là một trong những bài thơ nổi tiếng của nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, thuộc sách ngữ văn lớp 10. Cùng chúng tôi phân tích nội dung của bài thơ Nhàn cũng như cảm nhận về bài thơ để giúp các em học sinh hiểu hơn về hoàn cảnh sáng tác, bài học rút ra từ bài thơ Nhàn của nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm nhé.

I. Đôi nét về nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491–1585) là một trong những nhà thơ nổi tiếng của nền văn học Việt Nam thời cận đại. Ông được mệnh danh là “cây đại thụ văn hóa dân tộc” của thế kỉ 16. Những tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm có tầm ảnh hưởng đến quá tình phát triển của nền văn học Việt Nam.

Ông là người có học vấn uyên thâm ,là nhà thơ lớn của dân tộc . Thơ của ông mang đậm chất triết lí giáo huấn , ngợi ca chí khí của kẻ sĩ ,thú thanh nhàn , đồng thời cũng phê phán những điều sống trong xã hội

II. Đôi nét về tác phẩm “Nhàn” – Nguyễn Bỉnh Khiêm

1. Hoàn cảnh sáng tác

Tác phẩm “Nhàn” là một trong những tác phẩm nổi tiếng của nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nhàn là một bài thơ Nôm số 73 thuộc quyển Bạch Vân quốc ngữu thi. Tiêu đề ” Nhàn” được người đời sau đặt.

2. Chia bố cục bài thơ

Bài thơ Nhàn được chia bố cục thành 4 phần.

  • Phần 1: gồm 2 câu đầu: Phần 1 (hai câu đề): Hoàn cảnh sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm
  • Phần 2: gồm hai câu tiếp: Quan niệm sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
  • Phần 3: gồm hai câu luận: Cuộc sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm ở chốn quê nhà.
  • Phần 4: gồm hai câu kết: Triết lí sống nhàn.

3. Phân tích bài thơ

Bài thơ Nhàn với nội dung ca ngợi niềm vui trong cảnh sống thanh nhành. Qua đó có thể thấy sự chân chính, thanh cao và sự mộc mạc giản dị của làng quê Việt.

Một mai một cuốc , một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào
Ta dại , ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người dến chốn lao xao
Thu ăn năng trúc đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao
Rượu đến cội cay ta sẽ uống
Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao.”

3.1 Hai câu đầu

“ Một mai , một cuốc, một cần câu
Thơ thẫn dầu ai vui thú nào…..”

Hai câu thơ mở đầu trong bài thơ Nhà nhà thơ nhằm khắc họa một hình ảnh ông lão nông dân sống một cuộc sống vô cùng thảnh thơi và an nhàn. Trong đó tác giả sử dụng điệp từ ” một” thể hiện sự cứng cỏi, chắc chắn, kiên định, sẵn sàng nhưng bước đi vẫn bộc lộ sự an nhàn của tác giả, vừa đi vừa đếm.

Tiếp đến là sử dụng từ láy “thơ thẩn” trong câu thơ thứ hai khắc họa nên một dáng vẻ của 1 người đang ngồi ung dung chậm rãi và khoan thai. Từ 2 câu thơ ta có thể thấy cuộc đời của nhà thơ vô cùng bình dị và chân chất đó là lúc về quê ở ẩn. Và từ “ vui thứ nào” cũng 1 lần nữa nói lên đề tài của bài thơ là về cảnh nhàn dẫu cho ai có ban chen vòng danh lợi nhưng tác giả vẫn thư thái . Hai câu thơ đầu đã không chỉ giới thiệu được đề tài mà còn khắc họa tư thái ung dung nhàn hạ , tâm trang thoải mái nhẹ nhàng vui thú điền viên.

3.2. Hai câu thơ thực: Quan niệm sống của nhà thơ

“….. Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người đến chốn lao xao……”

Hai câu thơ thực trong bài thơ Nhàn là miêu tả cuộc sống của nhà thơ. Nhà thơ sử dụng các từ đối nhau như “ta” và “người” “dại” và “khôn”, “nơi vắng vẻ” và “chốn lao xao”. Sử dụng những từ ngữ đối lập, thể hiện quan niệm sống của tác giả. Ông luôn muốn tìm sống đến những nơi yên tĩnh, vắng vẻ những nơi miền quê để an nhàn không thích chốn lao xao ở quan trường nhiều mưu mẹo, toan tính.

3.3. Hai câu thơ luậnCuộc sống ở chốn quê nhà

“ ….. Thu ăn măng trúc đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao………”

Hai câu thơ sử dụng những từ ngữ liệt kê những đồ ăn có sẵn trong tự nhiên. Đó là mùa thu ăn mắc trúc, mùa đông thì ăn giá đỗ. Đây là những loại thức ăn có sẵn trong tự nhiên, mùa nào thức nấy.

Câu thơ “ xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao” gợi cho ta cuộc sống sinh hoạt nơi dân dã .Qua đó ta có thể cảm nhận được tác giả đã sống rất thanh thản , hòa hợp với thiên nhiên tận hưởng mọi vẻ đẹp vốn có của đất trời mà không bon chen , tranh giành

Qua 2 câu thơ trên ta cảm nhận được rằng, nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà thơ thanh cao, ưa thích lối sống dân dã, mộc mạc nơi quê nhà.

3.4 Hai câu thơ kết – Triết lý sống nhà của tác giả

“……. Rượu đến cội cây ta sẽ uống
Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao.”

Hai câu thơ kết là sự thể hiện sự thức tỉnh, tự cảnh tỉnh mình và đời, khuyên mọi người nên xem nhẹ vinh hoa phù phiếm. Cụm từ” nhìn xem” là biểu hiện của một thế đứng thanh cao, dường như đã tiên liệu ngay từ khi chọn lối sống của một người tự cho mình là “dại”.

Cách ngắt nhịp 2/5 ở câu thơ cuối gợi cảm nhận phú quý chỉ là một giấc chiêm bao, một giấc mơ mà thôi. Hai câu thơ cuối miêu tả cuộc sống ung dung tự tại, thích cuộc sống hòa hợp với thiên nhiên, thích hưởng thụ cuộc sống ” Nhàn” như tiêu đề của bài thơ.

III. Kết luận

Bài thơ Nhàn là một bài thơ nôm, với việc sử dụng những từ ngữ giản dị nhưng chứa đựng những triết lý sâu sắc, với cách sử dụng từ ngữ đối lập tạo nên sự khác nhau về hai phương diện cuộc sống ở chốn quan trường và cuộc sống dân dã nơi làn quê. Hơn hết là thể hiện tâm hồn thanh cao của nhà thơ, không ham danh lợi, giàu sang, thích được đắm mình trong những thú vui điền viên nơi làng quê.