Bài thơ Tiếng Việt Lưu Quang Vũ – Tình yêu nước non, tiếng nói dân tộc



Bài thơ Tiếng Việt Lưu Quang Vũ được đánh giá là một trong những bài thơ hay nằm trong tập Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi. Đây cũng chính là một bài thơ hiếm hoi được đăng trong những năm người ta đã từ chối thơ của tác giả này. Khi ấy để được đăng nhà thơ Phạm Tiến Duật đã phải sửa 3 điểm trong bài. Nhưng bài thơ mà chúng tôi giới thiệu với bạn dưới đây là bản chính được chép theo căn cứ của tài liệu viết tay của tác giả này. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu nét đặc sắc của bài thơ Tiếng Việt Lưu Quang Vũ nhé!

Bài thơ Tiếng Việt Lưu Quang Vũ

Tiếng mẹ gọi trong hoàng hôn khói sẫm
Cánh đồng xa cò trắng rủ nhau về
Có con nghé trên lưng bùn ướt đẫm
Nghe xạc xào gió thổi giữa cau tre.

Tiếng kéo gỗ nhọc nhằn trên bãi nắng
Tiếng gọi đò sông vắng bến lau khuya
Tiếng lụa xé đau lòng thoi sợi trắng
Tiếng dập dồn nước lũ xoáy chân đê.

Tiếng cha dặn khi vun cành nhóm lửa
Khi hun thuyền, gieo mạ, lúc đưa nôi
Tiếng mưa dội ào ào trên mái cọ
Nón ai xa thăm thẳm ở bên trời.

“Ðá cheo leo trâu trèo trâu trượt…”
Ði mòn đàng dứt cỏ đợi người thương
Ðây muối mặn gừng cay lòng khế xót
Ta như chim trong tiếng Việt như rừng.

Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói
Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ
Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa
Óng tre ngà và mềm mại như tơ.

Tiếng tha thiết, nói thường nghe như hát
Kể mọi điều bằng ríu rít âm thanh
Như gió nước không thể nào nắm bắt
Dấu huyền trầm, dấu ngã chênh vênh.

Dấu hỏi dựng suốt ngàn đời lửa cháy
Một tiếng vườn rợp bóng lá cành vươn
Nghe mát lịm ở đầu môi tiếng suối
Tiếng heo may gợi nhớ những con đường.

Một đảo nhỏ ngoài khơi nhiều kẻ nhận
Vẫn tiếng làng tiếng nước của riêng ta
Tiếng chẳng mất khi Loa thành đã mất
Nàng Mỵ Châu quỳ xuống lạy cha già.

Tiếng thao thức lòng trai ôm ngọc sáng
Dưới cát vùi sóng dập chẳng hề nguôi
Tiếng tủi cực kẻ ăn cầu ngủ quán
Thành Nguyễn Du vằng vặc nỗi thương đời.

Trái đất rộng giàu sang bao thứ tiếng
Cao quý thâm trầm rực rỡ vui tươi
Tiếng Việt rung rinh nhịp đập trái tim người
Như tiếng sáo như dây đàn máu nhỏ.

Buồm lộng sóng xô, mai về trúc nhớ
Phá cũi lồng vời vợi cánh chim bay
Tiếng nghẹn ngào như đời mẹ đắng cay
Tiếng trong trẻo như hồn dân tộc Việt.

Mỗi sớm dậy nghe bốn bề thân thiết
Người qua đường chung tiếng Việt cùng tôi
Như vị muối chung lòng biển mặn
Như dòng sông thương mến chảy muôn đời.

Ai thuở trước nói những lời thứ nhất
Còn thô sơ như mảnh đá thay rìu
Ðiều anh nói hôm nay, chiều sẽ tắt
Ai người sau nói tiếp những lời yêu?

Ai phiêu bạt nơi chân trời góc biển
Có gọi thầm tiếng Việt mỗi đêm khuya?
Ai ở phía bên kia cầm súng khác
Cùng tôi trong tiếng Việt quay về.

Ôi tiếng Việt suốt đời tôi mắc nợ
Quên nỗi mình quên áo mặc cơm ăn
Trời xanh quá môi tôi hồi hộp quá
Tiếng Việt ơi tiếng Việt xót xa tình…

 

Cảm nhận bài thơ Tiếng Việt Lưu Quang Vũ

Bài thơ Tiếng Việt Lưu Quang Vũ được viết bằng cái tình đậm đà và thắm thiết và cũng chứa đựng đầy nét nhân ái của con người Việt Nam. Tuy viết về tiếng Việt nhưng nhà thơ đã không bắt đầu bằng những khái niệm trừu tượng mà đó chính là những hình ảnh giản dị và thân thuộc. Đó là những câu thơ giàu sức gợi để con người ta có thể cảm nhận được cuộc sống sinh hoạt của người dân Việt Nam. Bởi chính cuộc sống áy đã hình thành và nuôi dưỡng tiếng nói của dân tộc. Đó cũng chính là lý do nhà thơ đã gợi lên một không gian làng quê thân thuộc và dấu yêu:

Tiếng mẹ gọi trong hoàng hôn khói sẫm
Cánh đồng xa cò trắng rủ nhau về
Có con nghé trên lưng bùn ướt đẫm
Nghe xạc xào gió thổi giữa cau tre.

