Bài thơ  của nhà thơ Quang Dũng là bài thơ hay viết về người lính trong thời kì kháng chiến chống Pháp. Bài thơ lúc đầu có tên là “Nhớ Tây Tiến” được sáng tác năm 1948 tại Phù Lưu Chanh, khi đó nhà thơ Quang Dũng là một đại đổi trưởng thuộc đoàn quân Tây Tiến. Bài thơ Tây Tiến Văn 12 được in trong tập Mây đầu ô (1986).

Bài thơ Tây Tiến của tác giả Quang Dũng, ca ngợi vẻ đẹp của người lính Tây Tiến trong kháng chiến chống Pháp, qua đó thể hiện tình cảm sâu sắc của nhà thơ đối với đơn vị Tây Tiến và sự yêu mến của nhà thơ đối với cảnh vật và con người Tây Bắc.

Tây Tiến

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời!
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu, anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Tây Tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

Phù Lưu Chanh, 1948

I. Hoàn cảnh sáng tác bài thơ Tây Tiến

Hiểu rõ về hoàn cảnh sáng tác bài thơ Tây Tiến giúp các em học sinh có thể hiểu rõ hơn hoàn cảnh, thời gian và những sự vật, con người được miêu tả trong bài thơ.

Sau khi Cách mạng tháng 8 thành công, Quang Dũng gia nhập bộ đội. Năm 1947, ông tham gia đoàn quân Tây Tiến với chức vụ đại đội trưởng.

Tây Tiến là đơn vị bộ đội thành lập năm 1947 có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt – Lào, địa bàn hoạt động suốt miền núi Tây Bắc từ Châu Mai, Châu Mộc sang Sầm Nứa cho tới miền Tây Thanh Hoá. Ngày ấy nơi đây còn rất hoang vu, hiểm trở, núi cao sông sâu.

Những người lính trong đoàn quân Tây Tiến năm ấy chủ yếu là học sinh, trí thức ra đi từ những mái trường, từ phố phường Hà Nội chiến đấu trong những hoàn cảnh rất gian khổ, vô cùng thiếu thốn về vật chất, chết vì sốt rét nhiều hơn là vì súng đạn. Tuy vậy, các anh vẫn phơi phới tinh thần lạc quan anh hùng.

Cuối năm 1948 Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác, khi dự hội nghị toàn quân ở Phù Lưu Chanh tác giả bồi hồi nhớ lại những kỉ niệm kháng chiến cùng đồng đội ở đơn vị cũ trong những tháng năm ở miền biên cương Tây Bắc. Những ngày tháng gian khổ mà hào hùng ấy đã rung lên những dây tơ xúc cảm trong tâm hồn nhà thơ viết nên bài thơ “Tây Tiến”. Bài thơ ban đầu có tựa đề “Nhớ Tây Tiến” in trong tập thơ “Mây Đầu Ô”.

II. Bố cục bài thơ

Bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng được chia thành 4 phần:

Phần 1: gồm 14 câu thơ đầu: Nội dung của đoạn này miêu tả cuộc hành quân của các chiến sĩ và khung cảnh núi rừng Tây Bắc

Phần 2: 8 câu thơ tiếp theo: nêu lên những kỉ niệm đẹp của tác giả đối với đồng đội ở chiến khu

Phần 3: 7 câu thơ tiếp theo: đoạn thơ nói về nỗi nhớ da diết của tác giả với đồng đội với chiến khu.

Phần cuối: phần còn lại: sự gắn bó với đoàn quân tây tiến của tác giả.

III. Cảm nhận về bài thơ Tây Tiến

Bài thơ Tây Tiến của tác giả Quang Dũng nổi bật trong nội dung tư tưởng cũng như tính nghệ thuận của tác phẩm chính là cảm hứng lãng mạn và tính chất bi tráng.

Cảm hứng lãng mạn trong Tây Tiến chính là nỗi nhớ, là cảm hứng sáng tác nên tác phẩm. Bên cạnh đó, nó còn được thể hiện qua tô đậm cái phi thường và ấn tượng mạnh mẽ về những người anh hùng.

