Bà huyện Thanh Quan – Nữ thi sĩ nổi tiếng của làng văn học Việt Nam



Khái quát về tác giả cùng sự nghiệp của nhà thơ để độc giả yêu thích nhà thơ Bà Huyện Thanh Quan có thể hiểu chi tiết về cuộc đời nữ thi sữ thời Nguyễn. Với nhiều tác phẩm thơ ca đi vào lòng người. Với sở trường Thơ Nôm, thể thơ bát cú Đường luật với nhiều âm hưởng mang đến những tâm trạng u uất, phẫn nộ, tiếc nuối…trước sự thay đổi của thời cuộc.

Đôi nét về tác giả bà Huyện Thanh Quan

Bà Huyện Thanh Quan tên thật là Nguyễn Thị Hinh là một nữ thi sĩ nổi tiếng của văn học Việt nam trong giai đoạn cận đại. Những Bài thơ của bà với nhiều âm điệu, giàu sức tưởng tượng mang đến cho người đọc những áng thơ vô cùng ý nghĩa.

Với sở trường Thơ Nôm, thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, những tác phẩm thơ của bà thể hiện sự yêu mến đối với thiên nhiên, tâm trạng sầu uất, ai oán trước sự đổi thay của thời cuộc.

Cha bà là Nguyễn Lý (1755-1837), đỗ thủ khoa năm 1783, đời vua Lê Hiển Tông. Bà là vợ của ông Lưu Nghị, ông từng làm tri huyện Thanh Quan nên người ta thường gọi bà là Bà Huyện Thanh Quan. Bà sinh được 4 người con. Sau này khi chồng mất bà cùng 4 người con sinh sống ở phố Nghi Tàm cho đến hết cuộc đời.

Dưới thời vua Minh Mạng, bà Huyện Thanh Quan từng được mời vào kinh giữ chức Cung Trung Giáo Tập để dạy học cho các công chúa và cung phi trong cung.

Sự nghiệp sáng tác của bà Huyện Thanh Quan

Sự nghiệp sáng tác thơ văn của bà huyện Thanh Quan tuy không nhiều, nhưng những bài thơ của bà được giới văn học nghệ thuật đánh giá cao. Bà Huyện Thanh Quan xếp hạng nổi tiếng thứ 598 trên thế giới và thứ 1 trong danh sách Nhà thơ nổi tiếng.

Tác phẩm nổi tiếng của bà huyện Thanh Quan:

  1. Buổi chiều lữ thứ
  2. Cảnh Hương Sơn
  3. Chiều hôm nhớ nhà
  4. Chùa Trấn Bắc
  5. Qua đèo Ngang
  6. Song nữ tế tế thái thuỷ văn
  7. Thăng Long hoài cổ
  8. Tức cảnh chiều thu

Buổi chiều lữ thứ

Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn,
Tiếng ốc xa đưa lẩn trống đồn.
Gác mái, ngư ông về viễn phố,
Gõ sừng, mục tử lại cô thôn.
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi,
Dặm liễu sương sa khách bước dồn.
Kẻ chốn trang đài, người lữ thứ,
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?

Cảnh Hương Sơn

Đệ nhất nam thiên ấy cảnh này,
Thuyền nan đón khách máy chèo lay.
Hai bên quả núi lồng hương suối,
Bốn mặt hoa ngàn rủ bóng cây.
Cửa Phật lơ thơ tầng đá dãy,
Chùa tiên bát ngát khói hương bay.
“Nam vô” tiếng dậy thưa trần tục,
Non nước Bồng Lai mới thấy đây!

Chiều hôm nhớ nhà

Vàng toả non tây, bóng ác tà,
Đầm đầm ngọn cỏ, tuyết phun hoa.
Ngàn mai lác đác, chim về tổ,
Dặm liễu bâng khuâng, khách nhớ nhà.
Còi mục thét trăng miền khoáng dã,
Chài ngư tung gió bãi bình sa.
Lòng quê một bước nhường ngao ngán,
Mấy kẻ tình chung có thấu là?

