Bài thơ Thế Lữ ta cảm nhận được một niềm khát khao được tự do. Thông qua hình tượng con hổ tác giả đã thể hiện sự u uất của một thế hệ thanh niên lúc bấy giờ. Họ ngột ngạt, tù túng và khát khao tự do. Và đây cũng chính là tâm trạng chung của cả một thế hệ người dân lúc bấy giờ.

Hoàn cảnh sáng tác

Bài thơ Nhớ rừng được sáng tác vào năm 1934, sau đó được in trong tập Mấy vần thơ 1935. Với bài thơ này tác giả đã mượn lời con hổ để thể hiện nỗi căm hờn và cũng chính là sự khát khao của con người ta về tự do. Và abfi thơ này cũng đã nâng Thế Lữ lên một tầm cao mới trong phong trào Thơ mới. Ở thơ ông ta cảm nhận được một hồn thơ với cảm xúc rộng mở, nồng nàn và say đắm thiết tha.

Bài thơ Nhớ rừng

(Lời con hổ ở vườn Bách thú)
Tặng Nguyễn Tường Tam

1.

Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt,
Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua.
Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ,
Giương mắt bé diễu oai linh rừng thẳm,
Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm,
Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi.
Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi,
Với cặp báo chuồng bên vô tư lự.

Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ,
Thủa tung hoành hống hách những ngày xưa.
Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,
Với khi thét khúc trường ca dữ dội,
Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng,
Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng,
Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc.
Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc,
Là khiến cho mọi vật đều im hơi.
Ta biết ta chúa tể của muôn loài,
Giữa chốn thảo hoa không tên, không tuổi.

 

2.

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối,
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn,
Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới?
Đâu những bình minh cây xanh nắng gội,
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng.
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt,
Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?
– Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?

3.

Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu,
Ghét những cảnh không đời nào thay đổi,
Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối:
Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng;
Dải nước đen giả suối, chẳng thông dòng
Len dưới nách những mô gò thấp kém;
Dăm vừng lá hiền lành, không bí hiểm,
Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu
Của chốn ngàn năm cao cả, âm u.

Hỡi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ!
Là nơi giống hùm thiêng ta ngự trị.
Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa,
Nơi ta không còn được thấy bao giờ!
Có biết chăng trong những ngày ngao ngán,
Ta đương theo giấc mộng ngàn to lớn
Để hồn ta phảng phất được gần ngươi,
– Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!

Khát khao được tự do thông qua bài thơ Nhớ rừng

Bài thơ Nhớ rừng chính là một trong những sáng tác tiêu biểu cho chùm thơ ca viết về đề tài đất nước. Cũng như nhiều nhà thơ khác trong phong trào Thơ mới, họ thường gửi gắm tâm sự, tâm tình của mình tỏng từng vần thơ. Và với Thế Lữ ông đã thể hiện lòng yêu nước thông qua 3 phần của bài thơ Nhớ rừng:

  • Phần 1: Đoạn 1 và đoạn 4: Cảnh con hổ bị nhốt trong vườn Bách Thú
  • Phần 2: Đoạn 2 và đoạn 3: Nhớ một thời đã xa.
  • Phần 3: Niềm khát khao tự do mãnh liệt

Hình tượng con hổ bị giam trong “ngục tù”

Điều đau khổ chúa sơn lâm chính là nó bị tầm thường hóa, bị xuống cấp khi phải xếp ngang hàng với bọn dở hơi. Đó cũng chính là một vấn đề đầy tính bi kịch khi chúa sơn lâm bị sa cơ, thất thế. Và đó cũng chính là hoàn cảnh đất nước ta lúc bấy giờ khi đang phải chịu xiềng xích nô lệ và phải sống trong những năm tháng lầm than.

Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt,
Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua.
Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ,
Giương mắt bé diễu oai linh rừng thẳm,
Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm,
Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi.
Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi,
Với cặp báo chuồng bên vô tư lự.

Chính thời buổi sa cơ đã làm chú hổ ôm niềm uất hận ngàn thâu. Đó là những thói đời giả dối, là những cảnh vật thấp kém và tầm thường. Bởi đó không phải là khung cảnh của núi rừng hoang vu mà nơi chú từng nghị trị. Qua đó cũng ám chỉ xã hội đương thời và tỏ rõ tâm trạng chán ghét.

 

Nhớ một thời đã xa

Tuy nhiên ở hoàn cảnh đó vẫn thể hiện được sự cao cả, tầm vóc của con người ta khi trong bài thơ tác giả để con hổ xưng “ta”. Đó là nỗi nhớ của chúa sơn lâm. Nỗi nhớ ấy thường trực cả ngày mưa hay ngày nắng, cả sớm chiều, cả khi ngủ hay khi thức. Tác giả đã rất thành công trong việc khắc họa lên một không gian nghệ thuật trong thơ.

Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ,
Thủa tung hoành hống hách những ngày xưa.
Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,
Với khi thét khúc trường ca dữ dội,
Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng,
Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng,
Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc.
Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc,
Là khiến cho mọi vật đều im hơi.
Ta biết ta chúa tể của muôn loài,
Giữa chốn thảo hoa không tên, không tuổi.

Điệp từ nhớ được lặp lại như để thể hiện khát khao mong muốn được trở về thời huy hoàng. Đó là khung cảnh thiên nhiên vô cùng thơ mộng: là cây cao, là bóng cả, là tiếng gió… Qua đó khắc họa thành công hình ảnh của chú hổ với vẻ oai phong lẫm liệt.

Niềm khát khao tự do mãnh liệt

Trong hoàn cảnh ấy tác giả thể hiện một nỗi chán ghét thực tại và mong muốn được trở lại cuốc sống ngày xưa. Đó là một thế giới rừng sâu thăm thẳm. Và cũng qua đó mà gửi gắm một lời nhắn thiết tha và sự tự hào về những ngày tháng tươi đẹp, thỏa chí vẫy vùng. Cho dù bây giờ không còn được sống lại ngày xưa ấy nhưng cũng không quên nỗi nhớ về giấc mộng đại ngàn xa xôi. Đó cũng là tinh thần chung của phong trào thơ mới về một khát khao được là chính mình.

Để hồn ta phảng phất được gần ngươi,
– Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!

Bài thơ Nhớ rừng giúp ta gợi lên những cảm xúc được cất giữ trong hoàn cảnh đất nước lầm than. Và qua đó chính là niềm khao khát tự do và được giải thoát khỏi xiềng xích nô lệ. Chính hình ảnh chúa sơn lâm bị sa cơ cũng chính là hoàn cảnh nước ta lúc bấy giờ. Qua đó thể hiện một lời nhắn gửi tha thiết về tình yêu thương đất nước và cũng là khát khao tự do.