Cảm hứng bi tráng trong Tây Tiến được thể hiện những thủ pháp tài tình được Quang Dũng sử dụng. Đó là thủ pháp cường điệu hóa và đối lập hóa được dùng rộng rãi trong toàn bài. Cảm hứng bi tráng còn là hình ảnh về thiên nhiên núi rừng hùng vĩ, là những cuộc hành quân gian khổ của những người lính…

Tây Tiến không hề che giấu cái bi. Nhưng bi mà không bi luỵ. Cái bi được thể hiện bằng một giọng điệu, âm hưởng, màu sắc tráng lệ, hào hùng.

Chất lãng mạn hoà hợp với chất bi tráng, tạo nên vẻ đẹp độc đáo của bài thơ.

Bài thơ gồm 4 đoạn, mỗi đoạn mang một cảm xúc, nội dung khác nhau, nhưng giữa các đoạn vẫn có sự liên kết mạch cảm xúc, tâm trạng của nhà thơ. Bài thơ Tây Tiến được viết trong hoàn cảnh nỗi nhớ đa diết của nhà thơ đối với đồng đội, đốiv ới đoàn quân tây tiến. Những nỗi nhớ ấy, gắn liền với khung cảnh thiên nhiên của núi rừng Tây Bắc. Tây Tiến – Quang Dũng được viết bằng hồi ức, trong hồi ức ấy chất chứa nỗi nhớ đồng đội, những kỉ niệm, hình ảnh đồng đội… không thể nào quyên.

Mở đầu bài thơ là sự thể hiện nỗi nhớ da diết, bao trùm lên cả không gian và thời gian:

Sông mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Nỗi nhớ đồng đội cũ, đơn vị cũ không thể dấu nổi, nhà thơ đành thốt lên thành lời. Hai chữ “chơi vơi” là sự thể hiện nỗi nhớ, đến mòn mỏi, đó cũng chính là khơi nguồn cho mạch cảm xúc của các câu thơ tiếp theo. Hình ảnh núi cao, dốc sâu, vực thẳm… liên tiếp xuất hiện ở những câu thơ tiếp theo:

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm.
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Với 4 cầu thơ, nhưng tác giả đã vẽ nên một bức tranh hoành tráng về sự hùng vĩ nhưng không kém phần hiểm trở, heo hút của núi rừng Tây bắc. Tác giả sử dụng những từ láy “khúc khủy”, “Heo hút” “Cồn mây mang đầy giá trị tạo hình càng tô đậm nên sự đắc địa hiểm trở của núi rừng.

“Súng ngửi trời” một hình ảnh nhân hóa được tác giả sử dụng vô cùng táo bạo tạo nên sự trùng điệp của núi rừng. Núi cao tưởng chừng có thể chạm đến mây, mũi súng chạm đến đỉnh trời. Câu thơ thứ ba, Câu thứ ba như bẻ đôi, diễn tả dốc núi vút lên, đổ xuống gần như thẳng đứng, nhìn lên cao chót vót, nhìn xuống sâu thăm thẳm. Đọc câu thứ tư, có thể hình dung cảnh những người lính tạm dừng chân bên một dốc núi, phóng tầm mắt ngang ra xa qua một không gian mịt mùng sương rừng, mưa núi, thấy thấp thoáng những ngôi nhà như đang bồng bềnh trôi giữa biển khơi.

Bốn câu thơ có sự phối hợp nhịp nhàng với nhau tạo nên một âm hưởng mạch thơ vô cùng đặc biệt. Ba câu thơ được vẽ bằng những nét gân guốc nhưng sang đến câu thứ tư được vẽ bằng một nét rất mềm mại, làm xoa dịu đi tâm hồn của người đọc.