Chùa Trấn Bắc

Trấn Bắc hành cung cỏ dãi dầu
Khách đi qua đó chạnh niềm đau
Mấy toà sen rót mùi hương ngự
Năm thức mây phong nếp áo chầu
Sóng lớp phế hưng coi đã rộn
Chuông hồi kim cổ lắng càng mau
Người xưa, cảnh cũ, nào đâu tá?
Khéo ngẩn ngơ thay lũ trọc đầu!

Qua đèo Ngang

Bước tới đèo Ngang bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
Lom khom dưới núi tiều vài chú,
Lác đác bên sông rợ mấy nhà.
Nhớ nước, đau lòng con cuốc cuốc,
Thương nhà, mỏi miệng cái da da.
Dừng chân đứng lại: trời, non, nước,
Một mảnh tình riêng, ta với ta.

Song nữ tế tế thái thuỷ văn

Trước sàng linh khóc mà than rằng:
Kỳ trăm năm chưa mãn, mẹ vội lên cõi Phật chẳng nhìn con,
Ơn chín chữ khôn đền, con tìm khắp dưới trời không thấy mẹ.

Mẹ lìa! Mẹ ơi!
… con, tình thảm thiết, sao đành,
Con nhớ mẹ, nỗi sau xưa, xiết kể.

Duyên tác hợp, lạm nghe mười chín tuổi, rổ tần phồn từng theo dấu mẹ đi.
Mối sinh thành đã hầu bảy tám lần, sân chi diệp lại ví dòng Tạ thị.

Thúi từ nhân đà nức tiếng nghi gia,
Đường thanh lịch cũng đủ mùi thù thế.

Ngoài ba kỷ chưa vẹn nguyền giai lão, buồng hung từng gió tủi mưa sầu,
Năm mươi năm chưa trọn kiếp phù sinh, chồi liễu bỗng sương giăng nắng xế.

Ôi!
Lá rụng ngàn xuân,
Mây lồng đỉnh dãy.

Trên tiên cảnh chợt mách tin, thanh điểu rước cùng đi cho vẹn nghĩa tao khang,
Dưới trần hoàn dầu cưu dạ từ ô tìm đâu thấy để đền ơn non bể.

Núm đồng nghiêng, dễ cấm tiếng chuông rè,
Chùm quả nặng, khôn nâng cành lá ủ.

Song cũng biết một trai là có, nhưng đà mây bay hạc lánh, thừa điêu phải cậy tôn hàng,
Đã hay mười gái cũng là không, khôn biết quả mãn thuyền đầy, tương sự chỉ nhờ tay nữ tế.

Rày:
Nhân tiết hạ thiên,
Lâm tuần đoan ngọ.

Gọi là bát nước điển hương, lòng thành kính dãi bày trong ngu tế.

Thăng Long hoài cổ

Tạo hoá gây chi cuộc hý trường,
Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương.
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,
Nước còn chau mặt với tang thương.
Nghìn năm gương cũ soi kim cổ,
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.

Tức cảnh chiều thu

Thánh thót tàu tiêu mấy hạt mưa,
Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ.
Xanh om cổ thụ tròn xoe tán,
Trắng xoá trường giang phẳng lặng tờ.
Bầu dốc giang sơn, say chấp rượu,
Túi lưng phong nguyệt, nặng vì thơ.
Cho hay cảnh cũng ưa người nhỉ,
Thấy cảnh ai mà chẳng ngẩn ngơ.

Bà huyện Thanh Quan là một trong những nữ thi sĩ nổi tiếng của nền văn học Việt Nam thời cận đại, Mỗi áng thơ của bà là một bức tranh sinh đọng với vẻ đẹp cổ điển làm cho bao tâm hồn xuyến xang. Chỉ với một số ít bài thơ được lưu lại, bà huyện Thanh Quan là nhà thơ bất hủ của nền văn học nước nhà.

so1vn - Tags: ,