tác giả đã hình tượng hóa người dân Việt Bắc và các chiến sĩ cách mạng là Ta – Mình. Và những câu thơ kế tiếp chính là cảm xúc bịn rịn lưu luyến không rời của họ.

Điệp từ “nhớ” được lặp đi lặp lại 3 lần gợi nên sự lưu luyến, nhớ nhung và thủy chung son sắt.

“Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?”

Phần 2: Những câu hỏi nặng tình nặng nghĩa của Việt Bắc

Và với cách diễn đạt của Tố Hữu, người về đã không khỏi xót xa và lặng người trước câu hỏi nặng nghĩa tình của người dân Việt Bắc.

“Mình đi, có nhớ những ngày
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù
Mình về, có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?”

 

Đối với những người dân nơi đây, những kỷ niệm 15 năm kháng chiến sẽ mãi không quên và đó cũng chính là lý do nhà thơ Tố Hữu đã khơi lại ký ức về những ngày tháng kháng chiến này. Là hình ảnh mưa nguồn suối lũ… trong những ngày đầu tiên của cuộc chiến. Để có được nền độc lập và hạnh phúc hôm nay đã phải đánh đổi bao nhiêu mồ hôi, nước mắt và cả máu xương.

Để có thể vượt qua được những ngày đó hơn hết là một niềm tin son sắt với cách mạng và cũng chính là tình người, tình quân dân ấm áp. Những bữa cơm thiếu thốn, đạm bạc nhưng chứa chan đầy tình người ấm áp. Và 15 ấy tình nghĩa biết mấy, anh hùng biết mấy và đã viết lên trang sử oai hùng của dân tộc ta. Nên dẫu về thành thị thì cũng đừng quên những năm tháng ấy. Đó là cảm xúc được chuyển tải thông qua câu thơ: “Mình đi mình có nhớ mình”

Phần 3: Những tâm tư của người chiến sĩ cách mạng

Trước những lời chia tay đầy thân thương ấy, người chiến sĩ cũng đã bày tỏ lòng mình và nói lên những tâm tư, tình cảm gắn bó. Đó là sự thủy chung son sắt. Dù chia tay nhưng vẫn luôn ghi nhớ những kỷ niệm nặng nghĩa ân tình ấy. Và cũng vẫn mãi giữ một lời thề thủy chung son sắt với mảnh đất này.

Những hình ảnh nhớ mãi không quên

Đó là những hình ảnh nhớ mãi không quên. Là bát cơm sử nửa, chăn sui đắp cùng. Hay hình ảnh người mẹ địu con lên rừng hái bắp – một vẻ đẹp lao động chịu thương chịu khó của người dân Tây Bắc. Là những ngày vui liên hoan trong ánh lửa lập lòe… Để rồi khi về lại thủ đô vẫn nhớ mãi không quên những năm tháng ấy. Qua đó mới hiểu được tình cảm nồng ấm và thiết tha đến những nào.

Tiếp theo đó là những câu thơ gợi lên khung cảnh thiên nhiên nơi đây. Từ đó ta có thể cảm nhận được những nét đẹp của thiên nhiên này. Và cũng từ đó gợi lên vẻ kiên cường của người dân ở đây khi chinh phục tự nhiên. Chính thiên nhiên này cũng đã che chở cho người dân trong những năm tháng kháng chiến gian lao.

 

Niềm tin vào một tương lai tươi sáng

Xen lẫn với đó là niềm lưu luyến không rời của những người lính khi phải trở về thủ đô. Phần cuối của bài thơ chính là hình ảnh thắng lợi của nhân dân ta. Đó là lá cờ đỏ sao vàng – một minh chứng cho thắng lợi của nhân dân ta. Và ở đâu có bóng quân thù thì ở đó có Đảng và có Bác Hồ. Chính vì vậy kháng chiến của dân tộc ta mới có thể giành được thắng lợi như vậy. Và đó cũng chính là lý do các thắng lợi ấy ý nghĩa và vang danh đến muôn đời. Điều này cũng chính là lý do mười lăm năm kháng chiến sẽ mãi còn được ghi lại trong tim những người dân ở đây.

Như vậy với bài thơ Việt Bắc Tố Hữu đã phần nào chuyển tải được tâm trạng, cảm xúc của mình cũng như những người lính cách mạng khi phải chia xa nhân dân Việt Bắc về lại Thủ Đô. Mười lăm năm kháng chiến ấy đã ghi lại trong lòng người bao nhiêu cảm xúc và suy tư. Đó cũng chính là tình đồng bào, đồng chí keo sơn gắn bó – cảm xúc chủ đạo của những bài thơ ca cách mạng.