Tiếp đến, vẻ hoang vu, dữ đội và đầy ghê rợn của núi rừng miền Tây xuất hiện dưới ngòi bút của Quag Dũng trở nên bi hùng hơn. Những hình ảnh ấy, không chỉ được mở ra theo chiều không gian mà còn được khám phá ở cái chiều thời gian, luôn luôn là mối đe dọa khủng khiếp đối với con người:

Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Qua ngòi bút của nhà thơ Quang Dũng, cảnh núi rừng miề tây hiện lên với đủ những cung bậc, cảm xúc. Bên cạnh đó là những tên những địa điểm xuất hiện: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch… chỉ nghe đến những địa điểm này cũng một phần nào hiểu được sự xa xôi hiểm trở của núi rừng nơi đây.

Đoạn thơ kết thúc đột ngột bằng hai câu thơ:

Nhớ ôi Tây Tiến thơ lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

Hai câu thơ là sự thể hiện cảnh tưởng thật đầm ấm, sau bao nhiêu gian khổ vượt qua biết bao núi đèo, hiểm trở, những người lính của đoàn quân Tây Tiến được tạm nghỉ chân, tại một bản làng nào đó là được quây quần bên những nồi cơm đang bốc khói. Hương thơm của nồi nếp xôi ở Mai Châu làm xua tan đi vẻ mệt mỏi, cực nhọc trên gương mặt người lính.

Đoạn thơ thứ hai mở ra một thế giới khác của núi rừng miền Tây. Núi rừng miền tây xuất hiện ở đoạn thơ thứ hai này khiến cho người đọc không khỏi cảm thấy bất ngờ. Đó chính là vẻ đẹp mĩ lệ, thơ mộng, duyên dáng của miền Tây. Những nét vẽ bạo, khoẻ, gân guốc ở đoạn thơ đầu, đến đoạn thơ này được thay bằng những nét mềm mại, uyển chuyển, tinh tế. Ngòi bút tài hoa của Quang Dũng cũng được bộc lộ rõ nhất trong đoạn thơ này.

Phải chăng hồn thơ lãng mạn của Quang Dũng bị hấp dẫn trước những vẻ đẹp mang màu sắc bí ẩn của con người và cảnh vật nơi xứ lạ, phương xa. Cảnh vật ấy, những con người ấy qua lời thơ của Quang Dũng càng trở nên lung linh hơn, huyền ảo và có hồn hơn

Ở đoạn thơ thứ hai là sự miêu tả cảnh đêm liên hoan văn nghệ của những người lính Tây Tiến có đồng bào địa phương đến góp vui được miêu tả bằng những chi tiết rất thực mà cũng rất mộng, rất ảo:

Doành trại bừng lên hội đuốc hoa.
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

Cả doanh trại “bừng sáng”, tưng bừng, sôi nổi hẳn lên khi đêm văn nghệ bắt đầu. Trong ánh sáng lung linh của lửa đuốc, trong âm thanh réo rắt của tiếng khèn, cả cảnh vật, cả con người đều như ngả nghiêng, bốc men say, ngất ngây, rạo rực. Hai chữ “kìa em” thể hiện một cái nhìn vừa ngỡ ngàng, ngạc nhiên,vừa mê say, vui sướng. Dưới ngòi bút của Quang Dũng, hình những cô gái nơi núi rừng miền Tây bất ngờ hiện ra trong những bộ xiêm áo lộng lẫy, vừa e thẹn, vừa tình tứ làm cho biết bao chàng lính si mê.

Những câu thơ tiếp miêu tả cảnh sông nước miền Tây mênh mang và mờ ảo:

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

Không gian dòng sông trong một buổi chiều giăng mắc một màu sương. Sông nước, bến bờ lặng tờ, hoang dại như thời tiền sử. Trên dòng sông đậm màu sắc cổ tích, huyền thoại ấy, nổi bật lên dáng hình mềm mại, uyển chuyển của một cô gái Thái trên chiếc thuyền độc mộc.

Với ngòi bút tài hoa của Quang Dũng không gian thiên nhiên và cảnh phật trở nên có hồn hơn. Ông không chỉ làm hiển hiện lên trước mắt người đọc vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn gợi lên cái phần thiêng liêng của cảnh vật.

Đọc đoạn thơ này, tác giả như đưa ta như lạc vào thế giới của cảnh đẹp, thế giới của cõi mơ.  Bốn câu thơ đầu ngân nga như tiếng hát, như nhạc điệu cất lên tự tân hồn ngây ngất, say mê của những người lính Tây Tiến.

Trên cái nền của sự hùng vĩ, hiểm trở, dữ dội của núi rừng (ở đoạn một) và duyên dáng, thơ mộng, mĩ lệ của cảnh vật miền Tây (ở đoạn hai), đến đoạn thơ thứ ba, là sự xuất hiện những hình ảnh người lính Tây Tiến đầy chất bi tráng:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xành màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Những câu thơ miêu tả gương mặt chung của cả đoàn quân, kết hợp với cái b và cái hùng tạo nên bức tượng đài người lính Tây Tiến vô cùng bi tráng.

Nhà thơ Quang Dũng trong Tây Tiến không hề che giấu những gian khổ, khó khăn, những căn bệnh hiểm nghèo và sự hi sinh lớn lao cửa người lính. Chỉ có điều, tất cả những cái đó, qua ngòi bút của ông, không được miêu tả một cách trần trụi mà qua một cái nhìn đậm màu sắc lãng mạn.

Những cái đầu lính không mọc tóc do hậy quả của căn bệnh sốt rét, chứa đựng sự nghiệt ngã của một thời kì kháng chiến. Hơn nữa để thuận tiện cho việc hành quân, kháng chiến, những người lính Tây Tiến, nhiều người thì cạo trọc đầu để thuận tiện khi đánh nhau giáp lá cả với địch. Cái vẻ xanh xao vì đói khát, vì sốt rét của những người lính, qua cái nhìn của Quang Dũng vẫn toát lên về oai phong, dữ dằn của những con hổ nơi rừng thiêng.

Sự oai phong lẫn liệt ấy còn được thể hiện qua ánh mắt giận dữ (mắt trừng gửi mộng) của họ. Những người lính Tây Tiến, qua ngòi bút của Quang Dũng,vô cùng bi tráng. Cái nhìn nhiều chiều của Quang Dũng đã giúp ông nhìn thấy xuyên qua cái vẻ oai hùng, dữ dằn bề ngoài của họ là những tâm hồn, những trái tim rạo rực, khát khao yêu đương.

Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hàn

Trong âm hưởng vừa dữ dội, vừa hào hùng của thiên nhiên ấy, cái chết, sự hi sinh của người lính Tây Tiến không bi luỵ mà thấm đẫm tinh thần bi tráng.

Giọng điệu chủ đạo của đoạn thơ thứ ba  trong bài thơ Tây Tiến là sự thiể hiện  sự trang trọng, tình cảm đau thương vô hạn và sự trân trọng, kính cẩn của nhà thơ trước sự hi sinh của đồng đội.

Bài thơ khép lại bằng bốn câu thơ, một lần nữa, tô đậm thêm không khí chung của một thời Tây Tiến, tinh thần chung của những người lính Tây Tiến. Nhịp thơ chậm, giọng thơ buồn, nhưng linh hồn của đoạn thơ thì vẫn toát lên vẻ hào hùng:

Tây Tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thắm một chia phôi.
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

Những người lính Tây Tiến vì nghĩa vụ cao cả, đi không hẹn ước, sẵn sàng hi sinh tính mạng, tuổi thanh xuân của mình để mang đến độc lập và hòa bình cho đất nước. Ở khổ thơ cuối, thành công của Quang Dũng là đã xây dựng lên bức tượng đài bất hủ của người lính bằng thơ. Giờ đây khi lên tây bắc, những kỉ niệm đẹp về đồng đội, chiến trường xưa lại ùa về.

Bài thơ Tây Tiến qua ngòi bút của nhà thơ Quang Dũng thể hiện sâu sắc nỗi nhớ nhung vô hạn của các đồng đội, chiến trường xưa. Tây Tiến – một bài thơ kháng chiến bất hủ. Thể hiện rõ lý tưởng, sự hi sinh cao cả của người lính Tây Tiến là công lao vô cùng to lớn đối với dân tộc ta, đất nước ta.