Tiếng kéo gỗ nhọc nhằn trên bãi nắng
Tiếng gọi đò sông vắng bến lau khuya
Tiếng lụa xé đau lòng thoi sợi trắng
Tiếng dập dồn nước lũ xoáy chân đê.

Tiếng cha dặn khi vun cành nhóm lửa
Khi hun thuyền, gieo mạ, lúc đưa nôi
Tiếng mưa dội ào ào trên mái cọ
Nón ai xa thăm thẳm ở bên trời.

 

Nguồn gốc của tiếng Việt

Vâng tiếng việt được cất lên từ bờ tre, gốc rạ, dòng sông… Đó là những âm thanh đậm tâm tình và sự sâu lắng của người Việt Nam. Đó cũng chính là tiếng mẹ gọi khi hoàng hôn buông xuống, tiếng cha dặn khi nhóm lửa… Và cũng là tiếng mưa, tiếng xào xào gió thổi… Và mọi mặt của cuộc sống đều góp phần tạo nên hồn cốt của tiếng Việt. Đó là cái hay của tiếng dân tộc mình.

Chính ngôn ngữ là một trong những nhân tố quan trọng tạo nên cái gọi là bản sắc dân tộc, tinh hoa văn hóa của dân tộc. Hơn nữa vấn đề mà Tiếng việt Lưu Quang Vũ chuyển tải được ở đây chính là ý thức xã hội, ứng xử và cách giao tiếp bởi “Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói”. Và cũng bởi vì nó là kết quả của hoạt động vật chất và tinh thần của người Việt Nam.

Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói
Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ
Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa
Óng tre ngà và mềm mại như tơ.

Có lẽ nói điểm tài hoa của nhà thơ này chính là đã khái quát được đặc trưng của tiếng Việt thông qua hai câu thơ: “Ôi tiếng Việt như đất cày, như lụa. Óng tre ngà và mềm mại như tơ”. Ở đây tác giả vừa mượn hình ảnh giản dị và thân quen như đất cày, lụa, tre… để nói về tiếng Việt. Từ đó mà nhà thơ đã gợi cho người đọc có thể cảm nhận được sự mộc mạc và giản dị, chân chất mềm mạ của thứ tiếng này.

Tiếng Việt là một ngôn ngữ giàu nhạc điệu, điều này cũng được thể hiện thông qua hệ thống nguyên âm, phụ âm, thanh điệu đa dạng. Nên ta có htheer cảm nhận được độ trầm bổng, réo rắt, sâu lắng của ngôn ngữ này. Và để chứng minh cho nhận định đó nhà thơ Đã dẫn ra những câu nói rất giàu tính liên tưởng. Chẳng hạn như:

Một tiếng vườn rợp bóng lá cành vươn
Nghe mát lịm ở đầu môi tiếng suối
Tiếng heo may gợi nhớ những con đường.

Nhân dân là hạt nhân trong bài thơ

Nhiều người đánh giá rằng nhân dân chính là hạt nhân trong bài thơ Tiếng Việt Lưu Quang Vũ. Bởi nhân dân chính là bộ phận lao động, họ đã chịu đựng gian khổ và hy sinh để cho tiếng Việt thêm phần giàu đẹp và thân thương. Đó cũng chính là lý do tại sao tiếng Việt lại thân thuộc và gần gũi như vật. Và cũng chính thần thái của tiếng Việt cũng là sức sống mảnh liệt của con người Việt Nam kiên cường bất khuất.

Bởi đó cũng chính là một chứng nhân lịch sử cho các thăng trầm của cuộc sống này. Đó là khi loa thành đã mất, Mỵ Châu quỳ xuống cha già. Đó cũng chính là vẻ lấp lánh, thăng trầm của đời người. Và chung quy lại nó đã làm nên một dòng chảy văn hóa “Như vị muốn chung lòng biển mặn, như dòng sông thương mến chảy muôn đời”.

Bằng tất cả sự trân quý tiếng mẹ đẻ, Tiếng Việt Lưu Quang Vũ đã thành công trong việc chuyển tải cảm xúc tha thiết ân tình khi nhắc về ngôn ngữ này.

Ôi tiếng Việt suốt đời tôi mắc nợ
Quên nỗi mình quên áo mặc cơm ăn
Trời xanh quá môi tôi hồi hộp quá
Tiếng Việt ơi! Tiếng Việt ân tình…

Có thể nói bài thơ Tiếng Việt Lưu Quang Vũ là một trong những áng văn thơ đã “cắm cọc thời gian vào dòng nước chảy. Và cũng là vầng trăng sáng trên thi đàn văn học nước ta. Đọc nó ta có thể cảm nhận được một nết giản dị, đậm đà và hồn hậu như chính về con người Việt Nam. Tiếng Việt được hiện lên đầy thân thương từ những bờ tre, gốc rạ, cánh đồng như thế. Đó cũng chính là cái hay của nhà thơ, nhà viết kịch và bài thơ này.

so1vn - Tags: