của Tế Hanh được sáng tác năm 1939, bài thơ miêu tả bức tranh quê hương vô cùng tươi sáng và trong trẻo của một làng quê miền biển. Với những lời thơ nhẹ nhàng càng làm nổi bật lên hình ảnh làng quê chài đầy sức sống. Qua đó thể hiện tình yêu quê hương tha thiết của nhà thơ Tế Hanh.

Cùng chúng tôi tìm hiểu hoàn cảnh sáng tác bài thơ Quê hương, nội dung bài thơ và các biện pháp tu từ trong bài thơ Quê hương để giúp các em học sinh có thể hiểu hơn khi học bài thơ này nhé.

Quê Hương

“Chim bay dọc biển đem tin cá”

Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới:
Nước bao vây cách biển nửa ngày sông.
Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng,
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá:

Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang.
Cánh buồm trương, to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió…

Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ
Khắp dân làng tấp nập đón ghe về.
“Nhờ ơn trời, biển lặng cá đầy ghe”,
Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.

Dân chài lưới, làn da ngăm rám nắng,
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm;
Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.

Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ
Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi,
Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi,
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!

1939

I. Đôi nét về nhà thơ Tế Hanh

Nhà thơ Tế Hanh sinh năm 1921, mất năm 2009, tên khai sinh là Trần Tế Hanh. Ông sinh ra tại một làng chài ven biển tỉnh Quảng Ngãi.

Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Tế Hanh:

+ Ông tham gia trong phong trào thơ Mới ở giai đoạn cuối với những bài thơ mang nỗi buồn và tình yêu quê hương

+ Sau năm 1945, nhà thơ Tế Hanh sáng tác phục vụ cách mạng và kháng chiến

+ Ông được nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật

– Phong cách sáng tác: thơ Tế Hanh chân thực với cách diễn đạt bằng ngôn ngữ giản dị, tự nhiên và rất giàu hình ảnh, bình dị mà tha thiết

II. Đôi nét về bài thơ Quê Hương

1. Hoàn cảnh sáng tác

Bài thơ Quê Hương được sáng tác năm 1939, khi đó nhà thơ đang học tại Huế, với nỗi nhớ quê hương da diết ông đã sáng tác bài thơ này. Bài thơ được rút trong tập Nghẹn ngào (1939) và sau đó được in trong tập Hoa niên (1945)

2. Bố cục bài thơ

2 câu đầu: Giới thiệu chung về làng quê.

– 6 câu tiếp: Cảnh dân chài đi thuyền ra khơi đánh cá

– 8 câu tiếp: Cảnh thuyền cá về bến.

– 4 câu tiếp: Nỗi nhớ làng chài, nhớ quê hương

3. Nội dung bài thơ Quê Hương

Bài thơ Quê Hương miêu tả một bức tranh làng quê làm nghề chài lưới vô cùng chân thực và sinh động. Trong đónổi bật lên hình ảnh khỏe khoắn, đầy sức sống của người dân chài và cảnh sinh hoạt lao động chài lưới. Qua đó cho thấy thấy tình cảm quê hương trong sáng, tha thiết của nhà thơ.

4. Phân tích bài thơ Quê Hương

Quê hương là nguồn cảm hứng vô tận của thi ca, không chỉ riêng Tế Hanh mà nhiều nhà thơ khác cũng đã khai thác sâu về đề tài này Bài thơ Quê Hương của nhà thơ Tế Hanh là sự thể hiện tình cảm yêu thương da diết, vô cùng sâu lắng về nỗi nhớ vùng quê làng chài nơi mình sinh ra.

Bài thơ được viết theo thể thơ tám chữ, kết hợp với cách gieo vần liên tiếp tạo được nhịp sống hối hả của người dân làng chài ven biển.

Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới
Nước bao vây cách biển nửa ngày sông
Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá.

Khổ thơ đầu bài thơ, nhà thơ miêu tả về bức tranh “làng tôi” chính là làng quê nơi mình sinh ra vô cùng sinh động. Đó là một làng chài ven biển, làm nghề chài lưới, đánh bắt cá.
Bức tranh quê vô cùng trong trẻo” trời trong”, “gió nhẹ” cảnh vật làng quê vô cùng yên bình. Với cách dùng từ này, không gian như trải ra xa, bầu trời như cao hơn và ánh sáng tràn ngập.

Bầu trời trong trẻo, gió nhẹ, rực rỡ nắng hồng của buổi bình minh đang đến là một báo hiệu cho ngày mới bắt đầu, một ngày mới với bao nhiêu hi vọng, một ngày mới với tinh thần hăng hái, phấn chấn của biết bao nhiêu con người trên những chiếc thuyền ra khơi:

Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang

Nếu như những câu thơ ở trên là miêu tả tập trung vào cảnh vật, thì đến những câu thơ tiếp theo này là sự thể hiện bức tranh lao động của người dân làng chời tràn đầy hứng khởi và sức sống. Hình ảnh con thuyền được so sánh như “con tuấn mã” càng làm cho câu thơ có cảm giác mạnh mẽ hơn, thể hiện sức lao động phi thường của người dân nơi đây.

Với cách sử dụng những động từ mạnh như: “hăng”, “phăng” nhà thơ diễn tả được sức mạnh, sức sống tràn trề của người dân lao động làng chài, vượt gió, vượt biển để đưa thuyền ra khơi.

Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió…

Hai câu thơ miêu tả hình ảnh cánh buồm của chiếc thuyền đánh cá, công cụ lao động của người dân làng chài vô cùng to lớn, ở đây tác giả đã liên tưởng đến “hồn người” “hồn làng” thể hiện được tâm hồn nhạy cảm trước cảnh vật nơi đây, và sự yêu mến gắn bó với quê hương làng xóm của nhà thơ. Ở hai câu thơ này tác giả sử dụng biện pháp so sánh để miêu tả cụ thể hơn vẻ đẹp bay bổng và sức mạnh phi thường của những con thuyền ra khơi. Cũng qua câu thơ này, nhà thơ đã diễn tả sâu hơn về sự hy vọng của người dân làng chài được gửi gắm vào cánh buồm đầy gió này.

Dấu chấm lửng ở cuối đoạn thơ tạo cho ta ấn tượng của một không gian mở ra đến vô cùng, vô tận, giữa sóng nước mênh mông, hình ảnh con người trên chiếc tàu nhỏ bé không nhû nhoi đơn độc mà ngược lại thể hiện sự chủ động, làm chủ thiên nhiên của chính mình.

Ngày hôm sau ồn ào trên bến đỗ
Khắp dân làng tấp nập đón ghe về
Nhờ ơn trời, biển lặng, cá đầy ghe
Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.

Ở khổ thơ thứ 3 với việc sử dụng những tính từ như “ồn ào”, “tấp nập” càng làm tôn lên không khí tấp nập, đông vui khi cánh buồm đón ghe cá trở về. Đọc xong những câu thơ này, người đọc cảm thấy mình như đang hiện hữu trong cảnh sinh hoạt ấy, trong không khí vui tươi của làng chài ấy. Lời cảm tạ ơn trời đã sóng yên, biển lạng để người dân có thể đánh cá đầy ghe, đưa những con cá tươi ngon nhất về với làng quê. Ở đây nhà thơ không miêu tả cụ thể về công việc đánh bắt cá, nhưng người đọc có thể liên tưởng được những giây phút lao động không mệt mỏi để đạt nên thành quả to lớn này.

Sau chuyến ra khơi là hình ảnh con thuyền và con người trở về trong ngơi nghỉ:

Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm
Chiếc thuyền im bến mỏi trở về năm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.

Những câu thơ với lối tả thực, hình ảnh “làn da ngăm rám nắng” – một đặc trưng của người đân làng chài để lại dấu ấn vô cùng sâu sắc. Ngay câu thơ sau lại là một cảm nhận vô cùng lãng mạn. Thân hình vạm vỡ của người dân chài thấm đẫm hơi thở của biển cả nồng mặn vị muối của đại dương bao la. Cái độc đáo của câu thơ là gợi cả linh hồn và tầm vóc của con người biển cả

Nhà thơ không chỉ thấy con thuyền nằm im trên bến mà còn thấy cả sự mệt mỏi của nó. Cũng như dân chài, con thuyền có vị mặn của nước biển, con thuyền như đang lắng nghe chất muối của đại dương đang thấm trong từng thớ vỏ của nó. Thuyền trở nên có hồn hơn, nó không còn là một vật vô tri vô giác nữa mà đã trở thành người bạn của ngư dân

Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ
Màu nước xanh, cá bạc, chiếc thuyền vôi
Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá

Khổ thơ cuối với sự yêu thương, nỗi nhớ quê hương da diết của nhà thơ. Với những từ ngữ ẩn chứa yêu thương, từ đó ta có thể nhận ra rằng quê hương luôn nằm trong tiềm thức nhà thơ, quê hương luôn hiện hình trong từng suy nghĩ, từng dòng cảm xúc. Nối nhớ quê hương thiết tha bật ra thành những lời nói vô cùng giản dị: “Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá”. Quê hương là mùi biển mặn nồng, quê hương là con nước xanh, là màu cá bạc, là cánh buồm vôi

Bài thơ quê hương vẽ lên bức tranh làng quê nghề chài vô cùng sinh động, vui tươi. Dù mệt nhọc, dãi nắng dầm sương nhưng nhận được thành quả lao động ai cũng vô cùng vui vẻ. Bài thơ thể hiện tình yêu quê hương, nỗi nhớ quê hương da diết của nhà thơ Tế Hanh.